LUẬN VĂN: Việc làm, thất nghiệp ở đô thị thực trạng và giải pháp - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Việc làm, thất nghiệp ở đô thị
thực trạng và giải pháp Lời Mở Đầu
Ngày nay dân tộc ta, nhân dân ta đang bớc vào một cuộc chiến đấu mới vì cuộc sống
âm no hạnh phúc, vì công bằng xã hội. Đất nước ta, thời cơ lịch sử phát triển đã đến. Công
cuộc đổi mới đang diễn ra nhanh chóng và vững chắc. Chủ trương xây dựng nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trừơng có sự quản lý của nhà nước
theo định hớng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra động lực va môi trường thuận lợi cho mọi thành

-Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia
đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó.
2- Dân số hoạt động kinh tế:
-Dân số hoạt động kinh tế hay còn gọi là lực lượng lao động bao gồm: Toàn bộ những
người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu câù làm
việc.
Dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động (lực lượng lao động trong độ tuổi)
bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ từ đủ 15
đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc.
Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua là những người từ đủ 15
tuổi trở lên có tổng số ngàylàm việc và nhu cầu làm vecj lớn hơn hoặc bằng 183 ngày.

3- Dân số không hoạt động kinh tế.
-Bao gồm toàn bộ số người từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và
không có việc làm. Những người này không hoạt động kinh tế vì các lý do sau:
-Đang đi học
-hiện đang làm công việc nội trợ gia đình. -Già cả, ốm đau.
-Tàn tật, không có khả năng lao động.
-Hoặc ở vào tìng trạng khác.
4- Người thất nghiệp
Là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế trong thời điểm
điều tra không có việc làm nhưng có nhu câù làm việc.
5- Tỷ lệ người có việc làm
Là tỷ lệ % của số ngưòi có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế
6- Tỷ lệ người thất nghiệp
Là tỷlệ % số người thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế.
ii- Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động ở khu vực đô thị.

Dân số và lao động thành thị nước ta không lớn. Song tình trạng việc làm ở khu vực
thành thị luôn luôn diễn ra căng thẳng và cấp bách, do tính chất và quy mô số người chưa
có việc làm rất lớn và nghiêm trọng. Theo tính toán của liên hiệp quốc năm 1993 tỷ thất
nghiệp ở Việt Nam khoảng trên 6% so với tổng số lao động, riêng khu vực thành thị tỷ lệ
đó là tư 9%-12% gấp đôi so với cả nước. Tỷ lệ lực lượng lao động ở khu vực thành thị
chiếm trong tổng lực lượng lao động cả nước có xu hướng tăng dần với tỷ lệ tăng thêm
hàng năm là 0, 7%. Năm 1998, lực lượng lao động ở thành thị có khoảng 6838, 2 nghàn
người chiếm 19, 06%, năm 1999 có 7333, 1 ngàn người chiếm khoảng 20, 2%, năm 2000
có 7649, 6 nghàn người chiếm 20, 45%.
Số lượng lao động ở khu vực đô thị mỗi năm một tăng, trong khi đó về chất lượng lao
động ở khu vực thành thị thì :
-Năm 2000 số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở thành thị là: 2578, 4chiếm
33, 7% so với tổng lực lượng trong khu vực; so với năm 1998 bình quân hàng năm tăng
thêm được 210, 25 người, với tốc độ tăng là 9, 31% và tỷ lệ so với tổng số lực lượng trong
khu vực tăng thêm được 1, 07%.
Cùng với những thành quả của sự nghiệp đổi mới và sự phát triển nguần nhân lực đã
đạt được nhiều tiến bộ trên các lĩnh vực từ đào tạo dạy nghề đến tuyển dụng, bố trí sử dụng
và phát huy năng lực của đội ngũ lao động đã qua đào tạo. Tuy nhiên do chưa quy hoạch
một cách tỏng thể và đông bộ ở tầm vĩ mô nên cũng để lại những hậu quả không tốt gây
nên những trở ngại cho quá trình phát triển. Quá trình chuyển dịch cơ cấu số lượng và chất
lượng của lực lượng lao động cũng như cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá chưa
theo kịp được yêu cầu cua sự nghiệp phát triển.
ii- Thực trạng về việc làm và thất nghiệp ở đô thị hiện nay.
