CÁC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC - Pdf 24

Danh sánh sinh viên:
Nguyễn Quỳnh Chi 560779
Phạm Thị Thảo 560866
Phạm Thị Huệ 560808
Trần Văn Tùng 560887
CÁC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC TRONG NGHIÊN CỨU
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC
I) ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã mang lại nhiều thành tựu
to lớn và lợi ích cho con người, tuy nhiên cũng mang lại nhiều tác hại
xấu và tiềm ẩn những rủi ro vì vậy cần có một giới hạn nhất định của
những công nghệ đó. Đặc biệt vào những năm cuối thế kỷ XX, sinh học
phát triển đến mức không chỉ là một ngành khoa học cơ bản mà đã đột
phá trở thành một ngành công nghệ đỉnh cao, một ngành kỹ thuật ứng
dụng dẫn đến sợ ra đời của ngành công nghệ sinh học.
Công nghệ sinh học (Biotechnology – CNSH) là một ngành công
nghệ sử dụng các tế bào sống và các quá trình sinh học để chế tạo, sản
xuất nguyên vật liệu nhằm tạo ra hàng hóa, dịch vụ phục vụ con người.
Tuy nhiên, những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại đang đặt
ra cho con người rất nhiều vấn đề toàn cầu nan giải. Đó là những vấn đề
thực sự nhân văn vì chúng có mối quan hệ trực tiếp với con người và số
phận con người. Thạc sĩ Phan Kim Ngọc đã viết “khoa học có thể trở
thành thiên thần là nhờ con người, khoa học có thể trở thành ác quỷ cũng
bởi con người”, vậy mấu chốt của vấn đề công nghệ sinh học đem lại lợi
ích hay có hại là phụ thuộc vào con người, chính vì vậy các đạo đức sinh
học lần lượt ra đời nhằm xây dựng những nguyên tắc có tính hướng dẫn
cho khoa học thực hiện mục đích của mình.
II.NỘI DUNG
1) Khái niệm đạo đức công nghệ sinh học
1.1) Đạo đức học là gì?
Đạo đức học là một lĩnh vực nghiên cứu các giá trị đao đức và lập

thì các phương thức này có thể gây ra rất nhiều đau đớn, khổ sở. Hầu hết
động vật bị giết vào cuối mỗi thí nghiệm, nhưng một số có thể được tái
sử dụng trong các thí nghiệm tiếp theo.
Người ta sử dụng động vật thí nghiệm để làm gì ?
31% phục vụ các nghiên cứu và phát triển thuốc cho người và thuốc
thú y.
30% phục vụ các nghiên cứu sinh học cơ bản.
11,8% phục vụ việc sản xuất và kiểm soát chất lượng thuốc cho
người.
8% phục vụ việc đánh giá mức độ an toàn (độc tính và những vấn đề
khác).
3,5% phục vụ việc sản xuất và kiểm soát chất lượng thuốc thú y.
2% phục vụ việc chuẩn đoán các căn bệnh.
1,6% phục vụ giáo dục và đào tạo.
9,1% cho các mục đích khác.
2.2) Những giới hạn về đạo đức của thí nghiệm sử dụng động vật
Nếu như trước đây, dựa trên nền tảng triết học của Descartes, người
ta coi động vật là những sinh thể vô tri chẳng hơn gì các đồ vật thì ngày
nay, người ta bắt đầu ý thức được rằng động vật cũng là những sinh thể
có ý thức gần như con người. Ngay từ những giai đoạn sơ khai của khoa
học, người ta đã nhận thấy rằng con người và nhiều loài động vật có
điểm giống nhau là hệ thống thần kinh trung ương tương tự nhau, nghĩa
là chúng cũng cảm thấy đau giống như con người, ở động vật có mầm
mống của mọi khái niệm văn hóa của người dù là công cụ, ngôn ngữ,
đạo đức. Ngay cả ý thức về bản thân cũng đã bắt đầu xuất hiện ở cá heo,
tinh tinh và voi. Những thay đổi về mặt nhận thức này đã đặt các nhà
nghiên cứu trước một tình thế khó khăn về mặt đạo đức.
Một mặt, để cho những thí nghiệm về y học được chấp nhận về tính
chính xác khoa học, người ta phải thừa nhận việc giữa động vật và người
có một số tương đồng về hình thể cũng như về tâm lý, thế nhưng đồng

