Học viện ngân hàng 1 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
A/đặt vấn đề
Đất nước việt nam ta trong thế kỉ trước đã trải qua 3/4 thế kỉ sống
trong chiến tranh đất nước bị tàn phá hoang tàn đổ nát với vật chất kĩ thuật
lạc hậu.Vậy mà mới chỉ sau gần 30 năm sau ngày giải phóng cuộc sống của
chúng ta được cải thiện rõ ràng .Kinh tế chính trị ổn định tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao và bền vững. Đặc biệt là từ năm 1988 trở lại đây,từ khi chóng ta
tiến hành công cuộc đổi mới đất nước một cách toàn diện về mọi mặt đời
sống xã hội có những chuyển biến sâu sắc, tích cực Đảng và nhà nước đã
vận dụng sáng tạo tư duy triết học Mac- Lênin: “bản chất con người là tổng
hoà các mối quan hệ xã hội”
Con người là sản phẩm của xã hội nhưng cũng chính con người
tạo lên xã hội Êy và cải tạo xã hội đưa xã hội tiến lên bằng chính tri thức mà
mình có được từ xã hội.
Có được sự phát triển của đất nước nh ngày nay không thể không kể
đến đóng góp của tri thức khoa học. Ngay từ xưa tổ tiên ta vẫn coi “hiền tài
là nguyên khí quốc gia nguyên khí Êy mạnh thì nước thịnh nguyên khí Êy
yếu thì nước suy”. Vì thế hiền tài được trọng dụng ở mọi thời đại mọi lúc
mọi nơi. Hay nói khác đi là tri thức khoa học luôn cần cho sự phát triển của
loài người
Không có ý thức con người không khác gì so với những loài vật
trong tự nhiên. Vì có ý thức từ quan sát trực quan, con người tìm ra được
nguyên lý cũng như tác dụng của moị hiện tượng từ đó sáng tạo ra những cái
mới từ đó nhờ quá trình lao động sự tiến hoá của loài người luôn đi cùng sự
tiến bộ của công cụ sản xuất.
Ngày nay lực lượng sản xuất trên thế giới đã phát triển tới một
trình độ cao trong khi đó đất nước ta còn ở tình trạng lẹt đẹt chậm tiến hàng
chục thậm chí hàng trăm năm so với các nước khác trên thế giới. Năm 1988
là một dấu mốc quan trọng nã thể hiện quyết định đúng đắn sáng suốt của
Đảng và Nhà nước ta. Đất nứơc ta chậm phát triển lực lượng sản xuất trình
quốc gia trên thế giới. Vì vậy, các nước nhất là các nước phát triển đã giành
ưu tiên phát triển khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế -xã hội.
Học viện ngân hàng 3 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
Đầu tư cho giáo dục thích đáng, cấp vốn cho các hoạt động nghiên cứu khoa
học và ứng dụng nó .Trọng dụng các nhà khoa học tránh chảy máu chất xám
hiện nay đất nước rất cần những nhà khoa học tài giỏi tuy nhiên những nhà
khoa học lai được hưởng chế độ chưa được thoả đáng cho nên giới trẻ ngày
nay rất Ýt người chon cho mình nghề nghiên cứu khoa học. Vì vây nhà nước
cần có những chính sấch giữ lại những nhân tài do chính mình đào tạo ra.
Các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, đang
thay đổi toàn bộ hành vi và tư duy của mỗi thành viên nhân loại. Vai trò con
người và tri thức khoa học công nghệ được nâng lên một tầm cao mới. Vì
vậy mà em chon đề tài : “vai trò của khoa học công nghệ thời kì đổi mới
của Việt Nam” cho bài tiểu luận đầu tay này. Do thời gian hạn chế nên
không thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Kính mong các thầy cô đóng
góp ý kiến nhiệt tình của các thầy cô trong khoa cho bài tiểu luận của em.
