ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất ngủ là trạng thái không thoải mái về số lượng và/hoặc chất lượng
của giấc ngủ, rối loạn này tồn tại tại một thời gian dài, làm ảnh hưởng đến sức
khoẻ và khả năng làm việc của người bệnh [13].
Mất ngủ từ lâu được xem là một rối loạn thường gặp, bao gồm khó đi
vào giấc ngủ, ngủ không yên giấc, dậy sớm không ngủ lại được hoặc tỉnh dậy
nhiều lần trong khi ngủ. Ở người cao tuổi, thời gian ngủ sẽ ít dần, có khuynh
hướng ngủ muộn hơn và thức dậy sớm hơn. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng
nhất là chất lượng của giấc ngủ, sau khi ngủ dậy phải cảm thấy tinh thần sảng
khoái, phấn chấn, thích làm việc.
Mất ngủ tăng theo thời gian vì những căng thẳng trong cuộc sống ngày
càng tăng lên, có khuynh hướng tăng cao trong giới nữ, những người cao tuổi,
những người rối loạn tâm lý và những người thiệt thòi về kinh tế xã hội [13].
Năm 1979 theo thông báo của trung tâm “Hội các rối loạn về giấc ngủ”
(Association sleep disoders center) cho biết số người mất ngủ chiếm 35% dân
số. Năm 1990 viện Gallup (Mỹ) công bố số liệu nghiên cứu ở 8 nước cho
thấy: Pháp có 31%, Italia có 35%, Anh có 34%, Đan Mạch có 31%, Bỉ có
27%, Tây ban nha 23%, Đức có 23%, Mỹ có 27% người bị rối loạn giấc ngủ
[33]. Mất ngủ kéo dài sẽ dẫn đến giảm trí nhớ, khó tập trung chú ý, giảm
sút khả năng lao động và hậu quả tất yếu là làm giảm chất lượng sống.
Ngoài ra, mất ngủ còn có nguy cơ phát sinh một số bệnh hoặc làm nặng thêm
bệnh đang mắc.
Mất ngủ trong y học cổ truyền gọi là chứng “thất miên”, “bất mị”, bất
đắc miên Nguyên nhân từ các tạng Tâm, Tỳ, Can, Thận, chủ yếu là do:
Tâm và tỳ hư, âm suy hoả vượng, khí của Tâm và đởm hạ, Vị không điều hoà
và bị suy nhược sau khi ốm. Theo Cảnh Nhạc: “Ngủ là gốc ở phần âm mà
1
thần làm chủ, thần yên thì ngủ được”. Thần sở dĩ không yên một là do tà khí
nhiễu động, hai là do tinh khí không đủ, “tà” ở đây chủ yếu là chỉ vào đờm,
hoả, ăn uống; “vô tà” là chỉ vào tức giận, sợ hãi, lo nghĩ, những cái đó đều là
nguyên nhân gây thành chứng mất ngủ”. [3], [10], [21].
hồi sức khoẻ của cơ thể sau một thời gian hoạt động. Con người không thể
sống thiếu ngủ, nếu loại bỏ hoàn toàn giấc ngủ trong một thời gian nhất định
thì hoạt động cơ thể con người sẽ bị rối loạn và dẫn đến chết.
Ngay từ khi lọt lòng mẹ, đứa trẻ ngủ nhiều hơn thức (20 giờ một ngày).
Càng lớn lên trẻ ngủ giảm dần, đến 6 tuổi trẻ vẫn còn ngủ 10-12 giờ mỗi
ngày. Người trưởng thành ở lứa tuổi hoạt động mạnh nhất (18- 45 tuổi), nhu
cầu mỗi ngày từ 7-8 giờ. Sau 60 tuổi có thể 6 giờ là đủ, thậm chí những người
già ngủ ít hơn [31], [35]. Nói chung cả cuộc đời một người khoẻ mạnh dành
1/3 thời gian cho ngủ và 2/3 thời gian thức.
