ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT ĐỖ PHÚ TRẦN TÌNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS Nguyễn Chí Hải
2. TS Nguyễn Văn Bảng
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2010
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Đỗ P hú Trần Tình. Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng
KINH TẾ 8
1.1. Một số lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc phân tích 8
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.2. Một số quan đ
iểm về tăng trưởng kinh tế 10
1.2. Lý luận chung về chất lượng tăng trưởng kinh tế 21
1.2.1. Các quan điểm khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế 21
1.2.2. Các khung phân tích về chất lượng tăng trưởng kinh tế 25
1.2.3. Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế 30
1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực 30
1.2.3.2. Nhóm chỉ tiêu liên quan đến phúc lợi xã hộ
i 32
1.2.3.3. Chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 33
1.2.3.4. Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế với khả năng đảm bảo cơ
sở hạ tầng và bảo vệ tài nguyên môi trường 34
1.2.3.5. Chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh tăng trưởng 35
1.2.4. Các yếu tố tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế 36
1.2.4.1. Các yếu tố về nguồn lự
c và sử dụng nguồn lực 36
1.2.4.2. Các yếu tố về thể chế 38
1.3. Chất lượng tăng trưởng kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế 40
1.3.1. Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế 40
1.3.2. Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế 42
1.4. Kinh nghiệm các nước trên thế giới về việc nâng cao
chất lượng t
ăng trưởng kinh tế 45
iv
1.4.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng
kinh tế giai đoạn 1950 – 1970 45
1.4.2. Kinh nghiệm của Singapore trong việc nâng cao chất lượng tăng
hạ tầng và bảo vệ tài nguyên môi trường 109
2.2.4.1. Tăng trưởng kinh tế với khả năng đảm bảo cơ sở hạ tầng 109
v
2.2.4.2. Tăng trưởng kinh tế với vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường 115
2.2.5. Phân tích về năng lực cạnh tranh tăng trưởng 118
2.3. Đánh giá chung về chất lượng tăng trưởng kinh tế
ở TP.HCM thời gian qua 122
2.3.1. Những thành tựu đạt được về chất lượng tăng trưởng kinh tế 122
2.3.2. Những mâu thuẫn phát sinh về chất lượng tăng trưởng
kinh tế của TP.HCM 124
Tóm lược chươ
ng 2 129
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TP.HCM TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
130
3.1. Cơ sở đề xuất các định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng
tăng trưởng kinh tế TP.HCM 130
3.1.1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với TP.HCM 130
3.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nâng cao
chất lượng tăng trưởng kinh tế 133
3.2. Định hướng và mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng
kinh tế ở TP.HCM trong thời gian tới 135
3.2.1. Định h
ướng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế 135
3.2.2. Các mục tiêu cơ bản trong thời gian tới 137
3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế TP.HCM trong hội
nhập kinh tế quốc tế 141
3.3.1. Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực 141
vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR : Incremental Capital Output Ratio
LĐTBXH : Lao động thương binh xã hội
KHCN : Khoa học công nghệ
Bảng 2.5: Hệ số ICOR của TP.HCM giai đoạn 1991 – 2008 81
Bảng 2.6: So sánh hệ số ICOR của TP.HCM và Việt nam GĐ 1994 – 2008 82
Bảng 2.7: So sánh cơ cấu vốn đầu tư các khu vực của TP.HCM với cả nước 84
Bảng 2.8: Hệ số ICOR của các nước trong khu vực 85
Bảng 2.9: Tốc độ tăng trưởng các nhân tố và đóng góp của các nhân tố
vào tốc độ tăng trưởng GDP của TP.HCM 86
Bảng 2.10: Tốc độ tăng trưởng các nhân tố và đóng góp củ
a các nhân tố
vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam 87
Bảng 2.11: Nguồn tăng trưởng kinh tế, 1960 - 2003 88
Bảng 2.12: Khảo sát đánh giá về hệ thống y tế trên địa bàn TP.HCM 92
Bảng 2.13: Khảo sát đánh giá về hệ thống giáo dục trên địa bàn TP.HCM 94
Bảng 2.14: Tỷ lệ thất nghiệp ở TP.HCM giai đoạn 2001 – 2008 95
Bảng 2.15: GDP Bình quân đầu người TP.HCM giai đoạ