Học viện ngân hàng 4 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I/ CHUNG CỦA LÝ LUẬN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ Ý
THỨC
I.1/QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MAC-XIT VỀ Ý THỨC
a/Định nghĩa và kết cấu ý thức
Theo triết học Mac- Lênin “ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế
giới khách quan vào bộ não con người thông qua lao động và ngôn ngữ”. Để
đưa ra được định nghĩa trên con người phải trải qua một quá trình lịch sử lâu
dài với những quan niệm về ý thức nhiều khi không trọn vẹn. Ngay tù thời
cổ xưa khi con người còn mơ hồ về cấu tạo bản thân mình vì chưa lý dải
hiện hướng về bản thân minh tự khẳng định “cái tôi” riêng biệt tách rời
những quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý
thức là ý thức hướng về bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên
ngoài. Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt được mình,
đối lập mình với thế giới đó và tự nhận thức mình như một thực thể hoạt
động có cảm giác, có tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã
hội, đặc biệt trong giao tiễp xã hội và hoạt động thực tiễn đòi hỏi con người
phải nhận thức rõ bản thân mình, tự điều chỉnh mình tuân theo các tiêu
chuẩn, quy tắc mà xã hội đặt ra. Con người có thể đặt ra và trả lời các câu
hỏi: Mình là ai? Mình phải làm gì? Mình dược làm gì ? Làm nh thế nào?
Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò là gương soi góp con người tự ý thức
được bản thân. Tiềm thức mà chủ thể có từ trước nhưng gần nh bản năng, kĩ
năng nằm sâu trong ý thức của chủ thể.
Vô thức là hiện tượng tâm lý điều khiển những hoạt động xảy ra ở
bên ngoài phạm vi của ý thức hoặc không được tri thức chỉ đạo.
Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất có liên quan đến hành vi trước kia
đã được ý thức nhưng lặp đi lặp lại trở thành thãi quen và loại thứ hai liên
quan đến các hành vi chưa được con người ý thức. Vô thức biểu hiện bằng
những hiện tượng nh: bản năng ham muốn, giấc mơ, bị thôi miên, sự dày vò
mặc cảm …. Có những vô thức có hại nh lì lời làm mất lòng người
Học viện ngân hàng 6 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
khác… song có những vô thức có lợi hụt hẫng một đIều gì đó nhưng lại
thấy nó thành sự thật trong giấc mơ. Vô thức có lợi tạo sự cân bằng bù đắp
lại những gì không được nh mong muốn, lấp đi những lỗ hổng trong tâm
hồn. Do đó giúp chúng ta có thể giảm bớt những căng thẳng trong cuộc
sống. Vì vậy việc tăng cường rèn luyện những hành vi tích cực thành thãi
quen có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người.
Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con người về thế giới. Nói đến tri
thức là nói đến học vấn, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Sự hình
Cũng không thể quy một cách đơn giản ý thức về các quá trình
sinh lý như quan niệm cho rằng óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật, vì óc là
cơ quan phản ánh, nội dung của ý thức là thế giới bên ngoài, ý thức là sự
phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người. Sự xuất hiện của ý thức
gắn liền với sự phát triển đặc tính phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với
đặc tính của thế giới tự nhiên.
Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Trước khi con người
xuất hiện thì vật chất đã có đặc tính phản ánh từ những phản ánh đơn giản,
thụ động không lùa chọn như phản ánh trong thế giới vô cơ: cơ học, vật lý,
hoá học đến những phản ánh có tính cao hơn lùa chọn hơn như ở trong thế
giới hữu sinh. Phản ánh tâm lý là hình thức phản ánh của các động vật có hệ
thần kinh trung ương. Đây là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới động
vật, nó là những hành động có điều kiện và lùa chọn hình thức thực hiện.
Phản ánh có ý thức là sư phản ánh cao nhất của sự phản ánh nó
chỉ có khi xuất hiện con người và xã hội loài người. Sự phản ánh này không
thể hiện ở cấp độ cảm tính nh cảm giác, tri giác, biểu tượng nhờ hệ thống tín
hiệu thứ nhất mà còn thể hiện ở cấp độ lí tính: khái niệm, phán đoán, suy lý
nhờ tín hiệu thứ hai(ngôn ngữ). Sự phản ánh của ý thức là sư phản ánh có
mục đích, có kế hoạch, tự giác, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng
buộc sự vật bộc lé những đặc điểm của chúng. Sự phản ánh ý thức luôn gắn
liền với làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển xã hội.