Thức và ngủ là 2 trạng thái ngược nhau của sự giao động hoạt động
thần kinh. Nhịp thức- ngủ có liên quan chặt chẽ đến nhịp ngày đêm, và nhịp
thức ngủ không chỉ ở người mà còn gặp ở hầu hết các động vật cao cấp khác.
Việc nghiên cứu trạng thái thức và ngủ, đặc biệt nghiên cứu giấc ngủ
có một ý nghĩa quan trọng trong y học nói chung và tâm thần học nói riêng.
Các giai đoạn bình thường của giấc ngủ
Ngày nay bằng kết quả nghiên cứu điện sinh lý kết hợp với các hiện
tượng tâm sinh lý khác, người ta chia giấc ngủ thành 2 pha : pha nhanh hay
còn gọi là pha vận nhanh nhãn cầu (Rapid Eye Movement: REM) và pha
chậm hay còn gọi là pha không vận nhanh nhãn cầu (Non Rapid Eye
Movement: NREM). [31], [32], [35].
3
- Pha chậm (NREM): chia làm 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn có một đặc
trưng riêng:
+ Giai đoạn 1: thiu thiu ngủ, chuyển tiếp từ thức sang ngủ.
Ngắn một vài phút, trên điện não biểu hiện giảm hoạt tính sóng α (12-14 Hz)
và ưu thế sóng θ (4 -7 Hz, 4-7 chu kỳ/giây).
Nhãn cầu chuyển động chậm lại, trương lực cơ giảm.
+ Giai đoạn 2: ngủ chưa sâu, xuất hiện hình thoi trên điện não bắt đầu
giấc ngủ, người ngủ yên tĩnh không thấy cử động.
+ Giai đoạn 3: ngủ sâu, giảm hình thoi và chỉ xuất hiện sóng chậm (2-4
Cấu tạo lưới vừa có ảnh hưởng ức chế đối với vỏ não, nghĩa là nó đóng vai trò
hoạt động dẫn truyền thần kinh, cũng như duy trì thức tỉnh. Hoạt hoá từ cấu
tạo lưới lên thân vỏ não là kiểu hoạt hoá không đặc hiệu trong đó có sự tham
gia của vùng dưới đồi, đồi thị [4], [26], [28].
1.1.2.1. Giải phẫu thần kinh của điều hoà thức ngủ
Những nghiên cứu trên động vật cho thấy cấu trúc lưới của thân não,
vùng dưới đối, và nền não trước đóng vai trò trong tạo giấc ngủ [26]. Trong
khi đó cấu trúc lưới của thân não, não giữa, vùng dưới đồi, tuyến yên, và nền
não trước đóng vai trò trong tạo ra sự thức hay vùng thức trong điện não đồ.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phía trước vùng dưới đồi có một trung tâm
ngủ trong khi đó phía sau vùng dưới đồi có chứa trung tâm thức- ngủ nằm dọc
theo lõi trục từ thân não đến nền não trước. Giải phầu thần kinh có vị trí riêng
biệt liên quan tới chu kỳ vận nhanh nhãn cầu. Những vị trí đặc biệt trên cầu
5
não có sự liên quan về sinh lý thần kinh với trạng thái vận nhanh nhãn cầu và
trạng thái không vận nhanh nhãn cầu.
Để chứng minh vai trò của cấu tạo lưới trong việc điều chỉnh trạng thái
thức- ngủ người ta đã tiến hành các thực nghiệm sau [28], [31], [32], [35]:
- Cắt ngang dưới hành não- con vật vẫn thức (ghi được sóng mất
đồng bộ ở não).
- Cắt trên cuốn não thì con vật ngủ sâu liên miên ( ở vỏ não chỉ có
sóng đồng bộ)
- Nếu phá hủy cấu tạo lưới ở vùng thân não thì con vật cũng ngủ liên miên.
- Nếu kích thích cấu tạo lưới ở vùng này sẽ làm con vật thức tỉnh.
