Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự CNH-HDH đất nước trong thời kỳ đổi mới. Các đô thị
lớn và nhỏ trong cả nước đang vươn lên chứng tỏ vai trò của mình. Mục tiêu
đến năm 2010 nước ta cơ bản sẽ là nước công nghiệp. Vì thế để thực hiện
được mục tiêu này thì quá trình CNH-HĐH ở các đô thị phải được ưu tiên
hàng đầu. Nhưng nguồn thu cho sự phát triển đó được lấy ở đâu? Đây đang
là bài toán nan giải cho các nhà quản lý đô thị nói chung và cho chính quyền
từng thành phố nói riêng.
Nguồn thu trên giác độ kinh tế- xã hội có vai trò rất quan trọng cho sự
phát triển ở đô thị. Về bản chất hoạt động thu là sự vận động của các nguồn
tiền tệ gắn với sự hình thành và các quỹ tiền tệ đó.
Thành phố Thanh Hoá sau 10 năm phát triển bây giờ là một đô thị loại
2. Trong 10 năm ấy đã thu được nhiều kết quả khả quan, Thành phố đang
dần hoàn chỉnh các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch khu Đông Bắc Ga, khu
nhà ở cho những hộ gia đình có thu nhập thấp, nâng cao đời sống cho người
dân…Thành phố có 12 phường và 6 xã với số dân là 286.848 người, mật độ
dân số nội thành là 17.188 n/km
2
(2003)
Nguồn thu ngân sách năm 2004 là 162.704200 (1000đ) và dự kiến
năm 2005 là 210.961 triệu đồng. Như vậy nguồn thu ngân sách có vai trò rất
quan trọng cho sự phát triển của Thành phố. Là sinh viên Khoa Kinh Tế &
Quản Lý Môi Trường - Đô Thị khoá 43 và là một người dân Thanh Hoá.
Nên tôi muốn tìm hiểu về Thành phố mình ở_ nơi tôi đã lớn lên. Tôi mạnh
dạn chọn đề tài
“ Một số giải pháp tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển
kinh tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010”
Tôi rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của Th.s Lê Thăng Long và
các bạn trong lớp để tôi hoàn thành chuyên đề thực tập rất quan trọng này.
a. Trên quan điểm hình thành các quỹ tiền tệ:
Các hoạt động tài chính luôn gắn liền với các hoạt động kinh tế xã hội
đa dạng và phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một hệ thống. Hệ thống tài chính
quốc gia có thể được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau trong quá trình quản
lý. Về mặt bản chất, hoạt động tài chính là sự vận động của các nguồn tiền tệ
gắn với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. Mỗi quỹ tiền tệ
có một chủ thể quản lý tương ứng, các quỹ có quan hệ với nhau tạo thành các
khâu của hệ thống. Theo sơ đồ 1, hệ thống tài chính quốc gia bao gồm các
khâu: Ngân sách, tài chính doanh nghiệp, tài chính các hộ gia đình, tài chính
các tổ chức xã hội, tài chính đối ngoại, tài chính tín dụng, tài chính bảo hiểm,
tài chính trung gian (các doanh nghiệp ngân hàng tín dụng).
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà
nước( chủ thể quản lý là nhà nước) được tập trung từ các nguồn khác nhau
và được sử dụng để chi tiêu thực hiện các chức năng của nhà nước ở các cấp
chính quyền khác nhau.
Mục tiêu hoạt động của tài chính đô thị là tăng nguồn thu, sử dụng hợp
lý các nguồn thu để chi tiêu duy trì các hoạt động thường xuyên và kích thích
phát triển kinh tế, dịch vụ, văn hoá giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ sức
khoẻ….
Tài chính doanh nghiệp là các nguồn lực tài chính gắn với sản xuất
của các doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức vốn và các quỹ chuyên dùng,
chủ doanh nghiệp là chủ thể thực hiện mục đích của doanh nghiệp. Tài chính
các hộ gia đình và các tổ chức xã hội là các quỹ được hình thành từ các
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 3
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
nguồn thu nhập khác nhau được sử dụng cho các mục đích tiêu dùng và tích
luỹ.
