CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA NGƯỜI KHMER Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 33

Hội thảo khoa học: Chất lượng cuộc sống của người dân TP. HCM trong bối cảnh kinh tế hiện nay

CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA NGƯỜI KHMER
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ThS. Nguyễn Thị Hoài Hương*
I. Giới thiệu về người Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh
1. Dân số và quá trình hình thành cộng đồng tộc người Khmer tại
thành phố Hồ Chí Minh
Người Khmer đang sinh sống tại TPHCM có nguồn gốc từ các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long, chỉ một số rất ít có nguồn gốc từ các tỉnh miền Đông Nam
Bộ, đặc biệt có những hộ sinh ra và lớn lên tại TPHCM không xác định được
nguyên quán của mình (Trung tâm KHXH&NV TPHCM, 1999, tr.641). Nhiều
nghiên cứu trước đây cho rằng người Khmer ở TPHCM hiện nay là những
người nhập cư đến thành phố vào các thời điểm khác nhau nhưng do nhiều biến
cố lịch sử và số lượng dân cư ít, sống phân tán nên tài liệu lịch sử ít được ghi
chép (Thái Văn Chải, Trần Thanh Pôn, 1998; Nguyễn Văn Tiệp, 2006).
Cũng có ý kiến cho rằng thời điểm tộc người Khmer có mặt tại TPHCM
là khoảng những năm 40 của thế kỷ 20 (Lê Thị Mỹ Dung, 2006, tr. 259). Nhưng
theo số liệu về dân số Khmer tại Sài Gòn (sớm nhất được biết cho đến hiện nay)
vào thời điểm năm 1888 có 92 người (Barrault (capt)1927)1; Vào năm 1897,
dân số Khmer 58 người2; Đến năm 1972 là 2.900 người3; Cho đến các cuộc tổng
điều tra dân số năm 1999 có 4.755 người và năm 2009 có 24.268 người. Mặc dù
dân số Khmer chưa có một thống kê đầy đủ theo lịch đại, nhưng qua các mốc
trên cho thấy dân số Khmer tại TPHCM có sự gia tăng theo thời gian.
Bảng 1. Sự phát triển dân số của người Khmer ở TP.HCM
từ 1886 đến nay
Năm18861 18884

*

18972

92

58

-

2.900

3.089

3.882

4.755

24.268

Nguồn: (1) Barrault (capt). Les Cambodgiens de Cochinchine. Extrême
Asie Revue Indochinoise, sept-oct, 1927, tr 140-141.
(2) Annuaire général de l’Indochine, 1910, Hà Nội, Nxb IDEO, tr.550.
(3) Theo Bảng kê tình hình chùa chiền, sư sãi và đồng bào Khmer theo
đơn vị hành chánh cũ Nam Bộ của Nha Tổng đốc đặc trách phát triển đồng bào
Việt gốc Miên của Ngụy quyền Sài Gòn. Bảng làm tại Cần Thơ ngày 2.11.1972.
(4) Phan An.Vấn đề tôn giáo và dân tộc trong định hướng phát triển địa
bàn kinh tế trọng điểm phía Nam. In trong: Lịch sử khai phá Đông Nam Bộ. Đề
tài đặc biệt cấp Nhà nước “Tổ chức lãnh thổ địa bàn kinh tế trọng điểm phía
Nam, 1993.
(5) Cục Thống kê TPHCM, Số liệu thống kê dân số người Khmer ở
TPHCM 1995.
(6)Tổng cục thống kê Việt Nam, Tổng điều tra dân số các năm 1989,
1999 và 2009.