1.1.2.2. Sinh hoá thần kinh của điều hoà giấc ngủ
Những nghiên cứu thực nghiệm từ trước cho thấy nhân rãnh xoắn của
thân não sản xuất ra serotonin như là một chất dẫn truyền thần kinh tạo ra giấc
ngủ [26]. Catecholamine được xem như chất có tác dụng gây thức. Chất dẫn
truyền thần kinh cholinergic được biết như là một chất tạo ra giấc ngủ trong
pha nhanh. Ảnh hưởng gây thức của caffein bao gồm adenosine, hiệu quả của
và chất lượng giấc ngủ, tồn tại trong một thời gian dài, được đặc trưng bằng
các điểm sau:
- Khó đi vào giấc ngủ: là than phiền thường gặp nhất, có hầu hết các
bệnh nhân.
- Khó duy trì giấc ngủ và thức dậy sớm
- Mất ngủ có liên quan đến các stress đời sống, gặp nhiều hơn ở phụ nữ, ở
người lớn tuổi, tâm lý rối loạn và những người bất lợi về mặt kinh tế xã hội. Khi
đi ngủ bệnh nhân có cảm giác căng thẳng lo âu, buồn phiền hoặc trầm cảm.
7
- Mất ngủ nhiều lần, dẫn đến mối lo sợ mất ngủ tăng lên và bận tâm về
hậu quả của nó, tạo thành một vòng luẩn quẩn có khuynh hướng kéo dài.
- Hậu quả ban ngày: cảm giác mệt mỏi, thiếu hụt giấc ngủ, ảnh hưởng
đến hoạt động xã hội và nghề nghiệp. Theo sổ tay chẩn đoán thống kê
(Diagnostic and statistical manual of mental disorder- 4
th
) mục 307-42, được
gọi là mất ngủ nguyên phát [29].
1.1.3.2. Dịch tể học mất ngủ
Mất ngủ ngày càng trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện
đại. Theo công bố của viện Gallup Mỹ năm 1990 nghiên cứu ở 8 nước cho
thấy tỷ lệ mất ngủ rất cao [33]
Ở Việt nam, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về
vấn đề này. Nhưng trên thực tế chúng tôi nhận thấy vấn đề này rất phổ biến.
năm 1995 thông qua nghiên cứu 1310 người tới khám ngoại trú tại viện sức
khoẻ tâm thần trung ương từ 30/6/93 đến 10/8/93 thì có tới 116 người mất
ngủ chiếm tỷ lệ 9%.
Về giới và tuổi theo Lilfenberg và cộng sự (1988 và 1989) nhận thấy:
0,9 đến 2,2% ở nữ và 0,3-2,3% ở nam có mất ngủ mạn tính trong độ tuổi từ
30-63 tuổi. Lagresi và cs (1983) nhận thấy tỷ lệ mất ngủ tăng lên theo tuổi.
Theo Lương hữu Thông tỷ lệ mất ngủ khác nhau ở 2 giới: nam 34,5-40%, nữ
- Ban ngày tăng thức tỉnh thường xuyên, sự cảnh tỉnh xấu
- Ban đêm: giai đoạn 1 của giấc ngủ bị rút ngắn, giảm giai đoạn 2, đôi khi cả
giai đoạn 4 làm thức giấc tăng lên, chia cắt giấc ngủ ra.
9
* Giả thuyết thứ hai:
Rối loạn các chức năng của nhân vùng dưới đồi nơi mà nó kiểm tra
giấc ngủ, làm giảm nhu cầu với giấc ngủ và cũng dẫn đến hậu quả: thức giấc
tăng lên, chia cắt giấc ngủ ra.
1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ không thực tổn
1.2.1. Theo tiêu chuẩn của ICD-10
1. Phàn nàn cả về khó đi vào giấc ngủ hay khó duy trì giấc ngủ, hay
chất lượng giấc ngủ kém.
2. Rối loạn giấc ngủ đã xảy ra ít nhất là ba lần trong một tuần trong ít
nhất là một tháng.
3. Rối loạn giấc ngủ gây nên sự mệt mỏi rõ rệt trên cơ thể hoặc gây khó
khăn trong hoạt động chức năng lúc ban ngày.
4. Không có nguyên nhân tổn thương thực thể, như là tổn thương hệ
thần kinh hoặc những bệnh lý khác, rối loạn hành vi, hoặc do dùng thuốc.
1.2.2. Lâm sàng
1.2.2.1. Các triệu chứng về giấc ngủ
- Thời lượng giấc ngủ giảm: tất cả các bệnh nhân đều giảm số lượng thời gian
mất ngủ, chỉ ngủ được 3-4 giờ/24 giờ, thậm chí có bệnh nhân thức trắng đêm.
Theo Schneider – Helmert (1987): trung bình giảm 74 phút so với bình
thường. Còn Lifenberg và cs (1988) thấy giảm hơn 1 giờ so với bình thường.
- Khó đi vào giấc ngủ: Đây là than phiền hay gặp đầu tiên. Bệnh nhân
không thấy có cảm giác buồn ngủ, trằn trọc, căng thẳng lo âu, thường mất từ
hơn 30 phút đến 1h30 phút mới đi vào giấc ngủ.
- Hay tỉnh giấc vào ban đêm: giấc ngủ của bệnh nhân bị chia cắt ra, giấc
ngủ chập chờn, không ngon giấc, thường tỉnh giấc và khi đã tỉnh giấc thì rất
10
Các triệu chứng tâm thần thứ phát sau mất ngủ:
- Khó tập trung chú ý, hay quên.
- Trạng thái trầm cảm
- Lo âu
- Dễ ức chế cảm xúc, cáu gắt, bực tức.
1.2.2.4. Vai trò của sang chấn tâm lý (SCTL) và các sự kiện bất lợi trong
cuộc sống
Sang chấn tâm lý như yếu tố gây khởi phát trạng thái mất ngủ. Triệu
chứng mất ngủ xảy ra đột ngột ngay sau khi có sang chấn. SCTL cũng đóng
vai trò trong việc duy trì MNMT. Thường thì trạng thái mất ngủ tăng lên vào
thời điểm có SCTL. Tuy nhiên nhiều trường hợp sang chấn mất đi nhưng mất
ngủ vẫn tiếp tục kéo dài, nó được duy trì bởi sự sợ hãi không ngủ được, thậm
chí còn lo sợ bị thức giấc vào ban đêm. Vai trò của các sự kiện bất lợi trong
cuộc sống như: thay đổi chỗ ngủ, thay đổi môi trường sống, thay đổi múi giờ
cũng gây ra hoặc làm tăng sự mất ngủ.
1.3. Các phương pháp đánh giá rối loạn giấc ngủ trên lâm sàng và cận
lâm sàng
1.3.1. Phương pháp đánh giá trên lâm sàng
. Các triệu chứng về giấc ngủ
* Thời lượng giấc ngủ giảm
* Khó đi vào giấc ngủ
* Hay tỉnh giấc vào ban đêm
* Hiệu quả cả giấc ngủ
* Thức giấc sớm
12
* Chất lượng giấc ngủ.
1.3.2. Phương pháp đánh giá trên cận lâm sàng
- Test tâm lý:
* Test Beck: bậc thang đánh giá trầm cảm ( Beck Depression Inventory: BID)
Test này do A.T. Beck và cs giới thiệu năm 1974 gợi ý từ những quan
Phân tích kết quả:
<10 điểm: không có trầm cảm
10- 19 điểm: trầm cảm nhẹ
20- 29 điểm: trầm cảm vừa
> 30 điểm: trầm cảm nặng
* Test (SAS) – Zung (1974). Thang đánh giá lo âu của Zung gồm 20
câu hỏi dành cho người bệnh tự đánh giá số thứ tự 20 mục với 4 mức độ,
cường độ và thời gian, được ghi diểm từ 1-4, tổng điểm là 80.
Phân tích kết quả: < 50%: không lo âu bệnh lý
> 50% : có lo âu bệnh lý
Cả 2 test này được Tổ chức y tế thế giới thừa nhận là các test hỗ trợ
lâm sàng chẩn đoán lo âu và trầm cảm.
* Đánh giá chất lượng giấc ngủ bằng thang Pittsburgh (PSQI) của Daniel
J.Buyse và cs năm 1998, nhằm đánh giá các chỉ số về chất lượng giấc ngủ.
14
Năm 2001, ở Việt nam PSQI đã được chuẩn hóa. Các tác giả đã nhận
thấy thang đo này có giá trị sử dụng đáng tin cậy trong lâm sàng để đánh giá
mức độ mất ngủ và có thể dùng nó để theo dõi tiến triển mất ngủ [17].
Đánh giá các thành tố như sau :
Không có rối loạn giấc ngủ 0 điểm
Rối loạn nhẹ 1 điểm
Rối loạn vừa 2 điểm
Rối loạn nặng 3 điểm
- Điện não đồ: Điện thế pha chậm của giấc ngủ có sự tăng chậm và tới
mức thấp hơn trong các bảng delta và theta.
1.4. Các phương pháp điều trị rối loạn giấc ngủ
Các phương pháp điều trị theo Y học hiện đại
* Sử dụng các loại thuốc có thời gian bán huỷ ngắn, tác dụng nhanh và ít
tác dụng phụ: Cho những người mất ngủ tạm thời, những người khó đi vào
giấc ngủ và đặc biệt cho những người có tuổi để tránh hiện tượng loạng
lâm sàng và phép chữa đều có đặc điểm riêng. Chủ yếu là hồi hộp hay quên, ít
ngủ hay mê, sắc mặt úa vàng, kém ăn mỏi mệt, bụng trướng đại tiện nhão,
đoản hơi, tinh thần bạc nhược hoặc xuất huyết dưới da; phụ nữ kinh nguyệt
không đều, ra sắc nhợt lượng nhiều, băng lậu hoặc kinh ít, kinh bế, chất lưỡi
nhạt bệu, rêu lưỡi trắng, mạch Tế Nhược.
16
Bệnh bất mị - mất ngủ - xuất hiện trong chứng Tâm tỳ hư có đặc điểm
là mê nhiều dễ thức giấc, giấc ngủ không yên, Bệnh phần nhiều do tư lự, mệt
nhọc tổn hại đến tâm tỳ, âm huyết ngấm ngầm bị suy hao, thần không nơi ở.
Tỳ bị tổn thương mất khả năng sinh hoá chất tinh vi, huyết hư khó hồi phục,
tâm thần mất sự nuôi dưỡng mà thành mất ngủ. Trương Cảnh Nhạc nói “ nhọc
mệt nghĩ quá độ thì tất nhiên làm cho huyết dịch bị hao tổn, thần hồn không
yên tĩnh cho nên không ngủ”. Lâm Hi Đồng nói: “lo nghĩ quá nhiều thành
chứng không ngủ kinh niên”. Sách Loại chứng trị tài cũng viết: “ Tư lự thương
Tỳ, Tỳ huyết bị tổn hại, quanh năm mất ngủ, điều trị theo phép bổ ích tâm tỳ.
Dùng bài Quy Tỳ thang hoặc Dưỡng tâm thang (Chứng trị chuẩn thằng)
1.5.2. Thể Tâm Thận bất giao: [18]
Tâm với thận trong tình huống bình thường, chủ yếu là có mối quan hệ
trên và dưới cùng giao nhau, thuỷ với hoả cùng giúp đỡ nhau. Nếu do bẩm
phú bất túc, hoặc hư lao ốm lâu, hoặc phòng thất quá đáng v.v. khiến cho
Thận thuỷ hư suy ở dưới không thể giúp cho Tâm hoả ở trên. Tâm hoả găng ở
trên không thể giao với thận ở dưới; Hoặc do mệt nhọc tinh thần quá độ, ngũ
chí quá cực đến nỗi Tâm âm bị hao tổn ngấm ngầm, Tâm dương quá thịnh.