Sơ đồ 1: Hệ thống tài chính quốc gia
Tài chính đối ngoại là những nguồn tài chính hình thành do quan hệ
giữa các cá nhân, tổ chức trong quan hệ trong nước với nước ngoài. Tài
b. Trên quan điểm phân cấp quản lý:
Các hoạt động tài chính có thể và cần được nghiên cứu theo các cấp
quản lý khác nhau. Ta có thể dễ dàng thấy sự tồn tại hai cấp hoạt động tài
chính là tài chính Trung ương và tài chính các địa phương. Trong hệ thống
tài chính các địa phương ta thấy sự phân cấp tài chính của các cấp chính
quyền: Tài chính tỉnh, thành phố, tài chính quận, huyện, phường, xã. Chủ thể
quản lý tài chính của tất cả các cấp là Bộ Tài chính, Sở Tài chính (các tỉnh,
thành phố), phòng tài chính các quận huyện, ban tài chính phường, xã. Thể
hiện tập trung nhất trong khâu ngân sách chính quyền các cấp. Các khoản thu
chi ngân sách của chính quyền các cấp. Các khoản thu chi ngân sách của
chính quyền các cấp được hình thành trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước
năm 1998 và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội các địa phương có định
hướng của Nhà nước.
Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo 3 nguyên tắc sau:
- Ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương
được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi một cách cụ thể.
- Thực hiện việc phân bổ hợp lý từ ngân sách cấp trên cho ngân sách
cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa
phương. Số bổ sung này là khoản thu ngân sách của cấp dưới.
- Không dùng ngân sách của cấp này để chu cho nhiệm vụ của cấp
khác, trừ trường hợp đặc biệt của chính phủ hoặc sự uỷ quyền của cơ quan
quản lý Nhà nước cấp trên cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện
nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân
sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ chi đó.
1.2. Hệ thống tài chính đô thị.
a. Khái niệm và nội dung
Hệ thống tài chính của các đô thị là một bộ phận cấu thành của hệ
thống tài chính của cả nước. Hiện nay Nhà nước chưa phân định rõ luồng tài
chính- ngân sách đô thị và nông thôn do vậy ngân sách và tài chính đô thị
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 5
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 6
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Tuy nhiên tài chính đô thị chỉ hoạt động hiệu quả khi quá trình tạo
nguồn thông qua quá trình cấp phát thanh toán và hạch toán kinh tế với bộ
máy và những nhà quản lý xây dựng đô thị giỏi, tác nghiệp quản lý phù hợp,
hệ thống luật lệ và quy chế xây dựng đô thị theo quy hoạch.
c. Vai trò của chính quyền đô thị trong việc quản lý tài chính đô thị ở các
nước trên thế giới và ở Việt Nam.
Các nước trên thế giới: Các nước phát triển thì nền tài chính đô thị giữ
vị trí quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia. Chính quyền đô thị có vai
trò tự chủ trong việc quản lý riêng biệt nền tài chính đó. Tức là chính quyền
thành phố đó ngoài việc tuân theo những quy định pháp luật của nhà nước thì
họ có quyền đưa ra những quy định riêng của thành phố trong việc tăng
nguồn thu cho ngân sách. Vì thế nền tài chính của họ tạo thành một hệ thống
hoàn chỉnh. Ngoài ra các đô thị đó có chính sách rất thông thoáng trong việc
tăng nguồn thu từ các khoản thuế. Họ không đề cao tăng nguồn thu từ thuế
mà tăng nguồn thu từ các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, vệ sinh môi
trường, văn hóa, du lịch bằng cách cho tư nhân tham gia. Các nguồn thu đó
mang lại cho phát triển đô thị của họ đang sống. Tạo ấn tượng tốt cho người
dân đô thị và người nước ngoài. Ví dụ như Trung Quốc- Một nước cùng đi
theo con đường XHCN giống Việt Nam. Nhưng họ lại phát triển kinh tế theo
hướng đi riêng của họ, tiếp thu những cái mới, cái tốt của các nước đã phát
triển áp dụng cho sự phát triển của mình. Các đặc khu kinh tế là một ví dụ
điển hình, có nền tài chính rất lớn và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, thu hút lượng
lớn nguồn đầu tư từ nước ngoài... Các đặc khu ấy được ví như một nhà nước
riêng biệt.
Ở Việt Nam, tài chính đô thị cũng có vai trò quan trọng trong công
cuộc CNH- HĐH đất nước. Nguồn tài chính này chiếm 60% tổng thu ngân
sách Nhà nước. Tuy nhiên trong hệ thống tài chính quốc gia chưa hình thành
hệ thống tài chính đô thị được quản lý riêng biệt. Tài chính đô thị là bộ phận
học...
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 8
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Các nguồn tài chính khác để xây dựng đô thị chưa có biện pháp khai
thác triệt để. Nguồn tài chính của các khu vực dân cư, của khu vực nước
ngoài gần như bị thả nổi. Nhiều gia đình có tiền muốn xây nhà nhưng không
được thực hiện được. Quản lý Nhà nước ở đô thị bị chia ra thành nhiều
ngành dọc cản trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra tài chính. Giữa các
cấp các ngành chưa phối hợp chặt chẽ dẫn đến có những quyết định chồng
chéo nhau.