+ Nguồn gốc xã hội
Học viện ngân hàng 8 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
Chỉ có nguồn gốc tự nhiên vẫn chưa đủ hình thành ý thức. Mà
phải có tác động của nhân tố xã hội. Nhân tố xã hội là tổng thể của các nhân
tố khác nhau. Nhưng cái cơ bản và quan trọng nhất là nhân tố lao động. Lao
động là loài người sử dụng công cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên
biến đổi thế giới tự nhiên tạo sản phẩm phù hợp với mình. Đó chính là quá
trình con người tác động khám phá thế giới tự nhiên. Con nhười thoát ra
Bản tính phản ánh quy định tính khách quan của ý thức tức là ý thức phải
lấy tính khách quan làm tiền đề bị cái khách quan quy định và có nội dung
phản ánh thế giới khách quan.
Ý thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động. Bản
thân lao động là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con
người. ý thức không chộp lại một cách nguyên si thụ động sự vật mà đã có
cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình sử lý thông tin.
Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với nhau không thể
tách rời.Hiện thực cho thấy:không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì
phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sáng tạo. Ngược lại không có sáng
tạo thì không phải là sự phản ánh của ý thức. Đó là mối liên hệ biện chứng
giữa hai quá trình thu nhận và sử lý thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt
khách quan và chủ quan trong ý thức. Vì vậy, Mác đã gọi ý thức ý niệm là
hiện thực khách quan đã được di chuyển vào bộ não con người và biến đổi
đi trong đó.
+Bản tính xã hội
Ý thức được hình thành trong lao động, hoạt động cải tạo thế giới
của con người. Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu
liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác. do dó mà
khái niệm hoạt động xã hội ra đời. Ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã
hội, ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội về thế giới khách
quan đang diễn ra xung quanh, về mối liên hệ giữa người với người trong xã
hội do đó ý thức xã hội được hình thành cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội
không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhân vừa có cái chung cửa giai
Học viện ngân hàng 10 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
cấp của dân téc và các mặt khác của xã hội vừa có những nét độc đáo riêng
do những điều kiện hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định. Như vây con
người suy nghĩ và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc của mình mà
con bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác cả xã hội của nhân loại
b/ Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã
hôi.
Khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt
động thực tiễn.Vai trò của khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển
của xã hội.
Ngày nay, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vai trò
của nó thể hiện ở chỗ khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời những
ngành sản xuất mới công nghệ mới, nguyên liệu mới. Khoa học trở thành
yếu tố tri thức không thể thiếu của người lao động, biến người lao động
thành người điều khiển kiểm tra quá trình sản xuất. Đội ngò các nhà khoa
hoc, kỹ thuật viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ngày một đông .
Bản thân khoa học cũng trở thành một lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất
với quy mô ngày càng lớn .
Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật , các khoa học
xã hội nh kinh tế học , luật học , xã hội học …cũng không ngừng phát triển
và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội . Khoa học không chỉ góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn giúp con người có đầu óc tư
duy sáng tạo , tầm nhìn sâu rộng . Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các
nhà lãnh đạo vì phải nắm được cơ sở khoa học thực tế thì mới có kế hoạch
định được chính sách đường lối phát triển của một tổ chức hay một quốc gia
.
Tóm lại, có khoa học là bạn đồng hành thì xã hội ngày càng văn minh
tiến bộ hơn .
II/ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM
Học viện ngân hàng 12 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
II.1/VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI
MỚI CỦA VIỆT NAM
a/Tính tất yếu của công cuộc đổi mới.
