1
I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Ngày 1/1/2009, tại Việt Nam một loại hình bảo hiểm mới đã bắt đầu có
hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp. Đó là bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN). Sự ra đời của loại bảo hiểm này thực sự là một bước
tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói riêng và
nỗ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nói chung.
BHTN ở Việt Nam ra đời gắn với giai đoạn đầy khó khăn, tồi tệ của nền
kinh tế Việt Nam cũng như kinh tế thế giới; giai đoạn mà chúng ta phải chứng
kiến nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao động rơi vào cảnh thất nghiệp.
Sau hơn bốn năm thực hiện, BHTN đã mang lại những thành công nhất định,
cũng như tác động tích cực về mặt kinh tế xã hội. Tuy nhiên, chính sách đó
đang còn những bất cập và gặp khó khăn trong quá trình thực hiện. Điều đó cho
thấy việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách BHTN ở Việt Nam là một yêu cầu
cấp thiết hiện nay. Chính vì vậy đề tài: “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở
Việt Nam hiện nay” được nghiên cứu với mong muốn góp phần giải quyết
yêu cầu thực tế về hoàn thiện chính sách BHTN ở nước ta hiện nay.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích và làm rõ thêm một số cơ sở lý luận, thực tiễn về thất nghiệp và
chính sách BHTN ở Việt Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện
chính sách BHTN ở Việt Nam trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về thất nghiệp và
chính sách BHTN.
- Phân tích thực trạng thất nghiệp và tình hình thực thi chính sách BHTN
ở Việt Nam.
- Ảnh hưởng của chính sách đến lao động, việc làm và các vấn đề xã hội
ở Việt Nam
hoảng. Ở thời kỳ hưng thịnh, sản xuất được mở rộng, nguồn nhân lực xã hội
được huy động vào sản xuất, nhu cầu về sức lao động tăng nhanh nên thu hút
nhiều lao động. Ngược lại, ở thời kỳ suy thoái, sản xuất đình trệ, cầu lao động
giảm, không những không tuyển thêm lao động mà còn dư thừa lao động, gây
nên tình trạng thất nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế, nếu năng lực
sản xuất của xã hội giảm 1% so với khả năng, thất nghiệp sẽ tăng lên 2%.
- Sự gia tăng dân số
Đây là nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng thất nghiệp trong dài hạn.
Dân số gia tăng hàng năm sẽ bổ sung một lực lượng lao động rất lớn vào nguồn
lực lao động của mỗi quốc gia. Dân số càng tăng và tốc độ gia tăng càng nhanh
thì lực lượng lao động dư thừa sẽ càng lớn. Thêm vào đó, quá trình quốc tế hóa
và toàn cầu hóa cũng có tác động tiêu cực đến thị trường lao động làm một bộ
phận người lao động bị thất nghiệp. Nguyên nhân này thường xuất hiện phổ
biến ở các nước đang phát triển và chậm phát triển, những nước luôn có tỷ lệ
gia tăng dân số cao. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân chính gây
ra tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước đang phát triển
khác.
- Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề
Ở từng thời kỳ, sự phát triển kinh tế có thể dẫn tới thay đổi cơ cấu kinh
tế. Theo đó, cơ cấu của một số ngành nghề thay đổi. Những ngành nghề làm ăn
có hiệu quả hoặc cần phải được mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc
xuất hiện ngành nghề mới sẽ tạo cơ hội thu hút thêm nhiều lao động. Nhưng lại
có những ngành nghề phải thu hẹp sản xuất, phải sa thải người lao động và một
bộ phận người lao động bị thất nghiệp.
- Sự ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
4
Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tự động hóa quá trình
sản xuất diễn ra nhanh chóng và ngày càng phổ biến. Các chủ doanh nghiệp, các
nhà sản xuất luôn tìm cách mở rộng sản xuất, đổi mới dây chuyền công nghệ,
với việc mất đi nguồn thu nhập chủ yếu và khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự
khó khăn, nghèo túng. Hậu quả là họ từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới
mức sống tiêu chuẩn chung của xã hội. Sau đó nếu không có sự trợ giúp nào
khác thì phải vay nợ và nếu kéo dài sẽ dẫn đến nợ nần chồng chất. Sự tác động
vào thu nhập cho gia đình phụ thuộc vào tiền thất nghiệp của bản thân họ nhận
được cũng như thu nhập của những thành viên khác trong gia đình còn việc làm.
