Một số giải pháp tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển kinh tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010 - Pdf 24

A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự CNH-HDH đất nước trong thời kỳ đổi mới. Các đô thị
lớn và nhỏ trong cả nước đang vươn lên chứng tỏ vai trò của mình. Mục tiêu
đến năm 2010 nước ta cơ bản sẽ là nước công nghiệp. Vì thế để thực hiện
được mục tiêu này thì quá trình CNH-HĐH ở các đô thị phải được ưu tiên
hàng đầu. Nhưng nguồn thu cho sự phát triển đó được lấy ở đâu? Đây đang
là bài toán nan giải cho các nhà quản lý đô thị nói chung và cho chính quyền
từng thành phố nói riêng.
Nguồn thu trên giác độ kinh tế- xã hội có vai trò rất quan trọng cho sự
phát triển ở đô thị. Về bản chất hoạt động thu là sự vận động của các nguồn
tiền tệ gắn với sự hình thành và các quỹ tiền tệ đó.
Thành phố Thanh Hoá sau 10 năm phát triển bây giờ là một đô thị loại
2. Trong 10 năm ấy đã thu được nhiều kết quả khả quan, Thành phố đang
dần hoàn chỉnh các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch khu Đông Bắc Ga, khu
nhà ở cho những hộ gia đình có thu nhập thấp, nâng cao đời sống cho người
dân…Thành phố có 12 phường và 6 xã với số dân là 286.848 người, mật độ
dân số nội thành là 17.188 n/km
2
(2003)
Nguồn thu ngân sách năm 2004 là 162.704200 (1000đ) và dự kiến
năm 2005 là 210.961 triệu đồng. Như vậy nguồn thu ngân sách có vai trò rất
quan trọng cho sự phát triển của Thành phố. Là sinh viên Khoa Kinh Tế &
Quản Lý Môi Trường - Đô Thị khoá 43 và là một người dân Thanh Hoá.
Nên tôi muốn tìm hiểu về Thành phố mình ở_ nơi tôi đã lớn lên. Tôi mạnh
dạn chọn đề tài
“ Một số giải pháp tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển
kinh tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010”
Tôi rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của Th.s Lê Thăng Long và
các bạn trong lớp để tôi hoàn thành chuyên đề thực tập rất quan trọng này.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 1

quốc gia có thể được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau trong quá trình quản
lý. Về mặt bản chất, hoạt động tài chính là sự vận động của các nguồn tiền tệ
gắn với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. Mỗi quỹ tiền tệ
có một chủ thể quản lý tương ứng, các quỹ có quan hệ với nhau tạo thành các
khâu của hệ thống. Theo sơ đồ 1, hệ thống tài chính quốc gia bao gồm các
khâu: Ngân sách, tài chính doanh nghiệp, tài chính các hộ gia đình, tài chính
các tổ chức xã hội, tài chính đối ngoại, tài chính tín dụng, tài chính bảo hiểm,
tài chính trung gian (các doanh nghiệp ngân hàng tín dụng).
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà
nước( chủ thể quản lý là nhà nước) được tập trung từ các nguồn khác nhau
và được sử dụng để chi tiêu thực hiện các chức năng của nhà nước ở các cấp
chính quyền khác nhau.
Mục tiêu hoạt động của tài chính đô thị là tăng nguồn thu, sử dụng hợp
lý các nguồn thu để chi tiêu duy trì các hoạt động thường xuyên và kích thích
phát triển kinh tế, dịch vụ, văn hoá giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ sức
khoẻ….
Tài chính doanh nghiệp là các nguồn lực tài chính gắn với sản xuất
của các doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức vốn và các quỹ chuyên dùng,
chủ doanh nghiệp là chủ thể thực hiện mục đích của doanh nghiệp. Tài chính
các hộ gia đình và các tổ chức xã hội là các quỹ được hình thành từ các
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 3
nguồn thu nhập khác nhau được sử dụng cho các mục đích tiêu dùng và tích
luỹ.
Sơ đồ 1: Hệ thống tài chính quốc gia
Tài chính đối ngoại là những nguồn tài chính hình thành do quan hệ
giữa các cá nhân, tổ chức trong quan hệ trong nước với nước ngoài. Tài
chính đối ngoại hình thành hình thành một cách tương đối độc lập, tồn tại
dưới các hình thức viện trợ, cho vay, liên doanh… và được xem như một
trong số các nguồn tài chính khác.
Các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, công ty