lớn do khoa học –công nghệ mang lại. Trên thế giới sự xuất hiện các nhóm
nước mới công nghiệp hoá (Nic) sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng không
nằm ngoài ảnh hưởng lan toả của các thành tựu khoa học công nghệ thông
qua quá trình chuyển giao công nghệ tiến bộ bằng các chính sách công
nghiệp và nông nghiệp khôn ngoan, các nước NIC đã tận dụng được cơ hội
tiếp thu nhanh chóng các công nghệ mới , thay đổi phương thức sản xuất cũ
vốn dùa trên lao động thủ công và tài nguyên chủ yếu để chuyển sang áp
dụng các kĩ thuật cơ khí hoá ,tự động hoá theo hướng tạo ra các giá trị tăng
cao thúc đẩy sự phát triển tăng trưỏng kinh tế. Nhờ đi theo con đường công
nghiệp hoá hiện đại hoá dùa hẳn vào khoa học công nghệ mà một số nước
đã rút ngắn được thời gian cần thiết để làm tăng gấp đôi thu nhập bình quân
đầu người. Trước kia, nước Anh phải mất 58 năm, Mỹ mất 47 năm thì giê
đây Braxin chỉ mất 18 năm , hàn quốc chỉ mất 11 năm và Trung Quốc chỉ
trong vòng 10 năm. Ta có thể so sánh Hàn Quốc và Gana vào những năm 60
và bây giê. Điểm xuất phát hai nước đều có thu nhập bình quân đầu người
như nhau, đều là các quốc gia chậm phát triển. Vậy mà ngày nay, thu nhập
đầu người của Hàn Quốc đã gấp 6 lần của Gana. Vì sao có sự cách biệt lớn
lao nh vậy? Đó là do Hàn quốc đã thu nhận và sử dụng tri thức khoa học
sáng tạo và phù hợp với thực tiễn hơn.
Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy:ở đâu có sự
sáng tạo trong công cuộc đổi mới các giải pháp về khoa học công nghệ thì ở
đó có sự tiến bộ vượt bậc. Thử hỏi nếu Việt Nam vẫn giữ nền kinh tế tập
chung bao cấp chưa chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thi hiện
giê đất nước chúng ta sẽ ra sao.
Về nông nghiệp sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoá áp
dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho thấy vai
trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỉ lục về
Học viện ngân hàng 14 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như : vốn ,
Lênin
Đời sống của nhân dân dần được cải thiện. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng
kinh tế xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hụt hẫng về thị
trường.Kinh tế tăng trưởng tương đối cao: tổng sản phẩm trong nước tăng
bình quân 7,5% trong một năm; giá trị nông lâm ngư nghiệp tăng bình quân
5,7% trong một năm. Trong đó : nông nghiệp tăng 5,6%, lâm nghiêp tăng
0,4%và ngư nghiệp tăng 8,9%. Công nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu
đáng kể. Nhịp độ tăng giá trị sản xuất hàng năm 13,5%. Đầu tư sản xuất ra
sản phẩm có chiều sâu đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Dịch vụ
phát triển với giá trị trung bình là 6,8%/năm, lạm phát giảm đáng
kể:năm1986là 587,2%thì năm 1990 chỉ còn 52,8%.
Về chính trị xã hội nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
trong giai đoạn 1996-2000 đã có đóng góp tích cực trong phát triển lý luận
và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỉ
XX. nhờ kết quả nghiên cứu đã đóng góp cho quá trình chuẩn bị các văn
kiện hội nghị trung ương khoá VIII, xây dựng chiến lựơc phát triển kinh tế
xã hội những năm sau và đóng góp cho việc chuẩn bị văn kiện đại hội IX
vừa qua. Khoa học xã hội còn đóng góp quan trọng vào việc xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các văn bản giới luật, các chính
sách hiệp định quan hệ quốc tế trong đó có hiệp định thương mại Việt - Mỹ,
khoa học xã hội còn hướng vào giải quyết nhiều vấn đề cụ thể bức xúc trong
thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như; vấn đề toàn cầu hoá quốc tế hoá,
công nghiệp hoá- hiện đại hoá…. Các vấn đề tôn giáo, phát huy bản sắc văn
hoá dân téc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do vậy năn hoá phát triển
lành mạnh với các phương trâm “hoà nhập nhưng không hoà tan’’. Bên cạnh
viêc tiếp thu văn hoá thế giới chúng ta không quên giữ gìn và phát huy nền
văn hoá đậm đà bản sắc dân téc việt nam. Giáo gục ngày càng được chú
trọng các quốc gia phát triển đã rót ra một điểm quan trọng là giáo dục là
con đường ngắn nhất để phát triển để tiến tới nền kinh tế trí thức hay còn gọi
là nền kinh tế chất xám. Ở Viêt Nam từ năm 1997 đến nay nhân lực khoa
chung và các ngành khoa học cơ bản nói riêng có điều kiện phát triển thuận
lợi. Những năm sáu mươi đã đánh dấu sự ra đời của hầu hết các ngành khoa
Học viện ngân hàng 17 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
học cơ bản nước ta: toán, lý, hoá, sinh, các ngành khoa học trái đất biển.
