Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình đầu tư của Việt Nam sang Lào thời kì 1993 – 2005 21
Bảng 2.2: Tốc độ tăng vốn đầu tư của Việt Nam sang Lào thời kì 1993 – 2005 23
Bảng 2.3: Vốn đầu tư của Việt Nam sang Lào phân theo ngành thời kì 1993 –
2005 26
Bảng 2.5: Vốn đầu tư của Việt Nam sang Lào theo vùng lãnh thổ thời kì 1993
– 2005 29
Bảng 2.10: Vốn đầu tư của Việt Nam sang Lào phân theo hình thức đầu tư
thời kì 1993 – 2005 33
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
MỤC LỤC
2.1.4.2 Tình hình thực hiền đầu tư của Việt Nam sang Lào phân theo
ngành 26
2.1.4.3 Tình hình đầu tư của Việt Nam sang Lào phân theo vùng lãnh thổ
29
2.1.4.4 Tình hình thực hiện đầu tư của Việt Nam sang Lào phân theo
hình thức đầu tư 33
3.3. Giải pháp tăng cường đầu tư của Việt Nam sang Lào 44
3.3.1. Giải pháp vĩ mô 44
3.3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư ra nước ngoài 44
3.3.1.2 Đơn giản hoá thủ tục đăng kí thẩm định và cấp phép đầu tư 46
3.3.1.3 Xây dựng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện
đầu tư 47
3.3.1.4. Tăng cường tổ chức công tác xúc tiến đầu tư giữa hai nước 49
3.3.1.5. Tăng cường mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào 50
3.3.2. Giải pháp vi mô 51
3.3.2.1 Tăng cường tìm hiểu môi trường đầu tư của Lào 51
3.3.2.2 Hoàn thiện năng lực quản lí dự án 52
3.3.2.3 Tăng cường năng lực tài chính và khoa học công nghệ 52
của hai quốc gia láng giềng gần gũi, thân thiện, cùng giúp đỡ lẫn nhau chia
ngọt sẻ bùi.
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
Hiện nay quan hệ Việt - Lào đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế vừa có
nhiều thuận lợi, vừa có nhiều khó khăn, phức tạp mới. Trong những năm qua,
quan hệ tài chính giữa Việt Nam và Lào không ngừng cải thiện. Nhất là Việt
Nam và Lào cùng chung là thành viên của ASEAN, quan hệ tài chính giữa hai
nước càng có cơ hội phát triển.
Mặc dù trong thời gian qua hoạt động tài chính Việt - Lào đã mang lại
những thành công to lớn, đã phát huy được tiềm năng, thế mạnh của nền tài
chính hai nước, góp phần xây dựng công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của mỗi nước, song đã nảy sinh những vấn đề phức tạp cần phải nhìn nhận,
đánh giá một cách đúng đắn. Tình hình trên đòi hỏi phải có một chương trình
nghiên cứu cơ bản và toàn diện về hoạt động thương mại giữa hai nước, nhằm
đánh giá đúng đắn những mặt tích cực và hạn chế những phát sinh không
thuận lợi, từ đó có những kiến nghị cụ thể, sát thực, phù hợp với những hoạch
định về chính sách phát triển tài chính, kinh tế đối ngoại của Đảng và nhà
nước ta.
Xuất phát từ yêu cầu đó, trên cơ sở hệ thống lý luận đã được học tập
nghiên cứu, cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của Thầy Đinh Trọng
Thịnh, em mạnh dạn chọn đề tài: “Quan hệ Tài Chính Việt Nam – Lào, thực
trạng và giải pháp” với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong chương
trình nghiên cứu về quan hệ tài chính giữa Việt Nam và Lào.
Những nội dung chủ yếu được trình bày trong chuyên đề bao gồm các
chương sau:
Lời nói đầu .
Chương I : Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn quan hệ tài chính Việt Nam
và Lào.