Nạn thất nghiệp không chỉ là hậu quả về tài chính mà còn là hậu quả về
khả năng nghề nghiệp. Khi thất nghiệp kéo dài, hậu quả là họ bị mất đi khả năng
nâng cao trình độ nghề nghiệp. Điều đó sẽ đe dọa không chỉ về phía họ, họ sẵn
sàng bị thất nghiệp, mà còn ngăn cản việc học nghề hay chuyển vào một nghề
khác.
- Đối với nền kinh tế: Thất nghiệp chính là sự lãng phí nguồn lực xã hội,
là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm
phát triển. Vì khi đó có một bộ phận người lao động trong độ tuổi lao động, có
khả năng lao động nhưng vì lý do khách quan không có việc làm thì dĩ nhiên
sức sản xuất trong nước và thu nhập quốc dân thấp hơn so với khi mọi người
đều có việc làm. Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp có mối quan hệ
tác động qua lại chặt chẽ với nhau, đôi khi tạo thành vòng luẩn quẩn không
thoát ra được. Bên cạnh đó, thất nghiệp có thể làm cho xã hội bất ổn. Đến lượt
nó làm cho kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hơn và có khả năng
phục hồi chậm.
- Đối với chính trị, xã hội: Khi bị thất nghiệp, người lao động luôn ở
trong tình trạng hoang mang, lo lắng, căng thẳng và thất vọng. Đặc biệt nếu
6
người lao động là trụ cột, nuôi sống cả gia đình thì áp lực tâm lý càng đè nặng
lên người lao động. Từng cá nhân là tế bào của gia đình, mỗi gia đình là tế bào
của xã hội. Như vậy thất nghiệp tác động đến cá nhân người lao động có nghĩa
là đã tác động đến toàn xã hội. Bởi vì, thất nghiệp sẽ dẫn đến nhiều hiện tượng
tiêu cực của xã hội, đẩy người thất nghiệp đến chỗ bất chấp kỷ cương, vi phạm
2,52 2,19 2,8 2,88 2,27 1,99
Nguồn:Kết quả điều tra lao động, việc làm hàng năm của Tổng cục Thống kê.
Thất nghiệp đã trở thành vấn đề cả xã hội quan tâm. Thất nghiệp có thể
dẫn đến những ảnh hưởng khó lường về kinh tế và xã hội. Những ảnh hưởng
này rất khó định lượng nhưng tác động tiềm ẩn của chúng có thể thấy rõ qua
một loạt các hậu quả có thể xảy ra như sự phản ứng của người lao động đối với
những thay đổi về cơ cấu của doanh nghiệp với nỗi lo âu rằng một số người có
thể mất việc và như vậy họ sẽ không còn nguồn để sinh sống. Tỷ lệ thất nghiệp
lớn có thể sẽ gây áp lực về chính trị và bất ổn về xã hội khi một số lớn người lao
động bị mất việc làm và do vậy có thể dẫn đến xu hướng lạm dụng các chế độ
BHXH để bù đắp mất mát thu nhập khi chưa có chế độ hỗ trợ đối với người bị
thất nghiệp.
2.2 Bảo hiểm thất nghiệp và chính sách bảo hiểm thất nghiệp
2.2.1 Bảo hiểm thất nghiệp
BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất thu
nhập do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động.
Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho
người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là
thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những
lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định.
Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN.
Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên
8
tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đích
lợi nhuận. Quỹ này được dùng để trợ cấp cho người lao động bị thất nghiệp,
nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho bản thân và gia đình.
2.2.2 Chính sách BHTN
2.2.2.1 Khái niệm chính sách BHTN
sớm quay trở lại thị trường lao động. Ngoài ra, người lao động bị thất nghiệp
còn được hưởng nhiều quyền lợi khác từ chính sách BHTN như được đóng bảo
hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp.
- Chính sách BHTN của Chính phủ hỗ trợ người sử dụng lao động trong
việc giải quyết vấn đề thất nghiệp của người lao động
Chính sách BHTN của Chính phủ hỗ trợ tài chính cho người lao động bị
thất nghiệp, điều đó gián tiếp hỗ trợ cho người sử dụng lao động, giảm áp lực
cho họ trong vấn đề hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp. Mặt khác, chính sách
cung cấp thông tin, tư vấn đào tạo cho người lao động bị thất nghiệp tìm việc
làm, giúp cho người sử dụng lao động, những người có nhu cầu lao động và
những người thất nghiệp, đang có nhu cầu tìm việc làm, có nhiều cơ hội gặp
nhau hơn.