quyền: Tài chính tỉnh, thành phố, tài chính quận, huyện, phường, xã. Chủ thể
quản lý tài chính của tất cả các cấp là Bộ Tài chính, Sở Tài chính (các tỉnh,
thành phố), phòng tài chính các quận huyện, ban tài chính phường, xã. Thể
hiện tập trung nhất trong khâu ngân sách chính quyền các cấp. Các khoản thu
chi ngân sách của chính quyền các cấp. Các khoản thu chi ngân sách của
chính quyền các cấp được hình thành trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước
năm 1998 và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội các địa phương có định
hướng của Nhà nước.
Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo 3 nguyên tắc sau:
- Ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương
được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi một cách cụ thể.
- Thực hiện việc phân bổ hợp lý từ ngân sách cấp trên cho ngân sách
cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa
phương. Số bổ sung này là khoản thu ngân sách của cấp dưới.
- Không dùng ngân sách của cấp này để chu cho nhiệm vụ của cấp
khác, trừ trường hợp đặc biệt của chính phủ hoặc sự uỷ quyền của cơ quan
quản lý Nhà nước cấp trên cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện
nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân
sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ chi đó.
1.2. Hệ thống tài chính đô thị.
a. Khái niệm và nội dung
Hệ thống tài chính của các đô thị là một bộ phận cấu thành của hệ
thống tài chính của cả nước. Hiện nay Nhà nước chưa phân định rõ luồng tài
chính- ngân sách đô thị và nông thôn do vậy ngân sách và tài chính đô thị
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 5
chưa có cơ chế chính sách, cơ chế quản lý riêng mà vẫn áp dụng cơ chế
chính sách tài chính chung trong cả nước
Ngân sách đô thị là một bộ phận của ngân sách địa phương và phụ
thuộc vào ngân sách địa phương. Để phát triển và quản lý đô thị, tăng cường
ngân sách địa phương là cần thiết và tất yếu. Trong phân tích kinh tế, có thể

nước trên thế giới và ở Việt Nam.
Các nước trên thế giới: Các nước phát triển thì nền tài chính đô thị giữ
vị trí quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia. Chính quyền đô thị có vai
trò tự chủ trong việc quản lý riêng biệt nền tài chính đó. Tức là chính quyền
thành phố đó ngoài việc tuân theo những quy định pháp luật của nhà nước thì
họ có quyền đưa ra những quy định riêng của thành phố trong việc tăng
nguồn thu cho ngân sách. Vì thế nền tài chính của họ tạo thành một hệ thống
hoàn chỉnh. Ngoài ra các đô thị đó có chính sách rất thông thoáng trong việc
tăng nguồn thu từ các khoản thuế. Họ không đề cao tăng nguồn thu từ thuế
mà tăng nguồn thu từ các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, vệ sinh môi
trường, văn hóa, du lịch bằng cách cho tư nhân tham gia. Các nguồn thu đó
mang lại cho phát triển đô thị của họ đang sống. Tạo ấn tượng tốt cho người
dân đô thị và người nước ngoài. Ví dụ như Trung Quốc- Một nước cùng đi
theo con đường XHCN giống Việt Nam. Nhưng họ lại phát triển kinh tế theo
hướng đi riêng của họ, tiếp thu những cái mới, cái tốt của các nước đã phát
triển áp dụng cho sự phát triển của mình. Các đặc khu kinh tế là một ví dụ
điển hình, có nền tài chính rất lớn và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, thu hút lượng
lớn nguồn đầu tư từ nước ngoài... Các đặc khu ấy được ví như một nhà nước
riêng biệt.
Ở Việt Nam, tài chính đô thị cũng có vai trò quan trọng trong công
cuộc CNH- HĐH đất nước. Nguồn tài chính này chiếm 60% tổng thu ngân
sách Nhà nước. Tuy nhiên trong hệ thống tài chính quốc gia chưa hình thành
hệ thống tài chính đô thị được quản lý riêng biệt. Tài chính đô thị là bộ phận
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 7
quan trọng của hệ thống tài chính quốc gia. Nền tài chính của các thành phố
rất nhỏ so với nhu cầu của sự phát triển, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng.
Những vấn đề đặt ra đối với hệ thống tài chính đô thị Việt Nam đó là:
• Xác định rõ hệ thống, tầm quan trọng của từng khâu trong hệ
thống, cơ chế hoạt động, những yếu kém trong cơ chế, nguyên
nhân, cách khắc phục.

chéo nhau.
Ngoài các thành phố Trung ương như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh, Hải Phòng, Đà nẵng, Cần Thơ có những nguồn tài chính tương
đối vững mạnh. Còn các đô thị loại II, III, IV,V thì ngân sách nhỏ, không tự
chủ được nguồn tài chính mà chủ yếu vẫn là các nguồn tài chính từ ngân
sách Trung ương cấp. Là nước XHCN nên chúng ta phát triển kinh tế gắn
liền với công bằng xã hội. Tức là chúng ta phát triển hài hoà các yếu tố với
nhau. Vì vậy nguồn tài chính các đô thị nói chung ở Việt Nam chưa được
quan tâm đúng mức với vai trò của nó. Hy vọng trong một tương lai không
xa các cấp chính quyền nhận thức và thực hiện các chính sách để tăng nguồn
thu của đô thị. Chú trọng đến việc xây dựng và nuôi dưỡng các nguồn thu.
Như vậy chính quyền đô thị mới thể hiện được vai trò rất quan trọng của
mình.
II. Quan hệ của các cấp chính quyền qua hệ thống tài chính
Vai trò và trách nhiệm của các cấp chính quyền đô thị diễn ra trong
phạm vi nền tài chính quốc gia và trên địa bàn đô thị họ quản lý. Tài chính
của mỗi cấp thể hiện sức mạnh quyền hạn, trách nhiệm của cấp đó trong bộ
máy quản lý đô thị. Những mối quan hệ cơ bản về tài chính nảy sinh trên cơ
sở công việc và điều kiện tài chính bao gồm:
- Phân chia trách nhiệm: Ai làm gì? ai chi khoản gì? thực chất là sự
phân quyền mà các cấp chính quyền luôn đòi hỏi sự công bằng và chính xác.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 9
- Phân chia nguồn thu: Ai nhận nguồn vốn nào? Phải làm gì khi thu
chi không cân bằng? Là những điều kiện cơ bản để các cấp chính quyền thực
hiện nhiệm vụ của mình.
Bình đẳng trong vay mượn và hỗ trợ cung cấp các dịch vụ của Chính
phủ: Tài chính liên cấp. Chính quyền đô thị vừa là người điều tiết vừa là
người cung cấp các dịch vụ trong phạm vi đô thị của mình;
Những loại dịch vụ cấp thành phố cung cấp bao gồm: Đường sá đô thị
duy tu bảo dưỡng đường sá, chiếu sáng đô thị, vệ sinh môi trường, giao

cho ai, bao nhiêu và chất lượng thế nào?
Chính quyền đô thị phải cung cấp các dịch vụ có tính xã hội mà các doanh
nghiệp tư nhân không muốn cung cấp như y tế cộng động, giáo dục công,
văn hoá xã hội, trật tự an toàn xã hội...
IV. Các nội dung thu của ngân sách đô thị từ trong nước
4.1. Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ngân sách đô thị, hay ngân sách của thành phố, thị xã, thị trấn, được
hình thành theo luật ngân sách Nhà nước năm 1998. Cũng giống như ngân
sách các địa phương, ngân sách đô thị hình thành dựa vào nhiệm vụ quản lý
Nhà nước về hành chính kinh tế, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trên chế
độ định mức chi tiêu và chính sách để lại nguồn thu cho các đô thị để thiết
lập và chấp hành ngân sách. Các nguồn thu của ngân sách cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương bao gồm:
• Các khoản thu được giữ lại 100%:
- Tiền thuê chênh lệch giá đất
- Tền thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước
- Lệ phí trước bạ phát sinh trên địa bàn quận, huyện không
kể lệ phí trước bạ nhà đất
- Thu tiền từ hoạt động sổ xố kiến thiết
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 11
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước
ngoài trực tiếp cho tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật.
- Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu nhập khác nộp
vào ngân sách tỉnh theo quy định của chính phủ
- Các khoản huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của chính
phủ(các loại quỹ phát triển nhà ở)
- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh, thành phố
- Thu kết dư ngân sách ngân sách cấp tỉnh, thành phố

nước.
- Thuế môn bài: Không gồm thuế môn bài thu từ các hộ gia đình, các
nhà kinh doanh nhỏ ở thị trấn, xã.
- Thuế sát sinh: Thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc trên địa bàn.
- Lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh quản lý.
- Thu kết dư ngân sách cấp thành phố: Đó là những khoản chi còn dư
được tổng kết vào cuối năm.
- Bổ sung từ ngân sách tỉnh: Là những khoản trợ cấp ngân sách tỉnh cho
thành phố, thị xã, huyện, xã.
- Các khoản thu khác theo quy định của nhà nước: Thuế tắc nghẽn giao
thông, thuế ô nhiễm môi trường… cũng là những nguồn thu quan trọng,
đồng thời góp phần khắc phục các vấn đề về giao thông và cải thiện môi
trường.
* Các khoản thu phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách tỉnh và
ngân sách thành phố thuộc tỉnh.
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất: Là chênh lệch giá của đất trong quá
trình chuyển quyền sử dụng. Thuế có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng
đất, nên người sử dụng phải cân nhắc khi chuyển quyền sử dụng đất.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 13
- Thuế đất ở: đất xây dựng các công trình sử dụng vào các mục đích phi
nông nghiệp. Căn cứ để tính thuế là diện tích và khả năng thu nhập của các
công trình. Nếu đất đô thị chỉ để ở thì đất phụ thuộc vào vị trí từng loại phố,
tuỳ loại đô thị, thuế đất ở đô thị cao hơn thuế đất nông nghiệp từ 2 đến 32
lần. Đất ven đô, ven trục giao thông chính có mức thuế cao hơn từ 1,5 đến
2,5 lần thuế đất nông nghiệp vào loại cao nhất trong vùng.
- Tiền thuê đất: Là khoản thu điều tiết vào thu nhập do sử dụng đất
mang lại. Tiền thuê đất phải lớn hơn thuế đất một khoản bằng lợi nhuận của
người có tài sản cho thuê. Các đơn vị không được nhà nước giao đất phải đi
thuê đất để xây dựng nhà xưởng để hoạt động.