Tâm hoả không thể giao với Thận ở dưới, Tâm hoả không giáng xuống, thận
thuỷ không thăng lên tạo thành tình thế thuỷ hoả của Tâm Thận không giúp
đỡ nhau sẽ hình thành bệnh biến, Lâm sàng gọi là chứng Tâm Thận bất giao.
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là Tâm phiền, mất ngủ, hay mê, di tinh,
lưng đùi ê mỏi, triều nhiệt đổ mồ hôi trộm, hoa mắt ù tai, hoặc hồi hộp, hoặc
khô họng, hoặc tiểu đêm nhiều lần. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít hoặc không có
rêu, mạch Tế Sác.
Điện châm là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng chữa bệnh
châm kim của châm cứu với kích thích điện của dòng điện một chiều qua một
máy điện tử tạo xung điện ở một tần số thích hợp, kích thích và điều khiển sự
vận hành của khí huyết, sự hoạt động của các cơ, các dây thần kinh, các mô,
làm tăng cường sự dinh dưỡng của các cơ quan, đưa cơ thể trở về trạng thái
cân bằng ổn định qua các kim đã châm trên kinh huyệt. Máy điện châm có
cường độ kích thích từ 1-100 mA tần số kích thích từ 1- 60Hz [19].
1.7.3. Tác dụng của nhóm huyệt điều trị
1.7.3.1.Huyệt nội quan
Nội quan là một huyệt vị quan trọng thường dùng trong lâm sàng, tất cả
các thày thuốc châm cứu từ xưa đến nay đều biết tới. Trong những nǎm gần
đây, nhiều tác giả đã đi sâu khảo sát lâm sàng và tìm hiểu cơ chế tác dụng của
huyệt này.
- Vị trí: từ cổ tay đo lên 2 thốn, ở phía sau bàn tay, huyệt nằm giữa hai
đường gân (Đại thành, Tuần kinh).
+ Lấy ở trong khe của hai gân cơ gan tay lớn và gan tay bé trên nếp gấp
khớp cổ tay hai tấc
+ Liên quan tới giải phẫu: Dưới da là khe giữa gân cơ gan tay lớn và
gân cơ gan tay bé, gân cơ gấp dài ngón tay cái, gân cơ gấp chung ngón tay
nông và sâu, cơ sấp vuông, màng gian cốt quay và trụ.
+ Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh giữa và các
nhánh của dây thần kinh trụ. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh
D1 hay C6.
Diện tích huyệt 3,61± 1,8 mm
2
. Độ thông điện 96,01± 5,23μA [9].
19
+ Huyệt lạc đối với kinh thiếu dương Tam tiêu, huyệt giao hội của kinh
Quyết âm ở tay với mạch âm duy.
- Tác dụng:
+ Lấy ở chỗ lõm ở sát bờ sau- trong xương chày, trên chỗ lồi cao nhất
của mắt cá trong chân 3 tấc.
+ Giãi phẫu: dưới da là bờ sau trong xương chày, bờ trước cơ gấp dài
các ngón chân và cơ cẳng chân sau; Mạch máu là tĩnh mạch lớn dưới da, động
mạch và tĩnh mạch chày sau. thần kinh bề mặt nông, thần kinh bì cẳng chân
giữa; ở sâu, ở phía sau, dây thần kinh chày. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết
đoạn thần kinh L4.
+ Diện tích: 16,32± 0,25mm
2
.
Độ thông điện qua da vùng huyệt: 88,11± 2,92μA. Điện trở
18,55±2,23KΏ [20].
+ Là nơi giao hội của ba kinh âm: Túc thái âm tỳ, túc thiếu âm thận, túc
quyết âm can. Chủ về âm huyết, mà huyết thì nên bổ [5],[6],[7].
