ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN VĂN THẮNG
KHUYNH HƯỚNG THẾ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
THỜI ĐỔI MỚI
(1986 – 2000)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
2. PGS.TS. Nguyễn Thành Thi
3. TS. Nguyễn Hoài Thanh
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Hữu Tá
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012 L
n
2.1. Khái niệm khuynh hướng thế sự 55
2.2. Khuynh hướng thế sự trong truyện ngắn viết về mối quan hệ con người
với xã hội 59
2.2.1. những thay đổi 59
2.2.2. Con người trong mối quan hệ đời thường 65
2.2.3. Con người với khả năng lựa chọn và thích ứng 68
2.2.4. trong đời sống của những người trí 72
2.3. Khuynh hướng thế sự trong truyện ngắn viết về mối quan hệ
con người với gia đình 79
2.3.1. Nếp sống của những người thuộc thế hệ trước 79
2.3.2. V và mối quan hệ
trong gia đình 81
2.3.3. Vấn đề mâu thuẫn giữa các thế hệ 90
2.4. Khuynh hướng thế sự trong truyện ngắn viết về mối quan hệ con người
với tình yêu – hạnh phúc 98
2.4.1. Những mối tình không trọn vẹn 99
2.4.2. Sức mạnh và khát khao mãnh liệt của con người trong tình yêu105
2.4.3. mặt trái trong tình yêu 111
114
CHƯƠNG 3.
–
116
3.1. Không gian, thời gian nghệ thuật 116
3.1.1. Không gian nghệ thuật 116
3.1.2. Thời gian nghệ thuật 125
3.2. Kết cấu 133
3.2.1. Xu hướng phá vỡ kết cấu cũ 134
3.2.2. công khai bộc lộ chủ đề 139
3.2.3. Xu hư ồng giai thoại, huyền thoại vào cốt truyện 145
3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật 148
Đất nước ta đã phải vượt qua nhiều khó khăn và thử thách của thời hậu chiến
để đứng vững và tạo được những biến đổi to lớn, toàn diện, sâu sắc, đặc biệt
từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (1986) đến nay. Chiến tranh lùi vào quá
khứ, con người trở về với cuộc sống đời thường, văn học cũng có những bước
phát triển để phù hợp với yêu cầu lịch sử. Sau năm 1975, văn học vẫn tiếp
bước trên con đường phát triển trước đó của đất nước, này
truyện ngắn được xem là thể loại .
Thời đổi mới, tính từ năm 1986, hiện thực của cuộc sống mới đặt con
người trước nhiều vấn đề nhức nhối, những lắt léo của thế sự cần giải quyết.
Các nhà văn Việt Nam như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,
Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo,
Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Dạ Ngân,… đã
bày tỏ quan điểm của mình, trò chuyện với cuộc đời, mong muốn cuộc đời sẽ
2
đẹp hơn, con người có được cuộc sống tốt hơn, cái ác, cái xấu sẽ bị đẩy lùi.
Truyện ngắn, với sự đóng góp không nhỏ cả về số lượng lẫn chất lượng đã bắt
kịp những chuyển biến của đời sống hôm nay. Tìm hiểu truyện ngắn của các
nhà văn thời đổi mới trong tiến trình phát triển của văn học, rút ra những
thành tựu cũng như đặc trưng nghệ thuật của truyện ngắn là điều cần thiết
nhằm góp phần tìm hiểu văn học nói chung và truyện ngắn Việt Nam đương
đại nói riêng.
k n
– 2000)
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu, bài viết tổng kết thành
tựu văn học Việt Nam sau 1975 nói chung và truyện ngắn Việt Nam thời đổi
mới nói riêng khá phong phú và có tầm bao quát rộng. Tuy nhiên, như trên đã
nói, hiện chưa thấy một công trình nào nghiên cứu kĩ lưỡng
mối quan hệ thường nhật. Ở công trình này tác giả đã làm thao tác xếp loại
tác phẩm và nêu lên thị hiếu thẩm mĩ của người đọc nhưng chưa đi sâu phân
tích loại truyện ngắn này.
Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
[125] là công trình tập hợp các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu tham gia hội
thảo Văn học Việt Nam sau 1975 do Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội tổ chức nhân dịp kỉ niệm ba mươi năm cuộc kháng chiến chống Mĩ
toàn thắng góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu chặng đường ba mươi
năm của thời kì văn học mới từ sau 1975. Theo Nguyễn Văn Long “Trên đại
thể, từ 1975 đến nay nền văn học Việt Nam đi qua hai chặng đường, có sự
tiếp nối không đứt đoạn: Từ 1975 đến 1985 là chặng đường chuyển tiếp từ
4
văn học sử thi thời chiến sang văn học thời hậu chiến; từ 1986 trở đi là văn
học trong thời kì đổi mới” [tr 10]. Cũng theo tác giả, văn học thời đổi mới có
thể chia làm hai chặng nhỏ: từ 1986 đến đầu những năm 90 văn học đổi mới
gắn liền với chặng đường đầu của công cuộc đổi mới đất nước; sang chặng
thứ hai, từ giữa những năm 90 trở đi, văn học trở lại với những quy luật bình
thường “tiếp tục hướng tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự – đời tư đã
được mở ra ở nửa đầu những năm 80, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện ở mọi
khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc
sống đời thường phồn tạp và vĩnh hằng” [tr 12].
Cũng trong công trình này [125], La Khắc Hoà trong bài “Nhìn lại
bước đi, lắng nghe những tiếng nói” cho rằng, khi tiếng nói sử thi lắng
xuống, thì tiếng nói thế sự vang lên. Nó không vang lên giữa những nơi mênh
mông bát ngát như những cánh đồng, những nông trường mà cất lên giữa
chốn công quyền và phần lớn ở nơi hội họp. “Tiếng nói của văn học thế sự trở
về với hiện thực trong muôn vàn những sinh hoạt đời thường đang bày ra
trước mắt. Nó vùng vẫy, tìm cách thoát khỏi lôgic nhận thức để đến với lôgic
sự vật. Nó nói thật to những gì văn học sử thi thường giấu kín, chưa có điều
truyện ngắn của các tác giả này sáng tác trong thời đổi mới đều có những
chuyển biến (đổi mới) so với giai đoạn trước với tinh thần nhìn thẳng sự thật,
nói đúng sự thật. Các nhà văn đã bước một bước dài từ khuynh hướng sử thi –
lãng mạn sang khuynh hướng thế sự – đời tư.
2.2. Các ý kiến và bài viết
Trước hết là các ý kiến khẳng định thành tựu văn học cũng như truyện
ngắn thời đổi mới, bao gồm ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu trong
“Hội thảo về tình hình văn xuôi hiện nay” [10] của Ban chấp hành Hội Nhà
văn Việt Nam:
Ý kiến của nhà văn Nguyễn Kiên: “… Nét nổi bật là những năm gần
đây văn xuôi của ta đã chú ý đến con người, đặt con người vào trung tâm tác
6
phẩm. Con người với tư cách cá nhân, đồng thời là thành viên của xã hội. Số
phận con người đã được đặt ra. Con người bình thường, con người đời thường
được mô tả khá sâu sắc… Văn xuôi ta những năm gần đây cũng giàu chất
thực hơn. Nó đang cố gắng như thế và cuộc sống hôm nay cũng buộc nó phải
như thế” [10].
Nhà văn Cao Tiến Lê cho rằng, “Văn học đã đi vào đời thường. Mỗi
một con người đều bình đẳng trước cái nhìn của nhà văn” [10].
Nhà văn Bùi Hiển nhận định, “Với công cuộc đổi mới trên toàn xã hội,
văn học ta, đặc biệt là văn xuôi những năm gần đây chuyển mình khá mạnh
mẽ. Không xuôi chiều kiểu êm dầm mát mái nữa, nó mạnh dạn phanh phui
các mặt trái của xã hội, các uẩn khúc hoặc tráo trở của lòng người. Nó bắt
người đọc phải tự vấn lương tâm, nó có tham vọng đánh thức dậy lòng nhân ái
giữa một cuộc sống cộng đồng đang xuống cấp nghiêm trọng bởi những tính
toán vụ lợi, những mưu mô hèn hạ. Nó cũng không né tránh những tâm trạng
cá nhân, không chỉ “buồn bã”, “cô đơn”, mà còn công phẫn xót xa, gay gắt…”
[10].