Chương II : Thực trạng quan hệ tài chính Việt Nam – Lào từ năm 2005
Những mặt hàng Việt Nam xuất sang Lào chủ yếu là vật liệu xây dựng,
xăng dầu, hàng nông sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng gia dụng, Ngược
lại, Việt Nam nhập khẩu từ Lào một số mặt hàng gỗ, khoáng sản, nông sản,
Việt Nam và Lào hiện đang khuyến khích việc lập các chợ biên giới,
các khu kinh tế, khu thương mại tại các cửa khẩu lớn và đang tích cực triển
khai thực hiện các thoả thuận nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người, phương
tiện và hàng hoá qua lại khu vực cửa khẩu giữa hai nước, trong đó có chính
sách giảm thuế 100% cho hàng hoá có xuất xứ từ mỗi nước.
1.1.2. Quan hệ đầu tư
Hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào hiện có rất nhiều
tiềm năng phát triển trong bối cảnh cả hai nước đang tiếp tục đẩy mạnh công
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
1
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
cuộc đổi mới toàn diện, đa dạng và đa phương hóa các mối quan hệ kinh tế.
Hợp tác kinh tế được mở rộng trên tất cả các lĩnh vực mà các doanh nghiệp
Việt Nam có điều kiện, khả năng và phía Lào có nhu cầu cấp thiết. Các doanh
nghiệp Việt Nam đầu tư vào Lào trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, dành
ưu tiên, ưu đãi hợp lý cho nhau, phù hợp với tính chất của quan hệ đặc biệt
giữa hai nước, tận dụng nguồn lực về tài nguyên, lao động của Lào. Trong đó,
ưu tiên tập trung vào lĩnh vực khai thác và sử dụng tài nguyên, đất đai, xây
dựng các nhà máy thủy điện, trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê, nguyên
liệu giấy…), khai thác khoáng sản, sản xuất hàng tiêu dùng…
Trên tinh thần đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp của các tổng công
ty, các tập đoàn kinh tế lớn và có uy tín của Việt Nam sang khảo sát, xúc tiến
đầu tư và triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh trên đất Lào như Tập
đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn
Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, Tổng Công ty Hóa chất, Công
ty cao su Đắk Lắk, Tổng công ty Sông Đà… Ngoài ra, còn có nhiều doanh
nghiệp của các địa phương có chung biên giới với Lào như Đà Nẵng, Quảng
thác lợi thế của nhau, bổ trợ cho nhau để cùng phát triển.
1.1.3. Viện trợ
Bên cạnh việc hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, thương mại, Việt Nam
cũng thường xuyên hỗ trợ Lào trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Mỗi năm, Việt Nam viện trợ không hoàn lại cho Lào 10 triệu USD.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn tạo điều kiện cho Lào có đường ra biển để
mở rộng hoạt động giao thương. Đến nay đã có 6 đường quốc lộ từ Lào thông
với Việt Nam và trong thời gian tới sẽ còn có nhiều tuyến đường được khánh
thành.
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
3
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
1.2. Ý nghĩa của quan hệ tài chính giữa Việt Nam và Lào.
Sau khi giành được độc lập, cùng với xu thế hoà bình hợp tác ngày
càng rộng mở trong quan hệ quốc tế, quan hệ Việt Nam với Lào cũng có
những cơ hội phát triển về mọi mặt. Nổi bật trong quan hệ hữu nghị sâu sắc
giữa hai nước là quan hệ hợp tác chặt chẽ trên tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực
tài chính giữa hai nước, được đánh dấu bằng những cuộc trao đổi thường kỳ
hàng năm giữa hai Bộ Tài Chính.
Chương trình Hợp tác giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Bộ Tài chính
Lào được xác định là một chương trình hợp tác dài hạn nhằm giúp Bộ Tài
chính Lào nâng cao năng lực chuyên môn để đáp ứng yêu cầu quản lý nền
kinh tế trong thời gian tới, giúp cán bộ viên chức hai ngành tài chính Việt
Nam và Lào tăng cường hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau, góp phần tăng cường
tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt, quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai
Chính phủ và nhân dân hai nước Việt và Lào.