Ngoài các thành phố Trung ương như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh, Hải Phòng, Đà nẵng, Cần Thơ có những nguồn tài chính tương
đối vững mạnh. Còn các đô thị loại II, III, IV,V thì ngân sách nhỏ, không tự
chủ được nguồn tài chính mà chủ yếu vẫn là các nguồn tài chính từ ngân
sách Trung ương cấp. Là nước XHCN nên chúng ta phát triển kinh tế gắn
liền với công bằng xã hội. Tức là chúng ta phát triển hài hoà các yếu tố với
nhau. Vì vậy nguồn tài chính các đô thị nói chung ở Việt Nam chưa được
quan tâm đúng mức với vai trò của nó. Hy vọng trong một tương lai không
xa các cấp chính quyền nhận thức và thực hiện các chính sách để tăng nguồn
thu của đô thị. Chú trọng đến việc xây dựng và nuôi dưỡng các nguồn thu.
Như vậy chính quyền đô thị mới thể hiện được vai trò rất quan trọng của
mình.
II. Quan hệ của các cấp chính quyền qua hệ thống tài chính
Vai trò và trách nhiệm của các cấp chính quyền đô thị diễn ra trong
phạm vi nền tài chính quốc gia và trên địa bàn đô thị họ quản lý. Tài chính
của mỗi cấp thể hiện sức mạnh quyền hạn, trách nhiệm của cấp đó trong bộ
máy quản lý đô thị. Những mối quan hệ cơ bản về tài chính nảy sinh trên cơ
sở công việc và điều kiện tài chính bao gồm:
- Phân chia trách nhiệm: Ai làm gì? ai chi khoản gì? thực chất là sự
phân quyền mà các cấp chính quyền luôn đòi hỏi sự công bằng và chính xác.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 10
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Bình đẳng trong vay mượn và hỗ trơ cung cấp các dịch vụ của
Chính phủ:Tài chính liên cấp.
Chính quyền đô thị vừa là người điều tiết vừa là người cung cấp các
dịch vụ trong phạm vi đô thị của mình.
Những loại dịch vụ cấp thành phố cung cấp bao gồm: Đường sá đô thị
duy tu bảo dưỡng đường sá, chiếu sáng đô thị, vệ sing môi trường, giao
thông, bệnh viện, cảnh sát,... Trong nền kinh tế thị trường, các chính quyền
đô thị chỉ nên giới hạn vào cung cấp các dịch vụ cho dân cư đô thị của mình.
Để sản xuất có hiệu quả các cấp các ngành cần xác định rõ sản xuất cái gì,
cho ai, bao nhiêu và chất lượng thế nào?
Chính quyền đô thị phải cung cấp các dịch vụ có tính xã hội mà các doanh
nghiệp tư nhân không muốn cung cấp như y tế cộng động, giáo dục công,
văn hoá xã hội, trật tự an toàn xã hội...
IV. Các nội dung thu của ngân sách đô thị từ trong nước
4.1. Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ngân sách đô thị, hay ngân sách của thành phố, thị xã, thị trấn, được
hình thành theo luật ngân sách Nhà nước năm 1998. Cũng giống như ngân
sách các địa phương, ngân sách đô thị hình thành dựa vào nhiệm vụ quản lý
Nhà nước về hành chính kinh tế, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trên chế
độ định mức chi tiêu và chính sách để lại nguồn thu cho các đô thị để thiết
lập và chấp hành ngân sách. Các nguồn thu của ngân sách cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương bao gồm:
• Các khoản thu được giữ lại 100%:
- Tiền thuê chênh lệch giá đất
- Tền thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước
- Lệ phí trước bạ phát sinh trên địa bàn quận, huyện không
kể lệ phí trước bạ nhà đất
- Thu tiền từ hoạt động sổ xố kiến thiết
ngân sách huyện, xã:
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 12
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp(cho thị trấn, xã tối thiểu là
20%)
- Thuế tài nguyên
- Lệ phí trước bạ nhà đất
- Thuế tiêu thụ đặc biệt (kinh doanh vàng mã; vũ trường,
karaoke, massage...)
4.2. Ngân sách cấp thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận
* Các khoản thu này được giữ lại 100%.
- Thu ngoài quốc doanh: Đó là các khoản thu từ thuế và lệ phí đối với
các công ty, doanh nghiệp, các tiểu thương, tiểu chủ không thuộc sở hữu Nhà
nước.
- Thuế môn bài: Không gồm thuế môn bài thu từ các hộ gia đình, các
nhà kinh doanh nhỏ ở thị trấn, xã.
- Thuế sát sinh: Thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc trên địa bàn.
- Lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh quản lý.