n 1990 – 2008 96
Bảng 2.16: Chi tiêu bình quân một người một tháng trên toàn thành phố 96
Bảng 2.17: Khảo sát đánh giá về cuộc sống hiện nay 98
Bảng 2.18: Thu nhập bình quân một người 1 tháng 99
Bảng 2.19: Thu nhập bình quân một người 1 tháng chia theo khu vực trên địa bàn
TP.HCM giai đoạn 1994 – 2008 102
Bảng 2.20: Chi tiêu bình quân một người một tháng trên thành phố 103
Bảng 2.21: Chuyển dịch của ba ngành kinh tế TP.HCM GĐ 1990-2008 104
Bảng 2.22: Cơ cấu khu vự
c kinh tế ở TP.HCM giai đoạn 1992 – 2008 108
Bảng 2.23 : Khảo sát đánh giá về giao thông trên địa bàn TP.HCM 111
Bảng 2.24 : Khảo sát đánh giá về ngập nước trên địa bàn TP.HCM 114 ix
Bảng 2.25: Thứ hạng CPI của TP.HCM giai đoạn 2005 – 2008 119
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao là mục tiêu của hầu hết các quốc gia, nhất
là đối với các nước đang phát triển. Đây là điều kiện tiên quyết để khắc phục tình
trạng đói nghèo của quốc gia, khắc phục sự lạc hậu, làm cho đời sống vật chất tinh
thần của người dân ngày càng cả
i thiện. Tuy nhiên, thế giới ngày càng chứng kiến
những mặt trái của tăng trưởng kinh tế nhanh, đó là tình trạng tàn phá tài nguyên
môi trường ngày càng nghiêm trọng, phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng, văn hoá
- xã hội không theo kịp phát triển kinh tế…Trước thực tế đó, ngày nay trong hoạch
định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia hay các địa phương,
vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế ngày càng được quan tâm và nhấn mạnh.
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) chiếm 0,6% di
ện tích và hơn 7,8 % dân
số cả nước, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của
cả nước. Có thể nói thành phố là hạt nhân vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với
mức đóng góp hơn 65% GDP trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và đóng
góp hơn 20% GDP của cả nước. TP.HCM là nơi hoạt động kinh tế năng động, với
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Nếu như n
ăm 1991 tốc độ tăng trưởng GDP của
thành phố là 9,1 % thì đến năm 2007 tăng lên 12,6% và năm 2008 là 10,7%. Tính
bình quân giai đoạn 1991 – 1995 GDP thành phố tăng trưởng là 12,6%/năm, giai
đoạn 1996 – 2000 GDP tăng trưởng là 10,3 %/năm, giai đoạn 2001 – 2005 GDP
thành phố đạt mức tăng trưởng 11%/năm và giai đoạn 2006 – 2008 đạt tốc độ tăng
trưởng bình quân 11,63 %/năm. Những thành tựu về kinh tế, chính trị và xã hội
thời gian qua đã góp phần đưa thành ph
ố trở thành trung tâm kinh tế đứng đầu cả
nước.
Tuy nhiên, khi đề cập đến kinh tế TP.HCM nhiều chuyên gia cũng như nhà
quản lý thường nói: “Kinh tế TP.HCM thời gian qua đạt tốc độ tăng trưởng cao
biểu là các công trình:
Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam củ
a GS.TS Nguyễn
Văn Nam và PGS.TS Trần Thọ Đạt. Công trình này bày khái quát thực trạng tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam về tốc độ và chất lượng giai đoạn 1991 – 2005, trên cơ
sở đó, các tác giả đã phân tích các nhân tố có tác động tích cực cũng như các nhân
tố cản trở đối với việc nâng cao tốc độ và chất lượng kinh tế ở Việt Nam.
Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hộ
i tốc độ nhanh, bền vững
3
chất lượng cao ở Việt Nam của TS Đinh Văn Ân. Công trình này trình bày quan
niệm về phát triển nhanh, bền vững và chất lượng cao trên thế giới cũng như ở
Việt Nam. Tác giả cũng đưa ra các giải pháp trong những năm tới để phát triển
nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam.
Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam nhưng rào cản cần phải vượt qua của GS.
TS Nguy
ễn Văn Thường. Công trình đã đi sâu vào việc phân tích các rào cản đối
với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, trong đó có đề cập đến những rào cản đối với
việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng ở vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam thời kỳ 2001 – 2010 của TS Trương Thị Minh Sâm. Công trình này tập
trung vào việc phân tích nhữ
ng thành tựu và hạn chế của việc tăng trưởng kinh tế
của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra một số giải
pháp để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001 – 2010.