.v.v…
Ngày nay chóng ta đã có khoảng hai ngàn năm trăm tiến sỹ và
tiến sỹ khoa học đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của các ngành
khoa học cơ bản. Con số đó chưa phải là nhiều so với một đất nước trên 70
triệu dân (theo bài viết của GS.VS NGUYỄN VĂN ĐẠO báo KHOA HỌC và
TỔ QUỐC) song cũng là con số đáng phấn khởi và là con số mơ ước đối với
nhiều nước đang phát triển
Trong những năm gần đây những nghiên cứu cơ bản ở nước ta
đã tập chung trong các lĩnh vực điều tra tổng hợp các nguồn tài nguyên và
điều kiện tự nhiên của đất nước, phát triển các lý thuyết cơ bản trong Toán
học, Vật lý, cơ học, nghiên cứu sinh học, vật liệu linh kiện, sử dụng có hiệu
quả các nguồn năng lượng sẵn có và nghiên cứu thăm dò các nguồn năng
lượng tự nhiên, trong việc phục vụ cho công tác quản lý và trong nhiều
ngành sản xuất công nông nghiệp khác.
Nhờ trình độ khoa học cơ bản tốt, nhơ những nghiên cứu được
tiến hành từ những thập kỉ 60 đến nay, chóng ta đã nhập và cải tiến có kết
quả nhiều kĩ thuật mới, công nghệ mới, trong đó nổi bật là các thành tựu
trong nông nghiệp ( các loại giống cây trồng vật nuôi) và trong lĩnh vực tin
học. Cũng nhờ có trinh độ nghiên cứu cơ bản cao mà nước ta đã được biết
đến trên một số lĩnh vực khoa học lý thuyết nh Toán học, Vật lý, Cơ học…
a/ Thành tựu
Đảng ta đã có một số nghị quyết về khoa học và công nghệ nh
nghị quyết 37 của bộ chính trị (khoá VI), nghị quyết 01của bộ chính tri và
nghị quyết trung ương 7 (khoáVII). Việc thực hiện các nghị quyết này bước
đầu nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, thúc đẩy việc
Việc nghiên cứu về chính sách , biện pháp bảo vệ và cải thiện
môi trường bước đầu được quan tâm , luật môi trường đã được ban hành .
Học viện ngân hàng 19 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
Đội ngò cán bộ khoa học và công nghệ có bước trưởng thành ,
được tập hợp , có thêm điều kiện để phát huy khả năng để cống hiến cho sự
nghiệp chung . Đây là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của đất nước .
Có được những thành tựu trên đây, trước hết là do đường lối đúng
đắn của Đảng , do nhu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi đưa tiến bộ khoa học và
công nghệ vào sản xuất , nhờ sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khoa học và
công nghệ . Mặt khác, đội ngò cán bộ khoa học và công nghệ đã trưởng
thành một bứơc và có nhiều cố gắng thích nghi với cơ chế mới , quan hệ đối
ngoại hợp tác quốc tế về kinh tế , khoa học và công nghệ được mở rộng .
b/ Những hạn chế của khoa học công nghệ nước ta hiện nay
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong hoạt động khoa học
–công nghệ ở nước ta còng con nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu
của sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước và chưa thực sự đóng vai trò động lực – nền tảng cho
sự phát triển. Sau đây là những biểu hiện.