- Thu kết dư ngân sách cấp thành phố: Đó là những khoản chi còn dư
được tổng kết vào cuối năm.
- Bổ sung từ ngân sách tỉnh: Là những khoản trợ cấp ngân sách tỉnh cho
thành phố, thị xã, huyện, xã.
- Các khoản thu khác theo quy định của nhà nước: Thuế tắc nghẽn giao
thông, thuế ô nhiễm môi trường… cũng là những nguồn thu quan trọng,
đồng thời góp phần khắc phục các vấn đề về giao thông và cải thiện môi
trường.
* Các khoản thu phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách tỉnh và
ngân sách thành phố thuộc tỉnh.
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất: Là chênh lệch giá của đất trong quá
cung cấp hàng hoá của chính quyền địa phương đạt hiệu quả cao.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 14
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Nói chung nguồn thu từ hàng hoá công cộng là rất ít vì nó mang tính
chất phục vụ cho tầng lớp nhân dân. Người dân sử dụng các hàng hoá công
cộng đó họ phải trả tiền thông qua các dịch vụ.
• Các loại lệ phí:
+ Lệ phí giao thông
+ Lệ phí cấp giấy phép xây dựng
+ Lệ phí xử phạt hành chính
+ Lệ phí lưu trú đô thị
+ Lệ phí khác: Phòng cháy chữa cháy, sử dụng bến
bãi, lề đường, quảng cáo công chứng, vệ sinh môi
trường...
* Trợ cấp của Chính phủ
Trợ cấp của chính phủ cho các công trình của địa phương như trợ cấp
giáo dục, phúc lợi xã hội, nhà ở và phương tiện công cộng, đường giao
thông, bệnh viện, y tế… là những nguồn tài chính quan trọng cho đô thị.
* Nguồn thu ngân sách từ trong nhân dân
Nguồn thu từ trong nhân dân có vai trò cũng rất quan trọng cho sự
phát triển đô thị, huy động được lượng tiền nhàn rỗi trong nhân dân sẽ rất tốt
cho sự phát triển đô thị. Chính quyền đô thị nên tạo ra nhiều dịch vụ mới để
thu hút nhân dân tham gia và dựa trên nguyên tắc người được hưởng phải trả
tiền.
V. Nguồn thu từ nước ngoài
Đó là các khoản viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở
nước ngoài trực tiếp cho tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật. Vay
nước ngoài như từ nguồn vốn World Bank, IMF…Các nguồn vốn khác như
ODA, FDI thì chủ yếu đầu tư vào nông thôn, vùng miền núi kinh tế còn gặp
nhiều khó khăn.
Năm 2003, Thành phố có diện tích tự nhiên là 58,58 km
2
riêng
đất xây dựng đô thị là 14.926 km
2
. Có 12 phường và 6 xã. Tính đến
01/01/2003 tổng số dân toàn thành phố là 286.848 người, mật độ dân số nội
thành là 17.188 người/km
2
Khu trung tâm có các phường Ba Đình, Điện Biên, Lam Sơn, Ngọc
Trạo, Tân Sơn, Trường Thi.
Kế cận có phường Đông Sơn, Đông Vệ, Phú Sơn, Đông Thọ, Nam
Ngạn, Hàm Rồng.
Ngoại vi thành phố có các xã Đông Cương, Đông Hương, Đông Hải,
Quảng Hưng, Quảng Thành, Quảng Thắng.
Hướng phát triển của thành phố là Đông- Đông Bắc(xã Đông Cương)
và Đông- Đông Nam(xã Quảng Thành). Các xã Đông Hương, Đông Hải,
Quảng Hưng và Quảng Thắng là những quỹ đất tiềm năng rộng lớn cho các
khu đô thị mới có quy hoạch hiện đại. Thành phố có khu công nghiệp có
tổng diện tích 180 ha: khu công nghiệp Đình Hương 30 ha, khu công nghiệp
vừa và nhỏ Tây Bắc ga 50 ha, khu công nghiệp Lễ Môn 100 ha. Giá trị Sản
xuất chiếm 34,4% tổng GDP của thành phố.
II. Thực trạng tăng nguồn thu cho sự phát triển của thành phố Thanh
hoá trong giai đoạn 2001- 2005
2.2.1 Vấn đề xây dựng nguồn thu:
Đây không phải là hạn chế riêng của Thành phố Thanh hoá mà còn là
hạn chế của nhiều đô thị khác. Xây dựng nguồn thu là một phạm trù mới
trong quản lý thu ngân sách Nhà nước. Cho nên vấn đề xây dựng và nuôi
dưỡng nguồn thu chưa được các cấp chính quyền Thành phố quan tâm.
Nguồn thu ngân sách chủ yếu là nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản