Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng tới sinh trưởng của giống nấm rơm V115 (Volvariella volvaceal) cấp II - Pdf 24

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng
trăm năm nay. Do đặc tính khác biệt với thực vật và động vật về khả năng
quang hợp, dinh dưỡng và sinh sản. Nấm được xếp vào thành một giới riêng.
Giới nấm có nhiều loài, chúng đa dạng về hình dáng, màu sắc, gồm nhiều
chủng khác nhau và sống ở khắp mọi nơi.
Nấm ăn bao gồm nhiều loại như nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ, nấm mộc
nhĩ, nấm hương,v.v là loại thực phẩm có chứa nhiều hàm lượng dinh dưỡng
cao: giàu protein, lipit, gluxit và các axit amin , nấm còn có chứa các hoạt
chất sinh học như các chất đường đa, axit nucleic , trong số đó có nhiều loại
không thể thay thế được, không gây sơ cứng động mạch và không tăng hàm
lượng cholesterol trong máu như nhiều loại thịt động vật. Vì vậy nấm ăn có
thể coi như là một loại “rau sạch”, “thịt sạch” và là “thực phẩm thuốc”.
Được sự quan tâm của Đảng - Nhà nước, của Bộ NN&PTNT. Các viện,
trường, trung tâm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu, chọn lọc và tạo ra các
giống nấm có năng suất cao, phù hợp cho từng vùng, từng địa phương. Một số
năm gần đây ngành sản xuất nấm của nước ta rất được quan tâm và chú trọng,
nó mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm
nghèo cho người dân lao động.
Nấm ăn có thể sản xuất ở nhiều địa bàn theo các mùa vụ, công nghệ và
quy mô khác nhau: nấm sinh trưởng nhanh, nguyên liệu sản xuất rẻ tiền, dễ
kiếm, dễ sử dụng, kỹ thuật sản xuất và chế biến không phức tạp, nhà xưởng
sản xuất đơn giản và không đòi hỏi vốn đầu tư cao.
Tính đến nay nước ta có trên 40 tỉnh thành phố sản xuất nấm ăn như :
Nam Định, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng
Yên , Hải Dương, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang , Phú Thọ
v.v [1].
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
1

2
hàng ngày, từ xa xưa ông cha ta đã có câu “Cơm không rau như đau không
thuốc” vì vậy nên rau không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Trong
các loại rau đang được trồng và sử dụng hiện nay có cây rau cải là cây đang
được trồng với diện tích rất lớn, với lượng tiêu thụ lên đến hàng chục ngàn tấn
trong năm.
Bắc Giang là một tỉnh miền núi có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi
cho nghề nấm phát triển và trong những năm gần đây nuôi trồng nấm đã thực
sự trở thành nghề mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Tuy nhiên, hiệu
quả vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh do vẫn bị động về nguồn
giống nấm, chưa đưa ra được nguồn nguyên liệu phù hợp với địa phương để
cho hiệu quả cao trong sản xuất giống nấm.
Xuất phát từ những cơ sở trên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng tới sinh trưởng của
giống nấm rơm V115 (Volvariella volvaceal) cấp II’’ nhằm góp phần hoàn
thiện kỹ thuật sản xuất giống nấm Rơm V115 cấp II.
1.2. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần môi trường dinh dưỡng tới sinh
trưởng của giống nấm Rơm V115 (Volvariella Volvacel) cấp 2.
Ảnh hưởng của loại thóc gồm: C70, Q5, di truyền, khang dân 18. Ảnh
hưởng của hàm lượng các chất bổ sung gồm: cám ngô, cám gạo, bột nhẹ
1.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng tới sự sinh trưởng
phát triển của giống nấm rơm V115:
+ Ảnh hưởng của các loại thóc
+ Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
- So sánh được sự sinh trưởng của giống nấm rơm V115 trên các loại
thóc khác nhau.

* Bao gốc (Volva)
- Bao gốc dài và cao lúc nhỏ bao lấy mũi nấm, khi mũ nấm trưởng thành gây
nứt bao, bao gốc chỉ còn lại phần trùm lấy gốc chân cuống nấm. Bao nấm là
hệ sợi tơ nấm chứa sắc tố melanin tạo ra mầu đen ở bao gốc. Độ đậm nhạt tùy
thuộc vào loài và áng sáng, ánh sáng càng nhiều thì bao gốc càng đen.
Bao gốc có tác dụng:
+ Chống tia tử ngoại của mặt trời.
+ Ngăn cản sự phá hoại của côn trùng.
+ Giữ nước và ngăn sự thoát hơi nước của các cơ quan bên trong.
+ Do đóng vai trò bảo vệ nên thành phần dinh dưỡng của bao gốc rất ít.
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
5
* Cuống nấm (Stipe)
Là bó hệ sợi xốp, xếp theo kiểu vòng tròn đồng tâm. Khi còn non thì
mềm và giòn, khi già xơ cứng lại và khó bẻ gẫy.
Vai trò của cuống nấm là:
+Cuống nấm phát triển cùng quả nấm, đưa mũ nấm lên cao để
phát tán bào tử đi xa.
+ Vận chuyển chất dinh dưỡng để cung cấp cho mũ nấm.
* Mũ nấm (pileus)
Mũ nấm hình nón cũng có chứa melanin nhưng nhạt dần từ trung tâm
ra rìa mép. Bên dưới mũ có chứa nhiều phiến nấm xếp theo dạng tia kiểu
vòng tròn đồng tâm. Mỗi phiến mấn có thể sinh ra khoảng 2.500.000 bào tử.
Mũ nấm cấu tạo bởi hệ sợi tơ đam chéo nhau rất giàu chất dinh dưỡng dự trữ,
giữa vai trò sinh sản.
2.1.1.4. Chu kỳ sống của nấm rơm
- Nấm rơm có chu kỳ sống rất điển hình của các loại nấm tán (nấm đảm -
Bassidiomycetes). Chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ sự nẩy mầm của
đảm bào tử (Bassi diomycetes).
- Đảm bào tử có hình trứng, bên ngoài có lớp vỏ dày. Lúc còn non có màu

ra đinh ghim 2 - 3 ngày nấm lớn rất nhanh bằng hạt ngô, quả táo, quả trứng
(giai đoạn hình trứng); lúc trưởng thành (giai đoạn phát tán bào tử, nở xòe)
trông giống như một chiếc ô dù có cấu thành các phần hoàn chỉnh
2.1.2. Giá trị dinh dưỡng của nấm Rơm
Nấm rơm được xem là một loại rau sạch, thịt sạch, rau cao cấp. Nấm
rơm rất giàu dinh dưỡng như: protein, lipit, gluxit, các axit amin.….
Nếu nhận xét về hàm lượng đạm (protein) có thấp hơn thịt, cá nhưng lại
cao hơn bất kỳ một loại rau quả nào khác.
Nấm ăn nói chung, nấm rơm nói riêng có giá trị dinh dưỡng là chứa
nhiều đạm, ít calo ngoài ra còn có các chất có ích cho cơ thể con người như
đường đa, khoáng và sinh tố. Người ta xem nguồn chất đạm của nấm ăn, của
thực vật, của động vật sẽ là 3 nguồn đạm quan trọng của con người sau này.
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
7
Theo phân tích của các nhà khoa học trong 112 loại nấm ăn có hàm
lượng bình quân: protein 25%; lipit 8%; gluxit 60% ( trong đó đường là 5%,
xơ là 8%); chất tro 7%, đặc biệt là nấm mỡ (A.bisporus) có hàm lượng protein
cao tới 44% (Trạch Điền Mãn Hỷ 1983 – AdriAno and cruz 1933), xếp sau
nấm mỡ là nấm rơm có hàm lượng protein cao nhất 40%. Tỷ lệ % tính theo
100g chất khô.
* Hàm lượng protein của nấm:
Theo phân tích của sinh hóa học và sinh học phân tử đã chứng minh
protein và axit nucleic là cơ sở vật chất quan trọng nhất trong quá trình hoạt
động của sự sống. Hoạt động của các hệ thống enzim trong cơ thể cũng có
bản chất là protein, chất kích thích có tác dụng điều tiết quá trình trao đổi chất
là protein hoặc dẫn xuất của protein. Các hoạt động co duỗi của cơ chính là
protein tạo thành, các phản ứng miễn dịch của cơ thể đều nhờ có protein mà
thực hiện được. Cơ thể con người được cung cấp nguồn protein từ nấm có lợi
ích là không chứa cholesteron như nguồn protein từ động vật.
Protein của nấm ăn cũng gồm 2 loại: protein đơn thuần và protein phức

Thành phần xenlulo trong nấm ăn bình quân là 8%. Xenlulo của nấm
có tác dụng chống lại sự kết lắng của muối mật và làm giảm hàm lượng
cholesterol trong máu nhờ thế mà phòng được sỏi thận và huyết áp cao. Vì
vậy thường xuyên ăn các loại nấm ăn nấm hương, nấm mỡ, nấm rơm, nấm
sò… rất có lợi cho sức khỏe.
Nấm chứa ít chất đường với hàm lượng thay đổi từ 3 - 28% trọng lượng
tươi. ở nấm rơm, lượng đường tăng lên trong giai đoạn phát triển từ dạng nút
sang dạng kéo dài, nhưng lại giảm khi trưởng thành.
Nấm rơm chứa nhiều sinh tố A, B, C, K, E…
Nấm rơm được ghi nhận là dòng giàu Na, K, Ca, P và Mg, chúng chiếm
từ 56-70% lượng tro tổng cộng.
Nấm rơm là một loại thực phẩm rất phù hợp cho những ngày ăn chay,
cho người cao huyết áp…, chế độ dinh dưỡng của người cao huyết áp là ăn
nhạt, ăn giàu hoa quả, giàu đạm thực vật và giảm ăn thịt, đặc biệt là không
nên ăn mỡ. Nếu ăn mỡ thì nên dùng dầu thực vật thay cho mỡ động vật như
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
9
dầu vừng, dầu lạc, dầu hướng dương… Nấm rơm là nguồn đạm thực vật quý
rất tốt cho nguời cao huyết áp.
Nấm rơm là món ăn có tác dụng ngăn ngừa ung thư. Đặc biệt trong
nấm rơm đều có chất chống lão hóa mang tên L – ergothionrine, chất này chỉ
có ở nấm và không bị mất đi trong quá trình chế biến.
Trong thành phần của nấm rơm có hàm lượng khoáng chất potassium cao, có
khả năng ngăn chặn chứng cao huyết áp rất nguy hiểm ở người. Người ăn
nấm nhiều còn có tác dụng làm đẹp cho làn da cơ thể.
Bảng 2.1: Thành phần phân tích của nấm rơm
Mẫu
phân
tích
Độ ẩm

Nấm rơm được coi là cây kinh tế của người dân. Việc phát triển nghề
trồng nấm sẽ giúp nông dân tận dụng được những phế liệu của nông nghiệp là
rơm rạ, bông phế liệu…, để tạo ra nguồn thực phẩm sạch có giá trị kinh tế cao
giải quyết được việc làm tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống
cho người nông dân. Từ nghề trồng nấm rơm đã góp một phần nhỏ vào tăng
trưởng của nền kinh tế quốc dân của nước ta.
2.2. Nghiên cứu nuôi trồng nấm rơm trên thế giới và trong nước
2.2.1. Trên thế giới.
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
10
Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nhiều
loại nấm ăn như nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương, nấm sò…, khu vực Bắc Mỹ
và Châu Âu, trồng nấm theo phương pháp công nghiệp. Những “nhà máy”
sản xuất nấm có công suất từ 200 – 1000 tấn/năm được cơ giới hóa cao. Từ khâu
xử lý nguyên liệu đến thu hái và chế biến đều do máy móc thực hiện. Năng suất
nấm trung bình đạt từ 40 – 60% so với nguyên liệu ban đầu (nấm mỡ).
Thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài
Loan, các nước Châu Âu…, hàng năm các nước này phải nhập khẩu từ Trung
Quốc (nấm muối và nấm đóng hộp). Tại các nước này do khó khăn về nguồn
nguyên liệu và giá công lao động rất đắt nên những người nuôi trồng nấm và
kinh doanh mặt hàng này đang chuyển dịch sang các nước chậm phát triển để
mua nguyên liệu và chế biến tại chỗ. Nguồn nguyên liệu rơm rạ ở các nước có
nền nông nghiệp lúa nước, lúa mạch phát triển rất nhiều không được sử dụng
vào trồng nấm, mà người dân đem đốt trên các cánh đồng, gây ô nhiễm môi
trường, ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt của con người, phá hoại các vi sinh
vật, động vật có ích cho công tác sản xuất cho nông nghiệp. [9]
Thị trường nấm ăn trên thế giới rất lớn, trung bình mỗi năm nhân loại
tiêu thụ khoảng 15 triệu tấn nấm rơm. Nấm rơm trị giá 1700 – 6500 USD/ tấn.
Trên thế giới, tập trung nghiên cứu và sản xuất nhiều loại nấm ăn, Trung
Quốc là nước có nền sản xuất nấm lớn nhất thế giới (gồm hơn 2000 cơ quan

nghị quốc tế về nấm ăn),v.v…[15]
Nhìn chung, nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp. Nhất là
trong 20 năm gần đây. Theo đánh giá của Hiệp hội khoa học nấm ăn Quốc tế
(ISMS), có thể sử dụng 250 phế phụ liệu của Nông – Lâm nghiệp để trồng
nấm, đem lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội. Sản xuất đem lại nguồn thực phẩm
sạch, tạo công ăn việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng, chống lại
việc đốt rơm rạ, xử lý gọn các phế liệu bông khi đã thu lấy sợi xong, tạo ra
nguồn phân hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần vào chu trình chuyển hóa vật
chất. Trong sinh học, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nghề nấm
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
12
về chọn, tạo giống nấm, về kỹ thuật nuôi trồng và sự bùng nổ thông tin. Nghề
trồng nấm đã và đang trên toàn thế giới được coi là nghề xóa đói giảm nghèo
và làm giàu, thích hợp với các vùng nông thôn, miền núi.
Theo báo cáo tham luận tại hội thảo ‘‘Phát triển nghề trồng nấm ăn và
nấm dược liệu’’ thì năm 1980 tổng sản lượng nấm nuôi trồng trên toàn thế
giới là 916.000 tấn nấm, đến năm 2005 tổng sản lượng là 181.598.000 tấn
2.2.2. Tại Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu và phát triển sản xuất nấm ăn ở Việt Nam, được bắt
đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX. Lúc đầu chỉ là những trung tâm nghiên
cứu nhỏ lẻ về nấm ăn, chỉ sau một thời gian nghiên cứu, chọn và tạo ra các
loại nấm ăn có chất lượng tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao, thì nghề trồng
nấm đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học ở các viện, các trung tâm
nghiên cứu trên cả nước tìm hiểu và nghiên cứu, chọn và tạo ra các nấm phù
hợp cho từng vùng, từng địa phương, từng mùa vụ, từng kiểu khí hậu.
- Năm 1984, thành lập Trung tâm nghiên cứu Nấm ăn thuộc Đại học
Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).
- Năm 1985, tổ chức FAO tài trợ và ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
quyết định thành lập trung tâm sản xuất giống nấm Tương Mai – Hà Nội (nay
đổi tên thành công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà Nội.

cơ, tạo độ phì nhiêu cho đất.
Với những tiềm năng phát triển nghề trồng nấm của nước ta là tương
đối thuận tiện cho nghề trồng nấm, để đi đến được những thành công thì
không tránh khỏi những thất bại. Sau đây là những nguyên nhân chưa thành
công của nghề trồng nấm (đối với các tỉnh phía Bắc) là:
* Việc tổ chức sản xuất nấm của các đơn vị chuyên ngành về nấm còn
nhiều yếu kém:
- Chất lượng giống nấm chưa được đảm bảo từ khâu sản xuất cho đến
quá trình nuôi giống, bảo quản, cách sử dụng. Các loại giống nấm đã đang
được nuôi ở Việt Nam, từ nhiều nguồn giống khác nhau. Một số giống nhập
từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Italia, Nhật Bản,… Một số khác được sưu
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
14
tầm trong nước, song việc chọn lọc, kiểm tra, để đánh giá tiềm năng về năng
suất và chất lượng của từng loại từ đó để nhân giống đại trà phục vụ sản xuất
hầu như chưa có đơn vị nào đảm trách.
- Khâu hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, chế biến nấm muốn đạt đến chất
lượng xuất khẩu, đến từng hộ gia dình không đầu đủ, do thiếu cán bộ và trình
độ kỹ thuật còn non kém. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và làm công tác kỹ thuật
về nấm ăn được đào tạo cơ bản tại các trường đại học, có kinh nghiệm lâu
năm, chuyên tâm với nghề nghiệp còn quá ít.
- Hợp đồng xuất khẩu nấm thường không đủ về số lượng, chất lượng
thấp dẫn đến mất lòng tin với khách hàng nước ngoài.
* Các thiết bị, công nghệ trồng nấm nhập khẩu từ nước ngoài không
phù hợp với Việt Nam về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội: giá thành sản
xuất 1kg nấm theo công nghệ Đài Loan và Italia cao hơn nhiều so với giá
thành 1kg nấm sản xuất trong dân.
- Thiết bị trồng nấm, chủ yếu là máy băm rơm rạ, hệ thống quạt gió, hệ
thống tưới nước, máy đảo ủ nguyên liệu,…
- Nhà trồng nấm tập trung theo kiểu “trang trại”.

Thị trường tiêu thụ nấm ở nước ta hiện nay khá thuận lợi. Năm 2002,
cả nước mới sản xuất được 100.000 tấn nấm thực phẩm thì đến nay đã đạt
150.000 tấn/năm. Năng suất nuôi trồng hiện nay tăng gấp 1,5 – 2 lầnsovới 10
năm trước đây. Thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng, giá thành tiêu thụ ở
các thành phố lớn gấp 2 – 3 lần giá thành sản xuất . Từ những điều kiện thuận
lợi về lao động, vốn đầu tư phù hợp, nguồn nguyên liệu sẵn có, thị trường tiêu
thụ trong nước ngày càng mở rộng, giá thành sản phẩm ổn định và nâng cao
là cơ hội cho ngành nấm phấn đấu mục tiêu đến năm 2010 đạt một triệu tấn
sản phẩm và đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD/năm. Phấn đấu đến năm 2015
nước ta sẽ sản xuất được 1,5 triệu tấn nấm góp phần giải quyết việc làm và
tăng thêm thu nhập cho nông dân. Nguyên nhân là nguồn nguyên liệu không
đảm bảo về chất lượng, sản phẩm không đồng đêù về kích thước và mẫu mã.
Sản xuất được 1 triệu tấn sản phẩm như mục tiêu đã đề ra chúng ta sẽ thu
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
16
được 7.000 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu đạt 200 triệu USD, tương đương
3.200 tỷ đồng. Nhưng hạn chế lớn nhất của chúng ta là sản phẩm chưa có
thương hiệu riêng nên sản phẩm thường phải gắn mác của các công ty nước
ngoài. Chính vì điều này đã phần nào kìm hãm sự phát triển của nghề nấm ở
nước ta.
Theo báo cáo tại Hội thảo ‘‘Phát triển nghề sản xuất nấm ăn và nấm
dược liệu’’ (2007, Yên Khánh – Ninh Bình), số lượng giống nấm do Trung
tâm Công nghệ sinh học thực vật – Viện Di truyền nông nghiệp cung ứng cho
các tỉnh được tổng hợp như trong bảng2.2
Bảng 2.2. Số lượng giống nấm Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật -
Viện Di truyền nông nghiệp cung ứng cho các tỉnh từ năm 2001 - 2006. [7]
Cấp giống
Năm
Giống nấm gốc
(ống)

lực sản xuất, hiệu quả kinh tế chưa cao, chưa tạo thành nghề sản xuất trong
nông nghiệp nông thôn .
Năm 2007, UBND tỉnh Bắc Giang đã phê duyệt ‘‘Đề án phát triển sản
xuất nấm tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2007 - 2010’’, thành lập Trung tâm Giống
nấm Bắc Giang thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Bắc Giang với mục tiêu
xây dựng các vùng sản xuất nấm hàng hóa có quy mô tập trung, tăng sản
lượng hàng hóa nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp.
Chính vì vậy, phong trào trồng nấm trong những năm qua đã có sự khởi
sắc trở lại. Lượng nguyên liệu đưa vào sản xuất tăng nhanh qua các năm
(năm 2005: 200 tấn; năm 2006: 600 tấn; năm 2007: 1800 tấn), chủng loại nấm
phong phú hơn (gồm nấm Rơm, nấm Mỡ, nấm Sò và nấm Mộc nhĩ). Đến cuối
năm 2007, cả tỉnh đã có gần 1.000 hộ nông dân sản xuất nấm đạt hiệu quả
kinh tế cao; hình thành một số trang trại có quy mô đầu tư hàng trăm triệu
đồng.
Năm 2010, UBND tỉnh Bắc Giang xác định nấm và thủy sản là hai tiềm
năng và là hai ngành mũi nhọn phát triển của tỉnh trong lĩnh vực nông – lâm
nghiệp. Theo Dự án ‘‘Xây dựng mô hình sản xuất giống nấm và nấm hàng
hóa có năng suất, chất lượng cao và bảo quản, chế biến tại tỉnh Bắc Giang’’,
thời gian thực hiện đề án từ tháng 4/2009 đến tháng 4/2010 dự kiến sản xuất
3.000 tuýp giống nấm cấp I, 5.500 chai giống cấp II, 55 tấn giống nấm cấp III
các loại, 7.000 – 8.000 tấn nấm tươi gồm các loại: nấm Rơm, nấm Mỡ, nấm
Sò, Mộc nhĩ, nấm Chân trâu, nấm Chân dài, nấm Đùi gà, nấm Ngọc châm,
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
18
Kim châm, 5 – 10 tấn nấm sơ chế (nấm muối và nấm sấy). Tất cả các loại
nấm thương phẩm đều phải đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
2.3. Quy trình công nghệ nuôi trồng nấm rơm
2.3.1.Giới thiệu chung về sản xuất giống.
Sản xuất giống nấm là khâu quan trọng nhất của quá trình nuôi trồng

thạch nghiêng
Giống cấp II: trên môi trường hạt
Giống cấp III: trên môi trường hạt
hoặc môi trường tổng hợp
Phân lập
Cấy chuyền
Cấy chuyền
Cấy chuyền
PHÂN III
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Vật liệu, nguyên liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu.
3.1.1. Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu: Giống nấm rơm V115 (Volvariella Volvaceal) cấp 1 của
Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật – Viện Di truyền Nông nghiệp.
cám gạo, cám ngô, bột nhẹ.
3.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm thực tập: Các thí nghiệm được tiến hành tại Phòng sản xuất giống
nấm – Trung tâm Giống nấm Bắc Giang – Tân Dĩnh – Lạng Giang – Bắc
Giang.
- Thời gian thực hiện các thí nghiệm
+ Ngày 20/04/2010 – 27/04/2010 tiến hành thí nghiệm với 4 loại thóc.
+ Ngày 06/05/2010 – 21/05/2010 tiến hành thí nghiệm với tỷ lệ khac
nhau của các chất bổ sung.
3.2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần môi trường dinh dưỡng tới sinh
trưởng của giống nấm Rơm V115 (Volvariella Volvaceal) cấp 2.
- Ảnh hưởng của loại thóc gồm: C70, Q5, di truyền, khang dân 18.
- Ảnh hưởng của hàm lượng các chất bổ sung gồm: cám ngô, cám gạo,
bột nhẹ.
3.3. Phương pháp nghiên cứu

Bước 2. Phối trộn phụ gia: Chất phụ gia được phối trộn đều với thóc đã
luộc tùy theo tỷ lệ trong mỗi công thức thí nghiệm.
Bước 3. Đóng chai: Nguyên liệu sau khi được phối trộn đều được đổ vào
bình tam giác 150 ml tới vai của chai là đạt. Làm nút bằng bông sạch, chụp
ngoài cổ nút bằng nilon chịu nhiệt.
Bước 4. Khử trùng: Nguyên liệu được khử trùng ở điều kiện áp suất 1.5
atm trong 2 giờ. Sau khi khử trùng xong, chuyển các bình nguyên liệu đã khử
trùng vào phòng cấy, gỡ bỏ nilon chịu nhiệt chụp trên cổ nút ra.
Bước 5. Cấy giống: Nguyên liệu sau khi được khử trùng được để nguội
(sau 8 giờ) rồi cấy giống cấp II đúng tuổi, chất lượng tốt trong box cấy đã
được vô trùng, mỗi bình cấy giống với tỷ lệ 1 %.
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
22
Bước 6. Ươm sợi, chọn nhiễm:
+ Ươm sợi: Bình giống nấm đã cấy được chuyển vào phòng nuôi giống
nấm ở điều kiện nhiệt độ 30
0
C.
+ Chọn nhiễm: Sau khi cấy 3 - 4 ngày phải tiến hành quan sát chọn
nhiễm, trong quá trình chọn nhiễm vừa chọn nhiễm, vừa chọn giống, theo dõi
sự sinh trưởng của sợi nấm.
3.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm cụ thể
3.3.2.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các giống thóc tới sự sinh
trưởng của giống nấm rơm V115 (Volvariella Volvaceal) cấp II.
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của loại thóc đều bổ sung: 98,5 % thóc
+ 1,5 % bột nhẹ (CaCO
3
).
Trong mỗi công thức thí nghiệm đều cân lượng thóc và bột nhẹ như
công thức vừa nêu, nhưng thay đổi loại thóc khác nhau ở mỗi công thức được

o CT9: Thóc + 1.5% bột nhẹ + 3% cám ngô.
o CT10: Thóc + 1.5% bột nhẹ + 5% cám ngô.
* Thí nghiệm 2.3: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ giữa cám gạo, cám ngô và
tỷ lệ % bột nhẹ tới sự sinh trưởng của hệ sợi nấm.
Nhân giống nấm rơm V115 cấp 2 trong thí nghiệm được tiến hành theo
công thức: bột nhẹ + thóc + cám ngô + cám gạo
Công thức cho hiệu quả tốt nhất trong thí nghiệm 2.1 và 2.2 được dùng làm
công thức phối trộn trong thí nghiệm.
Các mẫu thí nghiệm được đặt trong hệ thống khay đựng nước được che
kín bằng nilon, trao đổi khí với bên ngoài bằng nút bông, sử dụng máy đo độ
ẩm không khí lượt trong các công thức thí nghiệm CT11, CT12, CT13, CT14
Tỷ lệ cám gạo cho hiệu quả tốt nhất trong thí nghiệm 2.1 (giả sử là x)
và tỷ lệ cám ngô cho hiệu quả tốt nhất trong hiệu quả 2.2 (giả sử là y) được
đem phối trộn với nhau với tỷ lệ 1,5% bột nhẹ nhằm nghiên cứu ảnh hưởng
của phối trộn giữa cám ngô, cám gạo, bột nhẹ và thay đổi tỷ lệ bột nhẹ trong
Khoá luận tốt nghiệp Chu Xuân Cương –8K
24
mỗi công thức thí nghiệm nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của bột nhẹ được thể
hiện như trong bảng 2.3
Bảng 2.3. Công thức phối trộn nguyên liệu 3
STT Tên CTTN
Cám ngô
(%)
Cám gạo
(%)
Bột nhẹ
(%)
Thóc
(%)
1 CT11 3 5 0.5 100-(x+y+0,5)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status