Đây là một chương trình hợp tác toàn diện hỗ trợ cho Bộ Tài chính Lào
trong các lĩnh vực : xây dựng, chiến lược, hoạch định chính sách, xây dựng
văn bản pháp lý, công tác tổ chức cán bộ, hỗ trợ đào tạo và giúp trang thiết bị,
cơ sở vật chất,…
giữa hai quốc gia, tạo điều kiện cho mỗi quốc gia có cơ hội giải quyết những
khó khăn tạm thời về nguồn tài chính và nâng cao hiệu quả của các nguồn lực
tài chính được đưa vào sử dụng cả trên vị trí nhà đầu tư hay người cần vốn.
1.3. Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ tài chính Việt – Lào
1.3.1. Nội dung quan hệ tài chính Việt – Lào
+ Quan hệ thanh toán quốc tế.
Quan hệ thanh toán gắn với thương mại quốc tế của hai nước, gắn với
hợp tác quốc tế về văn hóa xã hội, hợp tác lao động quốc tế, du lịch quốc tế,
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
5
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
gắn với hợp tác quốc tế về chính trị ngoại giao giữa ngân hàng thương mại,
các tổ chức cá nhân, chính phủ hai nước.
+ Viện trợ không hoàn lại
Chủ yếu là viện trợ song phương giữa Chính Phủ hai nước, tổ chức
kinh tế - xã hội hoặc địa phương của hai nước.
+ Tín dụng quốc tế
Là một hình thức của đầu tư quốc tế gián tiếp. Quốc gia có nguồn tài
chính đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận thông qua lãi suất tiền
vay đã được hai bên thỏa thuận trong các Hiệp định hay Khế ước vay vốn.
+ Đầu tư chứng khoán giữa hai quốc gia.
Là một hình thức đầu tư quốc tế gián tiếp. Quốc gia có nguồn tài chính
đầu tư dưới hình thức mua chứng khoán trên thị trường tiển tệ, thị trường trái
phiếu, thị trường cổ phiếu để được hưởng lợi tức nhưng không tham gia điều
hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.
+ Đầu tư trực tiếp quốc tế
Là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư ở một nước bỏ toàn bộ hay một phần
đủ lớn vốn đầu tư vào một quốc gia khác để nắm một phần hay toàn bộ một
doanh nghiệp của quốc gia đó. Có rất nhiều hình thức đầu tư trực tiếp khác
nhau.
giới. Kinh tế đất nước phát triển, quan hệ kinh tế với các nước láng giềng,
nhất là quan hệ kinh tế giữa các địa phương phát triển cũng góp phần ổn định
biên giới và thúc đẩy công tác biên giới. Thực hiện chính sách mở cửa, hợp
tác hữu nghị, mở rộng quan hệ kinh tế biên giới, liên doanh phát triển kinh tế
biên giới sẽ tạo thế từ xa để giữ vững an ninh, ổn định lâu dài biên giới quốc
gia, phát triển kinh tế xã hội và phát triển quan hệ tài chính giữa hai quốc gia.
Trong những năm qua, giao lưu kinh tế với các nước qua cửa khẩu ngày càng
nhộn nhịp, không những góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của hai
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
7
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
bên, mà còn khôi phục, củng cố môi trường hòa bình, tạo điều kiện phát triển
các hoạt động đối ngoại của các tổ chức đoàn thể nhân dân làm tăng thêm
tình hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam với các nước láng giềng. Cũng từ
đó tạo môi trường ổn định thúc đẩy quan hệ kinh tế tài chính giữa hai nước.
Thứ tư: Phương tiện phục vụ quan hệ tài chính giữa hai nước còn có sự
chênh lệch gây ảnh hưởng không ít khó khăn cho quan hệ hợp tác hai nước.
Cơ sở hạ tầng và vật chất của Lào còn thiếu đồng bộ, do vậy đã hạn chế đến
tính ưu việt trong chính sách của Việt Nam đối với đầu tư trực tiếp của Lào và
hạn chế hiệu quả của hợp tác tài chính hai nước.