1- Một số đặc điểm của tình trạng lao động chưa có việc làm và thất nghiệp ở khu
vực thành thị Số người chưa có việc làm phần lớn (80%)tập trung vào lứa tuổi thanh niên. đó là lực
tượng lao động trẻ, mới bước vào tuổi lao động, đại bộ phận chưa lập thân mà sống dựa
vào gia đình là chính. Trong đó về cơ bản là chưa có nghề (80%) mặc dù trình độ văn hoá

muộn. Nếu chúng ta không quan tâm đúng mức thì trên tổng thể sẽ thiếu trầm trọng lao
động kỹ thuật cao, đồng thời sẽ diễn ra hiện tượng “chảy máu chất xám “từ khu vực nhà
nước ra ngoài, sang các khu chế xuất, xí nghiệp liên doanh. .
Vấn đề nhức nhối đối với khu thành thị là cần phải giải quyết việc làm cho số người
mắc phải các tệ nạn xã hội (cờ bạc, số đề, nghiện hút, mại dâm. ) số tội phạm mãn hạn tù,
dòng người từ nông thôn vào thành phố tìm kiếm việclàm hình thành các chợ lao động. Số
người sống lang thang, sống bụi đời. . . Đó là hiện tượng xã hội rất phức tạp cần phải có
chính sách và biện pháp giải quyết có hiệu quả đẻe đảm bảo văn minh mỹ quan đô thị và
an toàn xã hội. Hiện nay cả nước có khoảng trên 80 nghàn gái mại dâm (số kiểm soát được
khoảng 26 ngàn) 70-80 ngàn người nghiện, 50 ngàn người lang thang cơ nhỡ, ăn xin sống
bụi đời. . chủ yếu tập trung ở các thanh phố, thị xã khu công nghiệp tập trung và du lịch số
này thường rơi vào lứa tuổi thanh niên, đa số chưa có việc làm. Dòng di chuyển lao động
tự do từ nông thôn vào thành phố tìm kiếm việc làm cũng đang tăng lên nhanh chóng. Tại
thời điểm điều tra ở Hà Nội năm 1993 là 16340 người trong đó:
- Đạp xích lô có : 2157 người
- Làm thợ mộc : 1872 người
- Làm thợ xây : 4324 người
- Bới rác, đồng nát :1044 người
- Làm cơ khí sửa chữa vặt : 2355 người
- Nghề khác: 4023 người
Theo báo cáo của thành phố Hồ Chí Minh, có lúc cao điểm lên tới 40-45 vạn lao
động tự do vào thành phố tìm công ăn việc làm
Tạo việc và tái hoà nhập người xuất trái phép hồi hương, người lao động hợp tác trở
về là vấn đề rất lớn đối với nước ta, song lại càng khó khăn với thành thị. Hơn chục năm
qua chúng ta đã đưa gần 30 vạn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, hiện nay số
này về cơ bản đã trở về cần có việc làm.
Có thể nói, việc làm ở khu vực thành thị nhày càng căng thẳng và bức bách, vì nótập
trung vào thanh niên, đại bộ phận không có nghề, một số lớn rơi vào đối tuợng tệ nạn xã,
nếu không được giải quyết sẽ dẫn đến bất ổn đinhj về kinh tế xã hội.

khu vực đô thị là 51000 người (khong tính số người từ nông thôn vào đô thị tìm việc làm)
tỷ lệ vào thời điểm này là 8, 64% so với năm 1999 tăng 0, 08%, tỷ lệ thất nghiệp cao nhất
so với các thành phố trong cả nước do chất lượng lao động thấp, cơ cấu đào tạo không hợp
lý. Hơn nữa nhu cầu việc làm ngày càng lớn với khả năng giải quyết còn rất hạn chế trong
tiềm năng phát triển kinh tế, tạo mở việc làm cũng rất lớn song lại chưa được khai thác và
phát huy. Giữa lao động và việc làm ngày càng gay gắt khi đất nước tiến hành công cuộc
đổi mới cùng với điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải tổ chức lại lao động trên phạm vi toàn xã
hội, chuyển dịch cơ cấu lao đọng cho phù hợp với cơ cấu mới của nền kinh tế. Trong quá
trình dịch chuyển này chúng ta vừa thiéu lao động có kỹ thuật, lại vừa thừa khá lớn lao
động phổ thông. Điều này đã dẫn đến nạn “thất nghiệp kết cấu “ rất nghiêm trọng lao động
kỹ thuật cao, lao động chất xám lại thiếu nghiêm trọng vì vậy để giải quyết vấn đề này phải
thông qua việc đào tạo lại, phổ cập nghề cho người lao động song cần phải có thời gian.
Nguyên nhân chủ yếu là nhà nước chưa có chính sách vĩ mô như:thuế, đất đai tín dụng, thị
trường. . . chưa có các chính ssáh cụ thể khuyến khích các lĩnh vực, nghành nghề và hình
thức thu hút được nhiều lao động theo yêu cầu của thị trường lao động, chưa có hệ thống
đào tạo, đào tạo lại và phổ cập nghề phù hợp với cơ chế thị trường.
Lực lượng lao động thành thị đang ngày một tăng ngoài ra do dicư từ nông thôn ra
thành thị đã gây ra tỷ lệ thất nghiệp cao ở đô thị.
Không những người thất nghiệp do trình độ chuyên môn thấp không theo kịp sự phát triển
của khoa học công nghệ. Bên cạnh đó còn có thất nghiệp trong số người được đào tạo.
Mức thất nghiệp trong số những người được giáo dục liên quan tới việc thị trường điều
chỉnh theo dòng người tốt nghiệp phổ thông, giáo dục mở rộng nhưng hiến khi có đủ việc
làm cho họ khi ra trường. Nguyện vọng về việc làm trong những người được giáo dục
khong đáp ứng được. Trạng thái diễn ra ở các đô thị hiện nay là tốc độ tăng của nguần
nhân lực lớn hơn tốc độ tăng công việc làm.
- Nhân lực ở nông thôn thiếu việc làm, thu nhập thấp do đó tràn ra đô thị kiếm
việclàm và một cuộc sống dễ chịu hơn so với nông thôn. Đây là nguyên nhân thường gặp ở
nhiều nước chậm phát triển. Trong khi đó ở đô thị, nhười ta lại chú trọng nhiều đến loại

về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn chặt với nghèo đói. Tỷ lệ thát nghiệp cao không những gây
thiệt hại lớn cho nền kinh tế mà còn gây nhiều khó khăn đối với cuộc sống cá nhân người
lao đoọng. Những người thâts nghiệp tuy không sản xuất ra sản phẩm nhưng vẫn phải tiêu dùng một lượng nhất địng, đặc biệt ở độ tuổi trưởng thành, mức tiêu dùng thương lớn
hơncác độ tuổi khác. Bởi lẽ ở đô thị dân số trẻ có nhu cầu làm việc nếu họ không có việc
làm thì đây là một vấn đề phức tạp. Nếu người thất nghiệp tiêu dùng ở mức tối thiểu, tương
ứng với mức lương tối thiểu 144000đ/tháng như hiện nay, thì một năm tiêu dùng hết gần
2triệu đồng.
Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của
những người thất nghiệp. Đói với nước ta, những người thất nghiệp là những người không
có thu nhập phải sống nhờ vào thu nhập cửa những người khác trong gia đình. Hơn nữa
những người thất nghiệp phần lớn là những người chủ trong gia đình nguần thu nhập của
họ ảnh hưởng rất lớn nhiều khi có tính quyết định đến đời sốngkinh tế của cả gia đình họ
nữa. Do tính chất quyết định của kinh tế, khi đời sống kinh tế gia đình khó khăn, thất
nghiệp tác động đén mọi mặt củacuộc sống gia đình. Đây chính là nguyên nhân và nguần
gốc của những phức xã hội. Xét về mặt xã hội thất nghiệp gây nên những hậu quả nặng nề.
Khi xét các nguyên nhân cỷa tệ nạn xã hội người ta nhận thấy rằng những người thất
nghiệp tham gia một cách đáng kểvào các tệ nạn đó. ở thành những người thất nghiệp tham
gia vào các tệ xã hội như:cờ bạc, ma tuý, số đề, trộm cướp. . đều mang lại thu nhập ít
nhiều cho người tham gia. Trong lúc các con đường khác để tạo việc làm mọt cách chính
đáng bị khép lại, thì con đường đến với các tệ nạn xã hội lại rộng mở hơn và khó bị kiểm
soát và ngăn chặn hơn. Thất nghiệp đẩy con người đến một sự lựa chọn bắt buộc hoặc chịu
ngồi chết đói hoặc phải tìm cách làm bất cứ công việc gì kể cả tham gia vào các tệ nạn xã
hội để có thu nhập khỏi chết đói. Vì thế, thất nghiệp gây nhiều khó khăn phức tạp cho công
tác quản lý xã hội, làm đảo lộn nhiều nếp sống lành mạnh và ảnh hưởng xấu thuần phong
mỹ tục của một dân tộc. Đến lượt nó, chính nó lại tác động trở lại nền kinh tế, kìm hãm
nền kinh tế phát triển. Thất nghiệp còn tác động đến tâm tư tình cảm, suy nghĩ của người
lao động, người thất nghiệp gây cho người lao động tâm lý luân luân lo lắng, bị de doạ bởi

thị. 1- Phương hướng chủ yếu giải quyết việc làm hiện nay trong thời gian tới ở khu
vực đô thị.
Phương hướng cơ bản có tính chất chiến lược để sử dụng hiệu quả nhuần lao động và
giải quyết việc làm ở nước ta thực tốt chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tổ chức lại toàn
bộ lao động xã hội để phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế kết hợp giải quyết việc
làm tại chỗ là chính với phân bố lại lao động theo vùng lãnh thổ, xây dựng các vùng kinh
tế xã hội, đồng thời mở rộng sự nghiệp lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Tổ
chức đào tạo, đào tạo lại đội ngũ lao động hiện có và phổ cập lao động xã hội, trước hết là
cho thanh niên nhăm hình thành đội ngũ lao động có cơ cấu, số lượng và chất lượng phù
hợp với cấu trúc của hệ thống kinh tế mới và yêu cầu lao động của thị trường lao động
đang hình thành và phát triển ở nước ta. Đa dạng hoá việc làm trên cơ sở đó mà đa dạng
hoá thu nhập, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phong phú và đa dạng
trong mối quan hệ đan xen giữa các thành phần kinh tế, coi trọng khuyến khích các hình
thức thu hút được nhiều lao động và phù hợp với quy luật phát triển nền kinh tế thị trường
ở nước ta (xí nghiệp vừa và nhỏ, khu vực phi kết cấu ). Thành thị bao gồm các thành phố,
thị xã, các khu công nghiệp tập trung và du lịch. . mặc dù có tỷ trọng về dân số và lao động
không lớn so với khu vực nông thôn (khoảng 20-22% dân số cả nước) nhưng lại là địa bàn
tạp trung có mật độ dân cư, lao động cao, cũng là nơi chịu tác động mạnh mẽ của cơ chế
thị trường, thường dễ nảy sinh những điểm nóng về các vấn đề kinh tế-xã hội, nhất là vấn
đề việc làm. Vì vậy giải quyết việc làm cho lao động thành thị vừa có tính chất cơ bản lâu
dài, vừa rất cấp bách trước mắt, đặc biệt là giải quyết việc làm cho lao động thôi việc trong
quá trình sắp xếp lại lao động khu vực nhà nước, bộ đội xuất ngũ, lao động ở nước ngoài
trở về, thanh niên mới đến tuổi lao động, đối tượng tệ nạn xã hội.