- Chính sách BHTN góp phần vào sự ổn định, phát triển kinh tế xã hội
của đất nước
Thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng mất thu nhập đột ngột và khi thất
nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng, người thất nghiệp sống
dưới mức tiêu chuẩn chung của xã hội. Điều đó có thể phát sinh các tệ nạn xã
hội, gây bất ổn cho xã hội. Chính sách BHTN ra đời nhằm góp phần giảm thiểu
tình trang thất nghiệp, giúp người thất nghiệp và gia đình họ có cuộc sống ổn
10
định trong thời gian bị thất nghiệp, góp phần ổn định cho xã hội, tạo điều kiện
cho kinh tế phát triển.
b, Một số nguyên tắc cơ bản của chính sách BHTN
Chính sách BHTN của các nước được xây dựng và thực thi dựa trên
những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chính sách BHTN dựa trên nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro.
BHTN dựa trên sự tương trợ giữa các cá nhân trong xã hội, theo đó số
đông bù số ít. Việc tham gia vào BHTN phải là bắt buộc đối với người lao động
và người sử dụng lao động. Những chủ thể này đều có trách nhiệm tham gia
tổ chức, quản lý sự nghiệp BHTN cho toàn xã hội nhưng không bao cấp, không
lấy ngân sách để chi trả mà chỉ hỗ trợ một phần.
Thứ năm, chính sách BHTN đảm bảo nguyên tắc lành mạnh hóa thị
trường lao động. Để giải quyết thất nghiệp đòi hỏi phải có một chính sách tổng
thể, được thiết kế để kích thích nền kinh tế. Xu hướng chung của các nước hiện
nay là, ngoài trợ cấp cho người lao động, khi thất nghiệp, có điều kiện sinh
sống, người ta còn thực hiện thêm biện pháp đào tạo lại người lao động để họ có
điều kiện dễ tìm việc làm mới. Vì vậy, BHTN được liên kết chặt chẽ với các
biện pháp thị trường lao động tích cực như tạo ra chỗ làm việc mới, bảo vệ chỗ
làm việc, nâng cao năng lực cho người lao động, tìm việc làm cho người thất
nghiệp. Các biện pháp này luôn gắn liền với chính sách và chương trình việc
làm quốc gia. BHTNthường được thống nhất với chương trình việc làm quốc
gia. Đây như một biện pháp, chính sách hỗ trợ lao động nhằm đẩy lùi thất
nghiệp, nhanh chóng đưa người thất nghiệp trở lại làm việc.
2.2.2.3 Nội dung của chính sách BHTN
a, Mục tiêu của chính sách BHTN
12
- An sinh xã hội: Thất nghiệp là vấn đề nan giải đối với bất kỳ nước nào.
Thất nghiệp gia tăng làm cho các tệ nạn xã hội phát triển, người lao động lâm
vào tình cảnh túng quẫn và trở nên nghèo đói. Để giải quyết vần đề thất nghiệp
và đảm bảo an sinh xã hội thì cần phải có nhiều chính sách, trong đó có chính
sách BHTN. Chính sách BHTN không chỉ đảm bảo cho người lao động mất việc
làm, có một khoản thu nhập, giúp họ và gia đình họ ổn định cuộc sống trong một
thời gian nhất định mà mục tiêu chính của chính sách BHTN là giúp người lao
động sớm quay trở lại thị trường lao động tìm việc làm và trong quá trình tìm
việc làm người lao động còn được chăm sóc y tế miễn phí.
- Ổn định và phát triển kinh tế: Thất nghiệp gia tăng làm cho tình hình
chính trị - xã hội bất ổn, lãng phí nguồn lực xã hội và là một trong những
nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển. Chính
* Trợ cấp thất nghiệp
1. Trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền hằng tháng được trả cho người lao
động tham gia BHTN khi bị thất nghiệp có đủ điều kiện hưởng BHTN theo quy
định hoặc người đượcủy quyền theo quy định.
2. Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền
lương, tiền công tháng đóng BHTN của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc
làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc
chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
3. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc vào thời
gian làm việc có đóng BHTN của người lao động cụ thể như sau:
Bảng1: Chế độ BHTN ở Việt Nam hiện nay
TT
Thời gian hưởng trợ cấp thất
nghiệp
Thời gianđóngBHTN
1 3 tháng Từ đủ12 tháng đến dưới36 tháng
2 6 tháng Từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng
14
3 9 tháng Từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng
4 12 tháng Từ đủ144 tháng
* Hỗ trợ học nghề
1. Việc tổ chức thực hiện hỗ trợ học nghề cho người lao động đang
hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua các cơ sở
dạy nghề.