nền tảng cho các xem xét đạo lí khi sử dụng động vật trong nghiên cứu,
chúng thật sự cần thiết cho người làm khoa học, nhất là những nhà công
nghệ sinh học động vật.
3) Tế bào gốc và đạo lý sinh học:
Tế bào gốc được xem là cứu cánh của y học. Đây là một phát triển có
nhiều hứa hẹn nhất trong trị liệu ở thời công nghệ hiện nay. Điều đó có
cơ sở bởi các đặc tính kỳ diệu của loại tế bào này. Cho đến nay y học
vẫn phải bó tay trước gần phân nửa số bệnh nhân cần cứu giúp. Các
thành tựu của sinh học đã đánh dấu sự nỗ lực lớn lao của khoa học nhằm
tìm ra các phương thức chữa trị mới, trong đó có liệu pháp tế bào gốc.
Nguyên lý cơ bản của liệu pháp này là thay thế các mô, tế bào hư hỏng
bằng tế bào có khả năng biệt hóa chức năng.
3.1) Tế bào gốc là gì ?
Tế bào gốc (stem cell) là những tế bào chưa biệt hóa và chúng có khả
năng biệt hóa thành các kiểu tế bào chức năng, điều này cho phép chúng
có vai trò như hệ thống sửa chữa mô, tạo những tế bào khác hoạt động
bình thường trong cơ thể sinh vật.
3.2) Tế bào gốc và đạo lí sinh học
Sự phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ nói chung đã từng
bước mang lại nhiều lợi ích đối với con người nhưng chúng cũng can
thiệp thô bạo vào sự sống và tiềm ẩn rủi ro. Năm 1996, cừu Dolly được
tạo ra từ một tế bào tuyến vú đã trưởng thành của một cừu mẹ. Đây là
một thành tựu rất có ý nghĩa về sinh học và y học. Thứ nhất, sự ra đời
của cừu Dolly chứng minh rằng một tế bào thân trưởng thành khi được
xử lý và đưa vào trong một tế bào trứng (đã hút bỏ nhân) vẫn có khả
năng giải biệt hóa trở thành tế bào gốc toàn năng. Thứ hai, hoàn toàn có
thể tạo ra các dòng tế bào gốc phôi thậm chí một cơ thể mang gen giống
hệt một cơ thể đã có. Chính vấn đề này làm dấy lên cuộc tranh luận về
vấn đề đạo đức của các nghiên cứu tế bào gốc phôi và nhân bản luôn là
những vấn đề nổi cộm.

bắt đầu từ lúc thụ thai và cho rằng các nghiên cứu tế bào gốc phôi người
là sai lầm về mặt đạo đức. Nhiều ý kiến chống đối cho rằng phôi người
phải có nhân quyền, phải được bảo vệ như đối với bảo về con người.
Tuy nhiên cái nhìn của công chúng về vấn đề nghiên cứu tế bào gốc phôi
có thay đổi. Năm 2003 chỉ có 38% số người được phỏng vấn cho rằng
nghiên cứu phôi người là sai lầm về đạo đức, nhiều người cho rằng các
phôi thừa trong quá trình làm thụ tinh nhân tạo điều trị vô sinh thay vì
vứt bỏ nên được hiến cho khoa học.
Công cụ hóa phôi người, biến cuộc sống thành món quà thương mại :
Nhiều người lo ngại rằng các nhiên cứu tế bào gốc và nhân bản sẽ biến
phôi người thành công cụ cho các nghiên cứu y sinh học. Họ lo ngại
rằng để chữa bệnh cho một người người ta tạo ra một bản sao giống hệt
người đó, giết chết sinh linh này để lấy mô/tạng dùng cho bản gốc. Khi
đó cuộc sống sẽ là món hàng để mua bán.
Chống lại quy luật của tạo hóa, chống lại thuyết định mệnh : tạo hóa
quy định quá trình sinh lão bệnh tử của mỗi cơ thể sinh vật. Nghiên cứu
tế bào gốc và nhân bản phải chăng cố gắng cưỡng lại định mệnh, chống
lại quy luật sinh học để kéo dài sự sống.
Nguy cơ nhân bản vô tính người, tạo ra các rối loạn về trật
tự gia đình, xã hội : Các quan ngại về nguy cơ này xuất hiện trên công
luận từ năm 1996 khi cừu Dolly được nhân bản. Từ khi Hàn Quốc công
bố tạo được dòng tế bào gốc (2004) từ phôi người nhân bản vô tính thì
công chúng thực sự lo lắng vì nguy cơ nhân bản vô tính người không
còn quá xa. Phản ứng chính trị tỏ ra rất khác biệt giữa các quốc gia. Ở
Châu Âu, một sô nước như Áo, Ba Lan, Tiệp, Thụy Sĩ và Na Uy không
có đạo luật nào ngăn cấm nghiên cứu hay sử dụng tế bào gốc. Ở các
quốc gia khác như Thụy Điển, tế bào gốc được cho phép sử dụng. Đức
cho phép các nhà khoa học nhập cảng tế bào gốc từ các nước khác. Anh
có lẽ là quốc gia có chính sách rộng rãi và thực tế nhất : Anh cho phép
nghiên cứu tế bào gốc. Ở Úc vẫn bàn cãi gay gắt về việc nhân bản tế bào