Ngụy quyền Sài Gòn. Theo chân những binh lính Khmer, những người thân của
họ cũng đến Sài Gòn kiếm sống, ban đầu họ cũng ở rải rác quanh khu vực ngãtư
Bảy Hiền.
Trong năm 1961, một nhà sư Khmer có tên là Lý Âm (có tài liệu ghi là
Thạch Am) đến vùng Bảy Hiền huy động đồng bào trong khu vực dựng một cái
am thờ Phật bằng gỗ thông, mái tôn. Am này là tiền thân của chùa Pôthiwong5
(phường 10, quận Tân Bình hiện nay) phục vụ nhu cầu tôn giáo của đồng bào
Khmer khu vực này. Cũng trong những năm 60, khi chiến tranh leo thang, nhiều
thanh niên Khmer bị bắt lính, không ít thanh niên ở Tây Nam Bộ lên hẳn Sài
Gòn trốn lính. Nhiều gia đình do hoàn cảnh khó khăn, đói kém hoặc lánh nạn
chiến tranh cũng tìm đến Sài Gòn để tìm phương cách kiếm sống. Họ tập trung
xung quanh hai ngôi chùa Chăntarănsây và Pôthiwong, nơi đã có sẵn một cộng
đồng nhỏ người Khmer cư trú. Tính riêng địa bàn phường 7, quận 3 năm 1968
có hơn 100 hộ người Khmer.
Theo Bảng kê tình hình chùa chiền, sư sãi và đồng bào Khmer theo đơn
vị hành chánh cũ Nam Bộ của Nha Tổng đốc đặc trách phát triển đồng bào Việt
gốc Miên của Ngụy quyền Sài Gòn, bảng làm tại Cần Thơ ngày 2.11.1972, có
ghi tại Sài Gòn vào thời điểm này chỉ có một ngôi chùa theo hệ phái Théravada
(Nam tông) với 25 sư sãi và dân số Khmer lúc bấy giờ là 2.900 người trên tổng
số cư dân Khmer Nam Bộ là 646.651 người. Như vậy tài liệu điền dã ghi chép
chùa Pôthivong (lúc đó mới chỉ là một cái am nhỏ có lẽ chưa được thống kê
trong bảng danh sách chùa ở Nam Bộ). Về mốc xây dựng chùa Pôthivong sau
này chưa rõ xây vào thời điểm nào.
Giai đoạn 1975-1986: Giai đoạn sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng,
dân số Khmer TPHCM biến động theo xu hướng giảm vì nhiều lý do. Một số họ
di tản ra nước ngoài hoặc trở về quê cũ làm ăn, một số người Khmer rời thành
phố đi xây dựng vùng kinh tế mới theo chính sách của Nhà nước. Một số người
5

Bodhivong- dòng dõi Phật.

phân bố dân cư trải khắp các quận huyện, nhưng địa bàn cư trú lan tỏa rộng ra
các vùng ven và ngoại thành thành phố, đông nhất là các quận huyện như: Bình
Tân (5.358 người), Bình Chánh (4.116 người), Thủ Đức (1.487 người), quận 8
(1.370 người)… Riêng các khu vực tụ cư người Khmer trong nội thành, xung
quanh các ngôi chùa Khmer ở quận 3, quận Tân Bình thì dân cư khá ổn định, ít
có sự thay đổi.(xem bảng)
6

Điểm ưu tiên khi đậu vào các trường đại học, cao đẳng và trung học thấp hơn điểm chuẩn; được ưu tiên học ở
các trường dự bị đại học một năm, được miễn học phí, ưu tiên được cấp học bổng, lưu trú tại ký túc xá…


Hội thảo khoa học: Chất lượng cuộc sống của người dân TP. HCM trong bối cảnh kinh tế hiện nay

Bảng 2: Thống kê người Khmer tại TPHCM năm 2009
Đơn vị tính: người.
Stt

Địa bàn
Quận 1

Số người

Stt

348

1

Địa bàn


Huyện Củ Chi

1.095

Huyện Hóc Môn

359

Huyện Bình Chánh

4.116

Huyện Nhà Bè

233

Huyện Cần Giờ

185

3
Quận 2

381

2

4
Quận 3


7

9
Quận 8

1.370

8

0
Quận 9

969

9

1
Quận 10

387

10

2
Quận 11

536

11

người Khmer TPHCM với lượng người đang đi học là 2.350 người chiếm tỷ lệ
10% tổng số người trong độ tuổi từ 5 tuổi trở lên. Trong khi đó, lượng người
chưa bao giờ đi học cũng còn khá cao 1.858 người chiếm tỷ lệ 8,0% trong độ
tuổi từ 5 tuổi trở lên gần xấp xỉ số người Khmer đang đi học và chiếm 1,3%
tổng số người chưa đi học trên toàn thành phố. Đặc biệt, số lượng người Khmer
chưa bao giờ đi học đều hiện diện ở khắp các quận huyện, tập trung nhiều ở các
khu vực đông người Khmer cư trú và chủ yếu nằm ở các vùng ven và ngoại
thành TPHCM như Bình Chánh, Bình Tân, quận 8…(Xem thêm Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2009 TPHCM kết quả điều tra toàn bộ, tr.565-598).

Bảng 3: Tình trạng đi học của người Khmer TPHCM từ 5 tuổi trở
lên ở thời điểm 2009
Đơn vị tính: người
Tổng dân số 5 tuổi
+
Toàn TP

Đang đi học

Đã thôi học

Chưa bao giờ đi
học

KXĐ

6.664.438

1.472.352


7

Tổng điều tra dân số và nhà ở, TP.HCM, 1.4.1999, tr.29.