2. Mức hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất
nghiệpbằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy
nghề.
Ngân hàng thương mại nhà nước.
2. Hằng năm, tổ chức BHXH có trách nhiệm thực hiện việc quyết toán
thu, chi QuỹBHTN; chi quản lý theo quy định.
3. Chi trả trợ cấp thất nghiệp hằng tháng cho người lao động được
hưởng chế độ BHTN.
4. Chi hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất
nghiệp hằng tháng.
5. Chi hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất
nghiệp hằng tháng.
6. Chi đóng bảo hiểm y tế cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất
nghiệp hằng tháng.
16
7. Chi phí quản lý BHTN.
8. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định.
2.2.2.4 Tình hình thực thi chính sách
a, Tổ chức triển khai
Bộ LAO ĐỘNG -
THƯƠNG BINH
Và XÃ HỘI
Cục Việc làm
Bảo hiểm thất nghiệpSở Lao Động các Tỉnh,
Thành phố
Phòng BHTN thu
ộc
Trung tâm gi
ới thiệu
việc làm; Phòng Vi
ệc
làm; Phòng dạy nghề
Phòng Lao Động
Quận, Huyện
(Được Hợp đồng uỷ
thác)
HĐQLBHXHVN
BHXH VIỆT NAMBHXH Các tỉnh, th
ành
phố
sung một số điểm Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên, trong đó quy
định nội dung rất quan trọng là chuyển nhiệm vụ thực hiện BHTN từ Phòng Lao
động-Thương binh và Xã hội cấp huyện sang Trung tâm Giới thiệu việc làm
thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh/thành phố trực thuộc Trung
ương. Ngày 25 tháng 10 năm 2010, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội ban
hành Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của
Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm2008 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về BHTN
(thay thế Thông tư số 04/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 10 năm 2010 và
Thông tư số 34/2009/TT-BLĐTBXH ngày 16 tháng 10 năm 2009 nêu trên)
nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho người lao động và khắc phục, giải quyết được
các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện BHTN.
Ngày 21/11/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2012/NĐ- CP
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ- CP ngày
12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Bảo hiểm xã hội về BHTN và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2013
với những quy định về đối tượng tham gia BHTN, hỗ trợ học nghề, trình tự và
thủ tục thực hiện BHTN (trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày bị mất việc làm hoặc
chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc nếu người lao động chưa
có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động thực
hiện đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động); người lao động khi nộp hồ sơ
hưởng BHTN phải xuất trình Sổ bảo hiểm xã hội hoặc bản xác nhận của cơ
quan Bảo hiểm xã hội về việc đóng BHTN; trong thời hạn 5 ngày (tính theo
ngày làm việc), kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của
cơ quan lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả tiền trợ cấp thất
nghiệp hằng tháng hoặc trợ cấp một lần cho người lao động. Trường hợp,cơ
18
quan Bảo hiểm xã hội không thực hiện việc chi trả theo đúng thời hạn quy định
hoặc từ chối yêu cầu chi trả các chế độ BHTN không đúng quy định của pháp
vướng mắc còn tồn đọng; xây dựng phần mềm quản lý BHTN; thực hiện
chương trình phối hợp giữa Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và Bảo hiểm
xã hội Việt Nam Các hoạt động triển khai nêu trên được triển khai đồng bộ từ
Trung ương đến địa phương và có sự phối hợi chặt chẽ giữa các ngành.
Các Trung tâm Giới thiệu việc làm đã khẩn trương thành lập Phòng BHTN
và thành lập các văn phòng đại diện, chi nhánh và các điểm tiếp nhận đăng ký
thất nghiệp và giải quyết các thủ tục hưởng BHTN tại một số quận, huyện hoặc
cụm quận, huyện để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người thất nghiệp đến đăng
19
ký thất nghiệp; tuyển dụng và đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ
về BHTN; trang bị cơ sở vật chất để đảm bảo phục vụ cho nhiệm vụ mới được
giao về BHTN; thực hiện tốt việc tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hưởng
BHTN.