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
8
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
Chương 2
THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÀI CHÍNH VIỆT NAM – LÀO
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY
2.1. Sự tiến triển của quan hệ tài chính giữa Việt Nam – Lào từ năm 2005
đến nay.
Về cơ bản, quan hệ hợp tác trong giai đoạn 2005 đến nay đã đạt được
những mục tiêu đề ra. Mối quan hệ hợp tác giữa hai nước ngày càng được
Thanh toán biên mậu Việt-Lào qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo-Densavan
là điểm thực hiện đầu tiên trên tuyến biên giới 10 tỉnh của Việt Nam với Lào.
Việc thanh toán biên mậu được thực hiện bởi Ngân hàng Nông nghiệp-
Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Quảng Trị và Chi nhánh Ngân
hàng Phongsavanh tại Savannakhet thông qua 7 phương thức, gồm: Hối phiếu
ngân hàng; Chứng từ chuyển tiền biên mậu; Chứng từ thanh toán thương vụ;
Thư uỷ thác chuyển tiền thanh toán biên mậu; Điện chuyển tiền; Thư tín dụng
chứng từ mậu dịch biên giới; Thư bảo lãnh thanh toán mậu dịch biên giới.
Việc triển khai thanh toán biên mậu này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
quan hệ phát triển kinh tế của hai nước Việt-Lào, đặc biệt các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá giữa hai bên biên giới
Việt-Lào qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo-Densavan
Các doanh nghiệp có thể dùng hai loại tiền tệ LAK (Kíp Lào) và VND
(tiền Việt Nam) để trao đổi mua bán hàng hóa không phải thông qua các ngoại
tệ mạnh như trước đây, mà vẫn giữ được tỷ giá trao đổi phù hợp giữa hai đồng
tiền. Ngoài ra các doanh nghiệp thực hiện thanh toán biên mậu cũng có cơ hội
sử dụng thêm rất nhiều dịch vụ tiện ích do ngân hàng hai bên cung cấp.
Việc triển khai thanh toán biên mậu cũng đã được Ngân hàng Nông
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
10
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank ) tiến hành nhiều năm nay tại nhiều
điểm trên tuyến biên giới Việt Trung. Trong thời gian tới, Agribank sẽ tích
cực phối hợp với bạn Lào để mở rộng thêm các điểm thanh toán biên mậu
khác còn lại trên toàn tuyến biên giới.
Đưa quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào về ngân hàng lên tầm cao mới, giúp
thúc đẩy thanh toán quốc tế phát triển.
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (NHNN) đã nỗ lực khai thông và phát triển các mối quan hệ
hợp tác với Ngân hàng trung ương (NHTW) và Ngân hàng thương mại
kinh nghiệm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng; xây dựng chính sách tiền tệ; phát
triển thị trường vốn và thị trường liên ngân hàng; hoạt động thanh tra các
NHTM; về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng.
- Từ năm 2006 đến nay, nhằm triển khai kế hoạch hợp tác đào tạo và hỗ
trợ kỹ thuật cho các cán bộ của NH CHDCND Lào, mỗi năm NHNN đã tiếp
nhận 4 đoàn cán bộ của NH CHDCND Lào sang khảo sát và học tập tại
Việt Nam. Đồng thời, NHNN cũng cử 3 đoàn chuyên gia sang tổ chức hội
thảo tại Lào cho các cán bộ của NHTW Lào. Ngoài ra, NHTW hai nước cũng
khuyến khích và tạo điều kiện cho các NHTM của hai nước đổi kinh nghiệm
và tăng cường hợp tác kỹ thuật và đào tạo.
- Về việc triển khai cơ chế thanh toán, đại lý và chuyển tiền giữa Việt Nam
và Lào: Với việc Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 845/2004/QĐ-
NHNN ngày 8/7/2004 về quy chế thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng
hoá, dịch vụ, đầu tư và viện trợ giữa Việt Nam và Lào, đã tháo gỡ được
những khó khăn, vướng mắc trong thanh toán xuất nhập khẩu, chuyển tiền
của các doanh nghiệp hai nước, góp phần thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa
hai nước phát triển; tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu và chủ dự án tại Lào thực hiện dịch vụ thanh toán qua ngân hàng; giảm
đáng kể việc sử dụng USD trong thanh toán giữa hai nước, góp phần ổn định
thị trường tiền tệ của Lào.