Về chất lượng tăng trưởng kinh tế ở TP.HCM, hầu hết các công trình, nghiên
cứu chỉ đề cập đến một khía cạnh của vấ
n đề chất lượng tăng trưởng kinh tế, tiêu
biểu có các công trình sau:
Mức sống dân cư và diễn biến phân hoá giàu nghèo tại TP.HCM, đề tài của
tranh của các doanh nghiệp trong nước tại TP.HCM. Qua đó, đánh giá các nhân tố
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và đề xuất những công việc phải làm đối với
nhà nước và doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trong đi
ều kiện hội nhập.
Kinh tế TP.HCM 30 năm xây dựng và phát triển (1975-2005), công trình do
viện kinh tế phối hợp với sở văn hóa thông tin TP.HCM chủ trì. Công trình này đã
giới thiệu bức tranh tổng thể những thành tựu kinh tế của thành phố trong 30 năm
và một số vấn đề kinh tế đang đặt ra trong thời gian tới.
Những công trình trên đã trình bày các khía cạnh khác nhau của tăng trưởng
kinh tế ở thành phố. Tuy nhiên, chưa có m
ột công trình nào đánh giá một cách
toàn diện chất lượng tăng trưởng kinh tế ở TP.HCM. Do đó, bản thân tác giả đặt ra
mục tiêu nghiên cứu của mình là phân tích và đánh giá một cách tổng quát chất
lượng tăng trưởng kinh tế ở TP.HCM thông qua các mặt hiệu quả sử dụng các
nguồn lực, phúc lợi xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khả năng đảm bảo cơ sở hạ
tầng, môi tr
ường sinh thái và năng lực cạnh tranh tăng trưởng.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng tăng
trưởng kinh tế của TP.HCM trong những năm qua. Từ đó, đề xuất các định hướng
và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của thành phố trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Hướng t
ới mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm
vụ sau:
- Luận án phân tích một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về chất
lượng tăng trưởng kinh tế.
- Luận án phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở
trình nghiên cứu luận án. Trong quá trình nghiên cứu, luận án không đi vào nghiên
cứu tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế mà chỉ tập trung vào
những yếu tố cơ bản nhất tác động trực tiếp đến ch
ất lượng tăng trưởng kinh tế ở
thành phố, thông qua các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng các nguồn lực, về phúc lợi
xã hội, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, về khả năng đảm bảo cơ sở hạ tầng, môi
trường sinh thái và về năng lực cạnh tranh.
Phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp, khảo sát, mô hình hóa có vai
trò hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Trong quá trình phân tích, luận
án chú trọng phân tích, đánh giá với dẫn chứng để chứng minh bằng số liệu cụ thể;
kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
b. Nguồn số liệu nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất, đề tài sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ các cuộc điều tra khảo sát
mức sống dân cư trên địa bàn thành phố năm 1994, 2002, 2004, 2006, 2008 của
Cụ
c thống kê TP.HCM. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các số liệu trong niên giám
thống kê TP.HCM qua các năm 1993, 1996, 1999, 2000, 2004, 2006, 2007, 2008
và các báo cáo tổng hợp của Sở Lao động Thương binh Xã hội TP.HCM, Ban chỉ
đạo Xoá đói giảm nghèo thành phố, Sở kế hoạch đầu tư TP.HCM.
Thứ hai, đề tài sử dụng nguồn số liệu sơ cấp thông qua việc tiến hành điều
tra, khảo sát 539 mẫu đánh giá các nhóm dân cư trên địa bàn thành phố về các vấn
7
đề liên quan đến phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống, cơ sở hạ tầng trên địa bàn
thành phố. Qua đó, có được đánh giá thực tế hơn về một số vấn đề mà đề tài
nghiên cứu.
6. Những điểm mới của luận án
Một là, luận án phân tích một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về chất
lượng tăng trưởng kinh tế. Làm rõ khái niệ
m chất lượng tăng trưởng kinh tế theo
quan điểm của luận án và xây dựng các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu tại
mỗi quốc gia trong quá trình phát triển, nhất là ở giai đoạn đầu của quá trình phát
triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề này ngày càng hoàn thiện hơn.
Nếu tiếp cận trong ngắn hạn, thì tăng tr
ưởng kinh tế có các khái niệm sau:
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một
khoảng thời gian nhất định.