Tiềm lực khoa học – công nghệ vẫn còn ở mức thấp so với thế
giới và khu vực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Tỉ lệ cán bộ khoa
học-công nghệ trên tổng số dân chưa cao. Đặc biệt, còn thiếu rất nhiều
chuyên gia đầu ngành, việc đào tạo và đào tạo lại tiến hành còn chậm, nguy
cơ hụt hẫng trong đội ngò rất lớn, nhất là trong những ngành mòi nhọn như
công nghệ tin học, sinh học, cơ khí, chế tạo máy. Việc xếp lại các cơ quan
khoa học – công nghệ còn lúng túng , việc sử dụng đội ngò trí thức còn lãng
phí , cơ sở vật chất , trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học còn thấp xa so
với nhu cầu thực tiễn .
Cơ chế quản lý kinh tế chưa thực sự gắn kết các hoạt động khoa
học- công nghệ với kinh tế xã hội , tạo động lực thực sự và nguồn lực dồi
nuôi, nghề rừng và thuỷ sản. Thành tựu nổi bật nhất là đã giải quyết vững
chắc an toàn lương thực quốc gia. Đứng trước thế kỉ XXI thế kỉ có nhiều
biến đổi sâu sắc và phổ biến trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội trên
phạm vi toàn thế giới. Thế kỉ XXI thế kỉ của cong nghiệp thế kỉ văn minh
hậu công nghiệp , các nước trên thế giới đã và đang sẵn sàng chuẩn bị bước
vào thế kỉ này.Việt Nam thì sao chóng ta đã chuẩn bị nh thế nào? Đây là thử
thách đòng thời cũng là thời cơ nghiệt ngã cho tất cả các quốc gia dân téc
trên thế giới trong đó có Viết Nam. Cả thế giới đang dần tiến tới xây dựng
và phát triển nền kinh tế tri thức. Nhờ áp dụng các ứng dụng khoa học –
công nghệ của thế giới mà chúng ta có thể đi thẳng tới nền kinh tê tri thức
mà không qua kinh tế công nghiệp. Đó là sự lùa chọn đúng đắn và hợp lí.
Vấn đề là phải hiểu biết và vận dụng nó để đưa tri thức khoa học vào tất cả
các kĩnh vực hoạt động chứ không phải xây dựng nền kinh tế tri thức riêng
biệt cho mét khu vực nào đó. Kinh tế tri thức theo cách hiểu nào đó của mọi
người, nó phải được thẩm thấu vào trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế xã
hội. Đất nước Việt Nam đã đi qua chiến tranh thăng lợi vẻ vang vậy tại sao
Học viện ngân hàng 22 Tiểu luận triết học Mác-
Lênin
chóng ta lại không giành thắng lợi trên con đường xây dựng và phát triển đất
nước?Nhất định chúng ta sẽ làm được điều đó và con làm tốt nó nữa bởi
mang trong mình sức mạnh của đoàn kết dân téc và bán tính thông minh
sáng tạo của con người việt nam . Những thắng lợi bước đầu của cuộc đổi
mới đã cho thấy rõ điều đó. Đảng và nhà nước ta đã thấy được tầm quan
trọng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay. Một vấn đề cấp
thiết của nhà nước ta bây giê là phải không ngừng phát triển khoa học công
nghệ. Phải tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương từ các bộ ngành
đến các phòng ban. Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học cấp vốn
cho những công trình nghiên cứu có tính khả thi. Đề cao vai trò các nhà
khoa học. Đảng phải đề ra đường lối mục tiêu phát triển cho từng lĩnh vực
khoa học ứng dụng trong thực tiễn. Cần đổi mới hệ thống giáo dục.Ở nước
a/ Khái niệm về khoa học 10
b/ Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã
hội 11
II / VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA VIỆT Nam 12
II.1)Vai trò khoa học công nghệ đối với sự phát triển xã hội vai trò
khoa học công nghệ trong công cuộc đổi mới của viêt nam 12
a/Tính tất yếu của công cuộc đổi mới 12
b/Tri thức khoa học công nghệ là nền tảng và đọng lực cho phát
triển kinh tế của việt nam 12
II.2/Thực trạng các ngành khoa học công nghệ và những biện pháp
thóc đẩy sự phát triển của khoahọc công nghệ ở nước ta 16
a/Những thuận lợi 17
b/Hạn chế và khó khăn 19
C/ KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO + 23