-Phương hướng rất quan trọng để giải quyết việc làm cho lao động thành thị là phải
gắn với chương trình phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, nhất là ở các địa bàn có điều
kiện lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, phát triển các tập đoàn sản xuất
mạnh của nhà nước ở các vùng hoặc trên phạm vi cả nước, các công ty cổ phần, công ty

xuất-kinh doanh, tạo thêm việc làm cho người lao động. Phát triển hình thức gia công sản
xuất hàng hoá tiêu dùng cho xuất khẩu cũng là hướng rất lớn để giải quyết việc làm cho lao
động thành thị. Phải coi gia công xuất khẩu cũng là một quốc sách và lợi dụng tối đa ưu thế
của nước ta là lao động rẻ, dễ tiếp thu kỹ thuật và công nghệ mới, lại có nguồn nguyên liệu
trong nước, tại chỗ dồi dào. Vì vậy hướng phát triển gia công sản xuất ở Việt Nam là phải đa dạng hoá mặt hàng có công nghệ sử dụng được nhiều lao động như: may mặc, giầy da,
gốm sứ, lắp ráp điện tử. . và mở rộng thị trường, nhất là thị trường các nước phát triển,
trong đó coi trọng thị trường Châu á-Thái Bình Dương. Bước đi của hướng này là từ thấp
đến cao, có thể theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Chúng ta có lao động, đất, mặt bằng nhận gia công cho nước ngoài để
có việc làm, lấy tiền công là chủ yếu, còn công nghệ, trang thiết bị, vốn thị trường do đối
tác nước ngoài lo.
Giai đoạn 2. Sau khi tích luỹ được vốn, chúng ta có một phần vốn cùng với đối tác
nước ngoài tổ chức sản xuất-kinh doanh, xuất khẩu để lấy tiền công là chủ yếu và một
phần ăn chia theo lợi nhuận. ở giai đoạn này đối tác nước ngoài vẫn là người chủ yếu đảm
bảo đầu tư vốn, công nghệ, trang thiết bị và thị trường tiêu thụ.
Giai đoạn 3. Khi trong nước chủ động thị trường, tích luỹ vốn đadàu tư ban đầu thì
chuyển sang giai đoạn liên doanh với đối tác nước ngoài hoặc tự tổ chức sản xuất các mặt hàng
xuất khẩu, tiến tới hội nhập với thị trường thế giới.
Trong những năm trước mắt, hình thức gia công ở giai đoạn một là chủ yếu, vì vậy
chúng ta phải tích toán giá gia công để để có thể cạnh tranh đúng đối tác nước ngoài, thu
hút được nhiều nguồn đầu tư. Trong điều kiện đó nhiều khi chúng ta phải chấp nhận giá gia
công thấp hơn so với một so nước khác trong khu vực. Theo hướng đó có thể áp dụng được
hình thức làm việc tại nhà cho phụ nữ, vừa để kết hợp với phát triển kinh tế, vừa tạo điều
kiện cho phụ nữ chăm sóc con cái, phục vụ gia đình.