Việc giải quyết hưởng BHTN được thực hiện theo quy trình chuẩn từ khâu
tiếp nhận hồ sơ, đăng ký thất nghiệp, xem xét và ban hành quyết định hưởng trợ
cấp thất nghiệp, tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề cho người thất
nghiệp. Trong quá trình thực hiện được thực hiện theo phương châm 3
đúng “đúng đối tượng, đúng chế độ, đúng thời hạn” đã đảm bảo thực hiện
quyền lợi một cách tốt nhất cho người thất nghiệp.
(3) Số lượng người tham gia BHTN tăng nhanh
Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2009 có 5,9 triệu
người tham gia BHTN, tổng số thu là 3.510,7 tỷ đồng; năm 2010 số người tham
gia BHTN trên 7,2 triệu người tăng 20,2% so với năm 2009, tổng số thu khoảng
5.400,3 tỷ đồng; năm 2011, cả nước có 7,9 triệu người tham gia BHTN, tăng
10,1% so với năm 2010, chiếm 78,7% so với đối tượng tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc với số thu là 5.730,3 tỷ đồng. Năm 2012 có trên 8 triệu người tham
gia BHTN và cân đối quỹ đã kết dư từ năm2009 đến tháng 5/2012 kết dư là
16.537 tỷ. Theo dự tính với các quy định về mức đóng, mức hưởng hiện hành
quỹ BHTN đảm bảo an toàn.
Hà Nội đã có gần 43.000 người đến đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp và
hơn 36.000 người được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Số tiền Trung tâm Giới
thiệu việc làm Hà Nội đã chi trả hưởng bảo hiểm thất nghiệp là hơn 295 tỷ
đồng. Đặc biệt, không chỉ lao động phổ thông mà những người có chuyên môn,
thu nhập cao cũng tìm đến bảo hiểm thất nghiệp nhiều hơn. Cụ thể trong 11
tháng đầu năm 2012, số lao động phổ thông đến đăng ký chiếm 53%, lao động
có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 35%. Trong các loại hình DN thì đối tượng
đăng ký nhận bảo hiểm thất nghiệp thuộc loại hình DN TNHH chiếm đến 60%,
công ty cổ phần chiếm 33% và các loại hình DN khác chiếm 7%.
Thống kê của Trung tâm Giới thiệu việc làm TP. HCM cho thấy, 11
tháng đầu năm 2012, tại TP. HCM có khoảng 130.000 người đăng ký bảo hiểm
thất nghiệp, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2011, trung bình mỗi tháng trên
địa bàn thành phố có khoảng 11.000 người thất nghiệp.
Quá trình tổ chức, triển khai thực hiện đã khẳng định đây là chính sách
đúng đắn có tác động trực tiếp, thiết thực tới người lao động, người sử dụng lao
động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, được người sử dụng lao động, người
lao động đón nhận một cách tích cực, được dư luận xã hội đánh giá là một trong
những chính sách sớm đi vào cuộc sống.
c, Hạn chế
- Về chính sách
+ Việc xác định đối tượng cụ thể tham gia BHTN cũng gặp nhiều khó
khăn, đặc biệt các đối tượng tham gia BHTN trong các đơn vị sự nghiệp nhà
nước. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01
năm 2010 quy định những người là công chức, trong đó có quy định những
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu, một số vị trí công việc của các
đơn vị sự nghiệp nhà nước (tùy từng đơn vị sự nghiệp nhà nước trực thuộc cấp
21
nào) được coi là công chức nên không thuộc đối tượng tham gia BHTN, những
đối tượng này, trước đây không được coi là công chức nên thuộc đối tượng
đồng làm việc phải đăng ký thất nghiệp, trong vòng 15 ngày kể từ ngày đăng ký
thất nghiệp phải nộp hồ sơ hưởng BHTN là tương đối ngắn, trong điều kiện việc
chốt sổ bảo hiểm xã hội gặp khó khăn, xác nhận của người sử dụng lao động
không kịp thời; hơn nữa, nhiều trường hợp người lao động chưa muốn đăng ký
thất nghiệp ngay do muốn tìm việc làm, không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất
nghiệp hoặc vì những lý do cá nhân khác
+ Về nhận trợ cấp thất nghiệp của người thất nghiệp: Sau khi Giám đốc
Sở Lao động-Thương binh và Xã hội ký quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp,
Trung tâm Giới thiệu việc làm gửi Quyết định cho cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp
tỉnh thực hiện việc chi trả, cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh thực hiện việc lập
danh sách người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phân theo địa bàn cấp huyện
và gửi cho cơ quan Bảo hiểm cấp huyện chi trả, cơ quan BHTN cấp huyện thực
hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động tại trụ sở hoặc cử cán bộ
của Bảo hiểm xã hội cấp huyện xuống tận xã chi trả hoặc đại lý chi trả tại mỗi
xã vào một ngày nhất định trong tháng (áp dụng như chi trả chế độ hưu trí, mất
sức lao động và các chế độ này tính theo tháng,không phù hợp với việc chi trả
trợ cấp thất nghiệp là tính theo ngày, ngày hưởng trợ cấp thất nghiệp từ ngày
thứ 16 kể từ ngày người lao động đăng ký thất nghiệp). Do vậy, người lao động
thường nhận được trợ cấp thất nghiệp chậm hơn rất nhiều so với thời gian nhận
được Quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, không đảm bảo được mục đích của
chính sách BHTN là hỗ trợ cho người lao động một khoản kinh phí để ổn định
cuộc sống trong thời gian tìm việc làm mới. Mặt khác, khi phát hiện các vấn đề
vi phạm sẽ khó xử lý theo quy định của pháp luật, nhất là đối với các trường
hợp tạm dừng, chấm dứt hưởng BHTN.