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
12
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
* Quan hệ hợp tác giữa NHTM hai nước
Trong thời gian qua, quan hệ kinh tế đối ngoại giữa hai nước đã có bước tiến
khá dài, nhiều NHTM Việt Nam đã có mối quan hệ đại lý rộng rãi với các
NHTM Lào. Cho đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
VN, Ngân hàng Ngoại thương VN và Ngân hàng Công thương VN đều có
mối quan hệ đại lý với các ngân hàng của Lào. Đặc biệt, Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển VN có quan hệ đại lý với nhiều NHTM của Lào, trong đó có Ngân
– Lào đang bước lên một tầm cao mới đầy triển vọng, ngành Ngân hàng hai
nước có cơ sở vững chắc để cùng hợp tác phát triển một cách toàn diện, vững
chắc và lâu dài.
2.1.2. Viện trợ không hoàn lại
- Giai đoạn 1996-2000 Việt Nam dành cho Lào một khoản viện trợ
không hoàn lại 346,570 tỷ đồng (tương đương 26,6 triệu USD).
- Giai đọan 2001-2005 Việt Nam viện trợ không hoàn lại cho Lào 560
tỷ đồng (37 triệu USD).
- Năm 2009, Việt Nam cam kết dành cho Lào khoản viện trợ không
hoàn lại trị giá 320 tỷ đồng (trên 17 triệu USD).
Viện trợ của Việt Nam cho Lào tập trung chủ yếu vào các dự án đào tạo học
sinh, bồi dưỡng cán bộ tài chính, nông nghiệp và thủy lợi.
Sau đây là tình hình hoạt động hợp tác có tính chất viện trợ giữa Bộ Tài chính
Việt Nam và Lào.
Thực hiện các lớp đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực đào tạo.
Đã có 182 sinh viên tốt nghiệp hệ đại học của Dự án đào tạo Việt Lào;
khai giảng lớp cao học được 1 năm với 103 thí sinh; trên 40 cán bộ chủ chốt
đã được đào tạo nâng cao nghiệp vụ; 4 khóa học với 75 học viên các Bộ
ngành của Lào được đào tạo phiên dịch tiếng Việt, cấp học bổng đào tạo thạc
sĩ và đại học ; hàng trăm lượt cán bộ của Lào đã tham dự các lớp tập huấn, hội
thảo nghiệp vụ; đã hoàn thành xây dựng và đang triển khai đề án nâng cấp
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
14
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
trưởng Tài chính Đông – khăm – xạng; đã hoàn thiện và đang tích cực chuẩn
bị để triển khai từng bước đề án nâng cấp trường Tài chính Nam Lào…
+ Những mặt tích cực:
Công tác đào tạo đã có định hướng lâu dài, phục vụ chiến lược phát
triển dài hạn của ngành tài chính Lào, ví dụ như công tác đào tạo cán bộ ba
ngành dọc, mở các lớp đào tạo đại học và sau đại học.
Công tác đào tạo cán bộ sau đại học mới chỉ tập trung chủ yếu cho cán
bộ thuộc các đơn vị trong Bộ Tài chính Lào, cần chú trọng hơn nữa đào tạo
giáo viên nhằm từng bước đáp ứng nhu cầu về nâng cấp các trường.
Một số hoạt động đào tạo tại Lào chưa tổ chức được do phía Lào chưa
chuẩn bị kịp các điều kiện cần thiết, ví dụ như các lớp đào tạo, tập huấn về
thanh tra tài chính, về nghiệp vụ kho bạc, hải quan…
Vẫn còn trường hợp cử cán bộ sang Việt Nam đào tạo chưa đáp ứng
được tiêu chuẩn về tiếng Việt dẫn đến khó khăn trong công tác đào tạo
( trường hợp cử cán bộ giảng dạy của trường Cao đẳng Tài chính Nam Lào đi
học tại Việt Nam chưa đáp ứng trinh độ tiếng Việt, hiện đang học khóa học
nâng cao trình độ tiếng Việt ).