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng quốc gia hoặc sản lượng quốc
gia tính bình quân trên đầu người trong một thời gian nhất định.
Nếu tiếp cận trong dài hạn, thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng quy mô sản
lượng hay sự
mở rộng sản lượng của một nền kinh tế qua các năm.
Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền
kinh tế.
Ngày nay, để đo lường sản lượng hay thu nhập của nền kinh tế người ta
thường dùng các chỉ tiêu sau:
- Tổng giá trị sản xuất (GO – Gross Output) là tổng giá trị sản phẩm vật chất
và dịch v
ụ được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm).
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product) là tổng giá trị
của những hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ
của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định.
- Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross National Income) là tổng giá trị của
nhữ
ng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi yếu tố sản xuất của một
9
nước trong một khoảng thời gian nhất định.
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.
“Phát triển kinh tế được xem là quá trình biến đổi cả về lượng lẫn về chất của nền
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và
Phát triển Thế giới - WCED. Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát
triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại
đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai "[6, tr.1].
Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội ngh
ị về Môi
trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi
đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong
việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ ch
ức tại Nam Phi
năm 2002 đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp
chặt chẽ, hài hòa, hợp lý giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, cải
thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường”[34, tr.3]. Hội nghị này
nhận định rằng các vấn đề về môi trường trên thế giới là hậu quả của việc bùng nổ
dân số toàn cầu, của việc tiêu thụ ngày càng nhiều tài nguyên, của các mục tiêu
kinh tế ngắn hạn, của việc quá chú trọng lợi nhuận dẫn đến phí phạm nghiêm trọng
các nguồn lực thiên nhiên và đặc biệt là của tình trạng bất công bằng xã hội gây ra
và khoét sâu khoảng cách giàu nghèo.
1.1.2. Một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế
1.1.2.1. Quan điểm cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Quan điểm cổ điển về tăng trưởng kinh tế được xây dựng bởi các đại biểu
là William Petty (1623-1687), Adam Smith ( 1723 - 1790) và David Ricardo (
1772 - 1823). Quan điểm này có những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, họ cho rằng nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó
yếu tố căn bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn. Trong từng
ngành và phù hợp với mộ
t trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố này kết hợp với
thời đại, mọ
i phương thức sản xuất, đó là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản
xuất với trình độ của lực lượng sản xuất. Mác viết: “ Trong sự sản xuất xã hội ra
đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ
thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù
12
hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ.
Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội ”[13,
tr.14]. Như vậy, theo Mác lực lượng sản xuất phát triển đến đâu thì quan hệ sản
xuất phát triển tương ứng tới đó. Sự phát triển vượt trướ
c hay tụt hậu của quan hệ
sản xuất so với sự phát triển của lực lượng sản xuất đều làm cản trở sự phát triển
của sức sản xuất xã hội. Do đó, không thể xoá bỏ một hình thức quan hệ sản xuất
nào đó khi mà lực lượng sản xuất tương ứng với nó đang còn sức sống, đang còn
là một tất yếu kinh tế
đối với sự phát triển của xã hội. Các Mác đã viết: “ Không
một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà
hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho sự phát triển, vẫn chưa phát triển, và
những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi
những điều kiện tồn tại vật chấ
t của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng
bản thân xã hội cũ” [13, tr.15 -16].
Thứ hai, về các yếu tố của tăng trưởng kinh tế. Nếu như các nhà kinh tế học
cổ điển xem đất đai, lao động và vốn là ba yếu tố cơ bản của tăng trưởng, trong đó
đất đai là yếu tố quan trọng nhất, thì Mác cho rằng các yếu tố tác động đến tăng
trưởng kinh tế không chỉ là đất đai, lao động, vốn mà còn có yếu khoa học kỹ
thuật. Về vai trò khoa học kỹ thuật trong tăng trưởng kinh tế, Mác viết: “Khoa học
kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp”[12, tr.234]. Mác đã đề cao vai trò của
khoa học kỹ thuật trong sản xuất khi cho rằng mục đích của nhà tư bản là tìm mọi
cách để tăng giá trị thặng dư, cho nên h
nó. Điều này đòi hỏi cơ cấu sản xuất xã hội phải có những thay đổi so với tái sản
xuất giản đơn.