Hội thảo khoa học: Chất lượng cuộc sống của người dân TP. HCM trong bối cảnh kinh tế hiện nay

Về trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số đã được đào tạo cũng cho
thấy trình độ CMKT của các dân tộc Hoa, Chăm, Khmer tại TPHCM ít nhiều
hạn chế hơn nhóm người Kinh (Việt). Trong 3 dân tộc ít người Hoa, Chăm và
Khmer thì CMKT của người Khmer có trình độ từ THCN đến sau đại học có tỷ
lệ thấp nhất.
Bảng 4: Dân số TPHCM từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ CMKT
cao nhất đã được đào tạo, theo dân tộc
Đơn vị tính: người
Trình độ CMKT cao nhất được đào tạo
Tổng dân
số 15
tuổi+

Chưa
được đào
tạo
CMKT

Sơ cấp
nghề

Trung
cấp

93.401

14.285

82.344

514.487

21.519

4.827

4.179

Kinh

5.412.756

4.599.200

36.490

57.921

91.569

13.947

80.272


273

Khmer

21.913

21.453

62

38

36

8

54

217

5

4

36

Chăm

6.408



Tổng dân
số 15
tuổi+

Chưa
được đào
tạo
CMKT

21.913

21.453

Sơ cấp
nghề

2

Trung
cấp
nghề

8

THCN

6




2.527

2.518

20-24 tuổi

6.432

6.34
9

25-29 tuổi

35-39 tuổi

9

2

2

0

4.098
3.946

30-34 tuổi

5

684

672

55-59 tuổi

408

402

60 tuổi +

507
490

1

Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 TPHCM kết quả điều tra
toàn bộ, tr.826-829.
2. Điều kiện sống và chất lượng sống
Về điều kiện sống của người Khmer cho đến nay chưa có các số liệu cập
nhật hơn. Rất tiếc số liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam chưa thấy đề
cập. Do đó, bài viết sử dụng số liệu 2003.
Thu nhập: theo kết luận điều tra năm 20038, thu nhập hộ gia đình Khmer
trong nhóm thu nhập thấp nhất tại TPHCM so với cả nước tại các đô thị là
166.028,4 đồng/185.000,0 đồng và nhóm có thu nhập cao nhất là 963.264,6
đồng/1.496.000,0 đồng. Nhóm hộ có thu nhập thấp tập trung nhiều ở quận Bình
Thạnh và quận 3. Nhóm có thu nhập cao tập trung ở quận Tân Bình. Như vậy,
số liệu trên cho thấy mức sống của những người Khmer có thu nhập thấp chênh
lệch không nhiều so với mức sống của chung thuộc khu vực đô thị trên toàn

triển chung, người Khmer dần dần hòa nhập và trở thành một bộ phận cư dân
sinh sống ổn định tại thành phố. Dù xuất phát điểm ban đầu của họ đa phần là
cư dân nông thôn nghèo, để thích nghi với cuộc sống đô thị, họ đã có những nỗ
lực và thay đổi nhiều trong đời sống, sinh hoạt và phương thức làm ăn vì điều
kiện chủ quan và khách quan không cho phép. Có thể nhìn thấy rõ sự khác biệt
trong đặc điểm cư trú của người Khmer TPHCM không quần cư trong các
Phum, Sóc như ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long mà sống xen kẽ trong
cộng đồng tộc người khác như Việt, Hoa, …Chính sự cư trú rải rác này cũng tạo
nên khác biệt trong sinh hoạt văn hóa, bảo lưu truyền thống văn hóa Khmer. Về
những sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, lễ hội và trang phục của người Khmer
TPHCM cũng thay đổi rất lớn, hầu như không sự khác biệt so với cư dân
TPHCM nói chung.
Đời sống kinh tế của họ cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình tạo
dựng đời sống nơi có sự năng động và đòi hỏi trình độ nắm bắt kiến thức, nhanh
nhạy trong tư duy kinh tế như TPHCM. Về mặt này như đã phân tích ở trên,
người Khmer còn gặp nhiều hạn chế trong mặt bằng giáo dục và trình độ
CMKT khiến họ chưa có cơ hội thay đổi, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Nhìn chung về điều kiện sống và chất lượng sống của người dân Khmer
có phần thấp hơn so với các tộc người đa số như Việt và Hoa.Tuy nhiên, trong


Hội thảo khoa học: Chất lượng cuộc sống của người dân TP. HCM trong bối cảnh kinh tế hiện nay

cộng đồng Khmer cũng có không ít người thành đạt trên nhiều lĩnh vực kinh tế,
giáo dục… mặc dù con số này còn ít ỏi9.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thái Văn Chải, Trần Thanh Pôn, 1998, Người Khmer tại Thành phố
Hồ Chí Minh và mối quan hệ với bên ngoài, đề tài Sở KHCN&MT, TPHCM.
2. Cục Thống kê TPHCM, Số liệu thống kê dân số người Khmer ở



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status