Nhân giống thực vật đã được tiến hành hàng ngàn năm trước và rất
nhiều gen được đưa vào theo cách biến nạp tái tổ hợp, cũng tương tự
như gen thao tác theo phương pháp nhân giống truyền thống.
- Đánh giá an toàn môi trường của thực vật chuyển gen
Bất cứ hoạt động nông nghiệp nào đều tác động đến môi trường, do
đó việc sử dụng các kỹ thuật di truyền mới sẽ ảnh hưởng đến môi trường
là điều tự nhiên. Ủy ban về đạo đức sinh học (Nuffield Council, GM
Science Review Panel), Ủy ban quốc tế của hiệp hội khoa học (ICSU)
cho rằng những ảnh hưởng của các cây trồng chuyển gen lên môi trường
có thể tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào việc chúng được sử dụng ở
đâu và như thế nào. Kỹ thuật di truyền có thể làm tăng sự hủy hoại, hoặc
góp phần làm cho các hoạt động nông nghiệp mạnh hơn, bảo tồn các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả đa dạng sinh học. Trước khi
được đưa ra thị trường, cây chuyển gen được các nhà chức trách đánh
giá tuân theo các quy tắc do các chuyên gia môi trường trên khắp thế
giới đưa ra ( hội đồng nghiên cứu Mỹ năm 1989; Tổ chức Hợp tác phát
triển kinh tế năm 1992; Chính phủ Canada năm 1994). Những người
đánh giá ảnh hưởng của cây chuyển gen bao gồm những người tạo ra
chúng, các cơ quan kiểm soát và các nhà khoa học.
5) Vũ khí sinh học
Vũ khí sinh học (biological weapons – BW) là một công cụ lợi hại và
nguy hiểm chống lại con người, chống lại sự sống. Và nói chung, loại vũ
khí này chỉ được sử dụng cho mục đích chiến tranh hoặc khủng bố. Vũ
khí sinh học được coi là đứng đầu trong nhóm vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Vũ khí sinh học tận dụng tối đa các thành tựu của khoa học, dựa trên
việc cấu trúc các chế phẩm sinh học, trong đó có vi sinh vật, các độc
chất tự nhiên, các vật liệu sống có khả năng di truyền, lây lan truyền
nhiễm các chứng bệnh cực kì nguy hiểm cho con người, thực vật hay
động vật.
Sự phát triển của công nghệ di truyền đã bị các thế lực đen tối lợi

tương quan tương đối của hai thành phần sẽ thay đổi tùy theo giả thiết
hay vấn đề.
- Phân tích (analysis) và bàn luận đạo lí (ethical deliberation) là thành
phần hành động của mô hình, nên hướng tới khía cạnh mà sinh viên
quan tâm nhiều.
- Kết quả của sự phân tích là quyết định (decision) được hình thành hay
sự miêu tả (description) các giải pháp phát sinh. Sinh viên phải tìm giải
pháp tốt nhất có thể. Việc quyết định này cần nhận thức là bước cuối
cùng của mô hình. Vấn đề sẽ được bàn bạc trở lại khi thông tin mới
được nêu ra hoặc khi xuất hiện kết quả mới bởi một quá trình quan sát
xa hơn.
Như vậy tạm coi đây là bước tạm dừng của mô hình và chu kì mô
hình luôn sẵn sàng lặp lại cho nội dung cao hơn hay nội dung mới.
Một số rào cản đối với việc thực hiện giáo dục đạo lí sinh học:
- Rào cản lớn nhất là sự ép buộc. Các chương trình đạo lí sinh học trong
các trường tỏ ra chưa gây hứng thú và thiết thực cho người học. Nọi
dung dạy còn phụ thuộc nhiều vào quan niệm chủ quan.
- Hầu hết các cá nhân và tổ chức chưa theo kịp tiến trình phát triển của
khoa học-công nghệ, nhất là trong lĩnh vực y sinh.
- Các dịch vụ về đạo lí sinh học chưa nhiều.
III) KẾT LUẬN

Không thể một sớm một chiều mà mỗi người đều nhận định một
cách đúng đắn các vấn đề về đạo đức sinh học. Không nghi ngờ gì nữa,
đạo đức sinh học phải được nhận thức một cách có hệ thống, có nền tảng
trong cấu trúc tri thức của loài người. Trong thực tế, đạo đức sinh học đã
trở thành một ngành khoa học hiện đại, có phạm vi hoạt động và phát
triển của riêng mình, nó phải được thể hiện tính hiệu quả trong đời sống
mỗi con người, trở thành một nguyên tắc của sự phát triển xã hội.
IV) TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status