- Tác dụng: Điều trị tại chỗ đau cẳng chân, toàn thân, đau do thoát vị, tiêu hoá
kém, đầy bụng không muốn ăn, ăn không tiêu, nôn, ỉa chảy, kinh nguyệt
không đều, rong kinh, khí hư, bế kinh, di mộng tinh, đái dầm, toàn thân đau
nhức nặng nề, mất ngủ.
Như vậy chúng ta thấy : Nội quan, Thần môn, Tam âm giao có tác dụng
dưỡng tâm, kiện tỳ, bổ huyết an thần.
Thần môn an thần, định chí; Nội quan, hoãn giải cơn co thắt cơ hoành,
ngực, kiêm có tác dụng hòa vị;Tam âm giao có tác dụng điều lý tỳ khí. Cơ
năng tỳ, vị kiện toàn khỏe mạnh tức tâm huyết được đầy đủ, thần có thể yên.
21
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm tất cả bệnh nhân được chẩn đoán là có rối loạn giấc ngủ (mất
ngủ không thực tổn) có tuổi từ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị tại Bệnh
viện Châm cứu trung ương.
sàng lọc và các test tâm lý.
- Test Beck > 10 điểm
- Test Zung > 50%
- Mất ngủ mạn tính trong trạng thái trầm cảm
- Mất ngủ mạn tính trong lo âu
- Mất ngủ do các nguyên nhân thực thể: tổn thương hệ thần kinh, những
bệnh lý kèm theo, rối loạn hành vi hoặc do dùng thuốc.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp thử nghiệm lâm
sàng so sánh giữa 2 nhóm, so sánh trước và sau điều trị.
Cỡ mẫu nghiên cứu: chọn 60 bệnh nhân được chẩn đoán mất ngủ
không thực tổn và đủ các điều kiện như đã nêu ở mục 2.1, sau đó chia thành 2
nhóm:
Nhóm 1( thuộc thể Tâm Tỳ hư): Gồm 30 bệnh nhân .
Nhóm 2 ( thuộc thể Tâm thận bất giao): Gồm 30 bệnh nhân
23
Cả hai nhóm đều được điều trị mất ngủ bằng điện châm nhóm huyệt
kinh điển : Nội quan, Thần môn, Tam âm giao.
2.2.2. Quy trình nghiên cứu
2.2.2.1. Tuyển chọn bệnh nhân và chia nhóm
- Các bệnh nhân vào viện được thăm khám lâm sàng toàn diện gồm
khám tâm thần ( ý thức, cảm giác, tri giác, tư duy, cảm xúc, hành vi tác
phong…) khám thần kinh, nội khoa. Thông qua thăm khám loại trừ những đối
tượng không đủ tiêu chuẩn nghiên cứu.
- Ghi kết quả test Beck, test Zung, test PSQI: test Beck và test Zung để
hổ trợ chẩn đoán loại trừ đối tượng trầm cảm và lo âu. Test PSQI được đánh
giá trước và sau quá trình điều trị: Đánh giá hiệu quả điều trị.
- Tất cả các đối tượng nghiên cứu được ghi chép nhất quán theo mẫu
bệnh án.
Tuổi, giới, nghề nghiệp, cách khởi phát, hoàn cảnh xảy ra bệnh, thời
gian mắc bệnh, các yếu tố stress liên quan đến mất ngủ.
* Các triệu chứng về giấc ngủ:
- Mỗi đêm ngủ được mấy tiếng
- Khó đi vào giấc ngủ: (giai đoạn thức ngủ: sau khi đã nằm trên giường
mỗi đêm mất khoảng bao nhiêu phút mới ngủ được).
- Rối loạn giấc ngủ: tỉnh dậy lúc nữa đêm hoặc dậy quá sớm lúc buổi sáng
- Hiệu quả giấc ngủ = số giờ ngủ/ Số giờ nằm trên giường x 100%
- Chất lượng giấc ngủ: sảng khoái và thoải mái sau khi ngủ dậy
25