Phát triển các cơ sở dịch vụ công cộng và sự nghiệp nhà ở trong các thành phố, thị xã
sẽ tạo ra rất nhiều việc làm cho thanh niên thành thị đặc biệt là ở một số thành phố lớn (
Hà Nội, Hải Phòng, . . ), các khu công nghiệp tập trung kể cả khu chế xuất. Nhà nước cần

Tổ chức có hiệu quả các cuộc điều tra lao động việc làm của trung ương quy định. Từ
cuộc điều tra của nghành lao động-Thương Binh xã hội thành phố về lao độngchưa có việc
làm, việc thực hiện công tác thống kê, tổng hợp, lập danh sách lao động chưa có việc làm
của thành phố để chuyển giao cho quận, huyện, phường đồng thời hướng dẫn quy trình tổ
chức cập nhập lao động chưa có việc làm thành phố theo địng hướng 6 tháng, năm.
Hướng dẫn các doanh nghiệp báo cáo nhu cầu thu hút lao động theo định kỳ 6 tháng,
năm. Từ đó đối chiếu cung cầu thị trường lao động để cung cấp những thông tin lập kế hoạch dự báo nhu cầu đào tạo gắn giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố. Phát triển hoạt động tổ
thông tin thống kê dự báo lao động.
Tổ chức thực hiện và giám sát thi hành các chính sách đối với lao động nữ.
Tiếp tục phát triển chương trình xuất khẩu lao động, tổ chức có hiệu quả các chương
trình dự ánnhỏ vay vốn quỹ việc làm quốc gia, chương trình xoá đối giảm nghèo và các
chương trình liên tục về việc làm giữa nghành lao động-thương binh xã hội và các đoàn
thể.
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp việc làm nâng cao thu nhập trong cá doanh nghiệp
vừa và nhỏ khu vực kinh tế phi chính quy.
Giải quyết việc làm phải gắn liền với việc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
lao động theo hướng công nghiệp hoá.
KếT LUậN
Với toàn bộ nội dung đã trình bày ở trên chúng ta thấy rằng việc xem xét thực trạng
đưa ra các phương hướng giải quyết vấn đề về việc làm, thất nghiệp ở đô thị có vai trò
quan trọng trong giai đoạn hiện nay của nước ta. Vì cùng với quá trình đô thị hoá thì vấn
đề giải quyết sắp xếp việc làm cho người lao động ở đô thị là cần thiết, người lao động có
thu nhập dẫn đến thu nhập quốc dân hàng năm tăng. Một xã hội có nền kinh tế phát triển tỷ
lệ thát nghiệp thấp, những người thất nghiệp được bảo hiểm thất nghiệp, kỷ luật, kỷ cương

i- Khái niệm 3
1- Việc làm 3
2- Dân số hoạt động kinh tế 3
3- Dân số không hoạt động kinh tế. 3
4- Người thất nghiệp 4
5- Tỷ lệ người có việc làm 4
6- Tỷ lệ người thất nghiệp 4
ii- Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động
ở khu vực đô thị. 4
Phần ii - Thực trạng việc làm và thất nghiệp ở đô thị 6
i- đặc điểm nguồn nhân lực ở khu vực đô thị. 6
ii- Thực trạng về việc làm và thất nghiệp
ở đô thị hiện nay. 6
1- Một số đặc điểm của tình trạng lao động chưa có việc làm và thất nghiệp ở khu
vực thành thị 6
2- Việc làm và thất nghiệp cần được nghiên cứu trên các giác độ. 9
ii- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng thất nghiệp. 9
iii- Tác động của việc làm thất nghiệp lên đời sống của
người lao động ở đô thị và phát triển kinh tế xã hội. 11
Phần iii - Mục tiêu phương hướng và các giải pháp về vấn đề
việc làm và thất nghiệp. 13
i- Mục tiêu về vấn đề việc làm và thất nghiệp ở đô thị 13
ii- Phương hướng và các giải pháp chủ yếu về vấn đề việc
làm và thất nghiệp ở đô thị. 13 1- Phương hướng chủ yếu giải quyết việc làm hiện nay trong thời gian tới ở khu vực
đô thị. 14
2- Các giải pháp chủ yếu về vấn đề việc làm và thất nghiệp ở đô thị. 17
Kết Luận 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status