Trợ cấp của chính phủ cho các công trình của địa phương như trợ cấp
giáo dục, phúc lợi xã hội, nhà ở và phương tiện công cộng, đường giao
thông, bệnh viện, y tế… là những nguồn tài chính quan trọng cho đô thị.
* Nguồn thu ngân sách từ trong nhân dân
Nguồn thu từ trong nhân dân có vai trò cũng rất quan trọng cho sự
phát triển đô thị, huy động được lượng tiền nhàn rỗi trong nhân dân sẽ rất tốt
cho sự phát triển đô thị. Chính quyền đô thị nên tạo ra nhiều dịch vụ mới để
thu hút nhân dân tham gia và dựa trên nguyên tắc người được hưởng phải trả
tiền.
V. Nguồn thu từ nước ngoài
Đó là các khoản viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở
nước ngoài trực tiếp cho tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật. Vay
nước ngoài như từ nguồn vốn World Bank, IMF…Các nguồn vốn khác như
ODA, FDI thì chủ yếu đầu tư vào nông thôn, vùng miền núi kinh tế còn gặp
nhiều khó khăn.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 15
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG TĂNG NGUỒN THU NGÂN SÁCH CHO SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHỐ THÀNH HÓA TRONG
GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
I. Giới thiệu về Thành phố Thanh Hoá
Một người pháp tên là Charles Robequin viết lại những quan sát về
thành phố Thanh hoá trong một luận văn tiến sĩ của mình, ông đặc biệt tán
thưởng chất lượng các đồ gốm sành màu tím ngắt hoặc màu da lươn vàng
ươm ở Lò Chum Bến Ngự chất đầy trên các con thuyền mành và thuyền
đinh, mỗi năm có sản lượng 1.500 tấn và xuất khẩu ít nhất 270 tấn ra thị
trường Bắc Bộ.
Thành phố Thanh hoá được biết đến với chiến thắng Hàm Rồng vẻ
vang thể hiện tinh thần chiến đấu quật cường của quân dân Nam Ngạn trong
kháng chiến chống Mĩ. Bây giờ lại rất nổi tiếng bởi là nơi cung ứng hàng

Quảng Hưng và Quảng Thắng là những quỹ đất tiềm năng rộng lớn cho các
khu đô thị mới có quy hoạch hiện đại. Thành phố có khu công nghiệp có
tổng diện tích 180 ha: khu công nghiệp Đình Hương 30 ha, khu công nghiệp
vừa và nhỏ Tây Bắc ga 50 ha, khu công nghiệp Lễ Môn 100 ha. Giá trị Sản
xuất chiếm 34,4% tổng GDP của thành phố.
II. Thực trạng tăng nguồn thu cho sự phát triển của thành phố Thanh
hoá trong giai đoạn 2001- 2005
2.2.1 Vấn đề xây dựng nguồn thu:
Đây không phải là hạn chế riêng của Thành phố Thanh hoá mà còn là
hạn chế của nhiều đô thị khác. Xây dựng nguồn thu là một phạm trù mới
trong quản lý thu ngân sách Nhà nước. Cho nên vấn đề xây dựng và nuôi
dưỡng nguồn thu chưa được các cấp chính quyền Thành phố quan tâm.
Nguồn thu ngân sách chủ yếu là nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản
thu khác. Các cán bộ quản lý chưa nhận thấy được tầm quan trọng khi tạo
nên các nguồn thu mới trên địa bàn Thành phố. Ví dụ như thất thu từ việc
không áp dụng thu thuế xây dựng nhà ở mà chỉ thu lệ phí cấp giấy phép xây
dựng. Mà vô tình làm mất hàng chục tỷ đồng vào ngân sách Nhà nước.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 17

Trích đoạn Tăng cường kiểm tra – giỏm sỏt cụng tỏc thu thuế trờn địa bàn Thành phố Đổi mới và hoàn thiện bộ mỏy chớnh quyền Thành phố Mở rộng quyền thu cho thành phố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status