Xây dựng khuôn khổ pháp luật
Trong những năm qua, các chuyên gia tài chính Việt Nam đã nỗ lực
cùng các đồng nghiệp của Bộ Tài chính Lào triển khai nghiên cứu, soạn thảo
và trình các cấp lãnh đạo Chính phủ và Quốc hội Lào xem xét và thông qua
được một loạt đề án xây dựng luật pháp quan trọng như Luật thuế VAT, Luật
sửa đổi Luật NSNN, Nghị định Kho Bạc Quốc gia, Nghị định về hóa đơn,…
Ngoài ra, hiện tại hai bên đang triển khai nghiên cứu và xây dựng Nghị định
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
16
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
về chuyển đổi công trình xây dựng của Nhà nước thành vốn, Nghị định về
vốn hóa đất đai và tài sản gắn liền với đất, các văn bản pháp quy phục vụ
công tác quản lý tài chính công.
+ Những mặt tích cực :
Các hoạt động đã được thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra, đáp ứng
nhu cầu hỗ trợ rất linh hoạt của phía Lào.
Các văn bản được soạn lập đã đáp ứng tốt nhu cầu trước mắt trong việc
tăng cường quản lý tài chính như : Luật thuế VAT và các văn bản hướng dẫn
thi hành Luật; Luật sửa đổi Luật Ngân sách Nhà nước; Nghị định về chức
Công trình hiện đã hoàn thành giai đoạn 1 và đã phát huy tác dụng triệt để
trong việc hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Lào nói chung và
ngành tài chính Lào nói riêng. Hai chính phủ Việt Nam và Lào đã đồng ý chủ
trương tiếp tục triển khai xây dựng giai đoạn 2 và đưa nội dung này vào Hiệp
đinh Hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai Chính Phủ Việt
Nam và Lào giai đoạn 2011 – 2015 nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn
nhân lực ngày càng cao của đất nước Lào.
Bộ Tài chính Việt Nam đang tiến hành giúp xây dựng Đề án hỗ trợ
tổng thể nâng cấp trường Tài chính Nam Lào theo phương thức nhiều bên
cùng hỗ trợ ( Bộ Tài chính Việt Nam, Bộ Tài chính Lào, Chính quyền các tỉnh
Nam Lào ). Việc nâng cấp Trường, bao gồm cả xây dựng cơ sở vật chất,
nhằm mục tiêu hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế, tài chính cho các
tỉnh Nam Lào hiện đang rất thiếu và rất yếu.
2.1.3. Đầu tư chứng khoán
Đây là hình thức đầu tư rất mới mẻ giữa Việt Nam và Lào.
Công ty Chứng khoán Lanexang - Liên doanh giữa Ngân hàng Phát triển Lào
(LDB) và Công ty chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Việt Nam
SV: Latsamy VongKhamsen Lớp: CQ45/08.02
18
Chuyên đề cuối khóa Học viện Tài chính
(Sacombank SBS) là bước đi đầu tiên giữa hai nước trong công cuộc phát triển
thị trường chứng khoán giữa hai quốc gia. Công ty có vốn điều lệ 100 tỷ kíp.
Chức năng nhiệm vụ và trách nhiệm của công ty là cung cấp thông tin
chính xác, kịp thời, giữ bí mật thông tin của khách hàng; phát triển hệ thống
công nghệ hiện đại để đảm bảo dịch vụ khách hàng; bảo đảm sự bền vững
trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Công ty cũng bảo quản thông tin và tài liệu về hoạt động kinh doanh
chứng khoán, thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến khách hàng cho phù hợp
với các điều kiện quy định trong hợp đồng và luật pháp, tổ chức thực hiện
việc nhận-gửi, thanh toán và chuyển giao chứng khoán theo quy định của ủy