Nghiên cứu tái sản xuất tư bả
n xã hội khi chưa xét tới ảnh hưởng của tiến bộ
kỹ thuật, chưa tính đến thay đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản, Mác đã thấy vai trò ưu
tiên của việc sản xuất tư liệu sản xuất. Tổng cung về tư liệu sản xuất phải đủ
không những để bù đắp tư liệu sản xuất đã tiêu dùng mà còn để mở
rộng sản xuất;
quy mô tái sản xuất mở rộng của khu vực I quyết định quy mô tái sản xuất mở
rộng của khu vực II. Khi tính tới ảnh hưởng của tiến bộ kỹ thuật làm cho cấu tạo
hữu cơ của tư bản không ngừng tăng lên trong quá trình tái sản xuất mở rộng, V.I.
Lênin đã phát hiện ra quy luật: sản xuất ra tư liệu sản xuất để
chế tạo tư liệu sản
xuất tăng nhanh nhất, sau đến là sản xuất ra tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu
dùng và chậm nhất là sự phát triển của tư liệu tiêu dùng. Đó là quy luật ưu tiên
phát triển sản xuất tư liệu sản xuất, một quy luật kinh tế quan trọng của nền kinh
tế hiện đại.
Cho đến nay, lý thuyế
t của Mác về tăng trưởng kinh tế vẫn có ý nghĩa thực
14
tiễn rất lớn, nhất là trong việc giải thích vấn đề mà các nước đang phát triển gặp
phải ngày nay.
1.1.2.3. Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Cuối thế kỷ XIX là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học
kỹ thuật. Hàng loạt các phát minh khoa học và các nguồn tài nguyên được khai
thác phục vụ cho quá trình sản xuất. Sự phát triển này hình thành một trườ
ng phái
kinh tế mới – trường phái tân cổ điển.
Trong mô hình tân cổ điển, các nhà kinh tế học bác bỏ quan điểm cổ điển
cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về
Học thuyết kinh tế của John Maynar Keynes ra đời trong hoàn cảnh cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới ( 1929 -1933) đã làm phá sản học thuyết “bàn tay vô
hình, thăng bằng tổng quát” của trường phái cổ điển và tân cổ đi
ển. Ngoài ra,
những năm 30 của thế kỷ XX, lực lượng sản xuất xã hội đã phát triển mạnh mẽ, xã
hội hóa ngày càng cao hơn so với thời kỳ trước đòi hỏi phải có sự điều chỉnh tác
động của nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội trong xã hội tư bản.
Theo Keynes, một nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ bản: tổng
cung - tức toàn bộ
số hàng hóa bán trên thị trường và tổng cầu - tức toàn thể số
hàng hóa mà người ta muốn mua. Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và
việc làm trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu. Tổng
cung giữ vai trò thụ động, nó chịu sự tác động của tổng cầu. Đến lượt mình, tổng
cầu phụ thuộc vào các yếu tố: mức chi tiêu cá nhân của mỗi gia đình, mức chi tiêu
đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu của nước ngoài đối với hàng hóa sản
xuất trong nước (xuất khẩu ròng). Trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng
cầu thường không theo kịp tổng cung. Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất,
thu hẹp đầu tư và gây ra nạn thất nghiệp. Để giải quyết tình trạng này phải tăng
tổng cầu, tổng cầu lớ
n hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư do đó sẽ gia tăng việc
làm và gia tăng thu nhập. Cuối cùng sản lượng quốc gia sẽ tăng.
Trong logic phân tích của mình, Keynes cho rằng để thoát khỏi khủng hoàng
và thất nghiệp cần có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng tổng cầu,
gia tăng việc làm và thu nhập. Trước hết, Ông đề nghị sử dụng ngân sách nhà
16
nước để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của Nhà nước và trợ cấp vốn
cho doanh nghiệp. Để kích thích đầu tư phải có các biện pháp tăng lợi nhuận và
giảm lãi suất, muốn vậy phải tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Keynes đề
nghị thực hiện lạm phát có mức độ. Ông đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế
khóa, công trái nhà nước, qua đó để bổ sung ngân sách nhà nước. Ông
Vì vậy, ta có thể viết :
Y
I
s =
Mà mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất ( K ) nên: I = ∆ K
(4)
Nếu gọi k là tỷ số giữa gia tăng đầu tư với gia tăng sản lượng. Hay còn goi
hệ số ICOR – hệ số gia tăng vốn đầu ra.