+ Trách nhiệm của người sử dụng lao động: Chưa quy định cụ thể trách
nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thông báo với cơ quan lao động
23
khi có biến động lao động, đây là vấn đề rất quan trọng trong việc quản lý và
thực hiện chính sách BHTN.
để làm thủ tục đăng ký thất nghiệp, hưởng các chế độ BHTN, gây khó khăn
cho người thất nghiệp. Hơn nữa, đây lại là hai ngành độc lập với nhau về tổ
chức. Do đó, các thủ tục hành chính phải qua rất nhiều khâu, gây khó khăn,
phiền hà cho người hưởng BHTN.
Tuy được coi là biện pháp hỗ trợ tích cực cho lao động thất nghiệp
nhưng tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội (trong đó có nợ bảo hiểm thất
nghiệp) ngày càng gia tăng. Tình trạng nợ đọng, chậm đóng bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế xảy ra hầu hết ở các địa phương và ngày càng diễn biến phức tạp,
gia tăng cả số đơn vị, số tiền. Nhiều đơn vị để nợ đọng trong thời gian dài, gây
ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Không ít trường hợp chủ DN trích
tiền lương của người lao động để đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhưng
không nộp hoặc khi các cơ quan thanh tra, xử lý thì DN mới chịu nộp. Đáng chú
ý, nợ bảo hiểm thất nghiệp ở khu vực hành chính, sự nghiệp lại phổ biến hơn ở
các khối ngành nghề khác.
- Gia tăng tình trạng nợ đọng
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp triển khai nhằm thay thế hoặc bù đắp
một phần thu nhập người lao động bị mất do thất nghiệp; hỗ trợ người lao động
về bảo hiểm y tế, học nghề, tìm việc làm, giúp họ nhanh chóng trở lại thị trường
lao động. Tuy được coi là biện pháp hỗ trợ tích cực cho lao động thất nghiệp
nhưng tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội (trong đó có nợ bảo hiểm thất
nghiệp) ngày càng gia tăng.
Bà Đỗ Thị Xuân Phương, Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam
cho biết, tính đến hết tháng 10-2012, số tiền nợ bảo hiểm thất nghiệp là 410,8 tỷ
đồng, riêng ngân sách các địa phương nợ 256,7 tỷ đồng, chiếm 62,5% tổng số
nợ bảo hiểm thất nghiệp, tăng 500,9 tỷ đồng so với tháng 9-2012. Tình trạng nợ
đọng xảy ra hầu hết ở các địa phương và ngày càng diễn biến phức tạp, gia tăng
cả số đơn vị, số tiền. Nhiều đơn vị để nợ đọng trong thời gian dài, gây ảnh
hưởng đến quyền lợi của người lao động. Không ít trường hợp chủ DN trích tiền
lương của người lao động để đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng không nộp hoặc
khi các cơ quan thanh tra, xử lý thì DN mới chịu nộp. Đáng chú ý, nợ bảo hiểm
- Các cơ quan, tổ chức chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của
chính sách nên công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến ở một số địa phương
còn chậm, hình thức thông tin, tuyên truyền còn nghèo nàn dẫn đến một bộ