Theo nhà văn Nguyên Ngọc, văn học ta thời kì này đang có những
người, ý nghĩa nhân sinh, lẽ sống con người ở đời sâu và sắc hơn” [133, tr
12]; Từ cảm hứng sử thi văn học chuyển sang một cách nhìn khác, ở đây con
mắt tiểu thuyết trở thành công cụ soi chiếu cả bề rộng những vấn đề xã hội và
bề sâu của số phận con người; “thể tài thế sự và thể tài đời tư nổi lên hàng
đầu” [5, tr 30]; Cảm hứng sự thật về hiện thực và con người trở thành cảm
hứng bao trùm đối với các nhà văn trong những sáng tác sau năm 1975; “Văn
xuôi thế sự, đời tư không chỉ bộc lộ những nếm trải, suy tư, nghiền ngẫm mà
còn phơi bày, phanh phui các sự vật, hiện tượng để đi đến tận cùng cốt lõi của
nó” [176, tr 25]; “Hướng tới hiện thực về con người, thông qua từng số phận
cá nhân, các nhà văn đã xới lên những vấn đề nhức nhối, bức xúc của con
người trong hiện thực đương đại” [177, tr 35]… Nhìn chung các ý kiến đều
thống nhất: văn học nghệ thuật nói chung và truyện ngắn Việt Nam thời đổi
8
mới nói riêng đang có những nét đổi mới về nghệ thuật cũng như khuynh
hướng sáng tác của các nhà văn. Nhiều truyện ngắn và những cây bút sáng tác
truyện ngắn theo khuynh hướng thế sự được đề cập tới nhằm minh chứng cho
sự đổi mới này.
Ngoài ra còn có các bài nghiên cứu đáng chú ý:
Nhà văn Nguyên Ngọc với bài “Đôi nét về một tư duy văn học mới
đang hình thành” [129] đã đưa ra những điểm đáng chú ý của văn học thời
đổi mới: Chất liệu văn học đã thay đổi. Văn học chuyển từ chiến tranh sang
hòa bình, từ chất liệu anh hùng ca chuyển sang chất liệu đời sống xã hội “con
người như một thực thể xã hội và như một sinh linh với trăm nghìn mối quan
hệ phong phú, phức tạp ngổn ngang và biến đổi không ngừng của nó” [tr 25].
Tác giả bài viết cũng nhận định văn học hôm nay đã có những đổi khác, có sự
xê dịch trong cảm hứng chủ đạo của nhà văn “Cảm hứng của nhà văn về xã
hội và con người, về thế sự và nhân sinh bây giờ bắt nguồn từ chính kinh
nghiệm cá nhân của riêng mình. Từ số phận cá nhân mình, trong số phận
chung phong phú và phức tạp của đồng loại” [tr 27].
nhìn nhận, đánh giá những việc những người của bây giờ, của nơi đây” [tr 26,
27]. Nhà nghiên cứu này cũng tin tưởng về hướng đi đúng đắn, dũng cảm của
truyện ngắn “Cuộc sống luôn vỗ sóng vào văn học. Mỗi thể loại như một con
thuyền vượt sóng. Con thuyền truyện ngắn hôm nay có những tay chèo lái
khá, không bị chìm dưới lớp sóng mà biết khai mở những luồng lạch riêng
vượt lên nhìn bao quát và xuyên sâu khắp biển cả” [tr 28].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long có bài “Thử xác định đặc điểm cơ
bản của văn học Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1975” [120, tr 128]. Tác giả
nhận định “từ 1986 trở đi là thời kì văn học đổi mới mạnh mẽ và toàn diện”;
“Cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn thì quan niệm về hiện
thực như là đối tượng phản ánh, khám phá văn học cũng được mở rộng mang
tính toàn diện. Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch
10
sử và đời sống cộng đồng. Mà đó là hiện thực đời sống hàng ngày, với các
quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt đan dệt nên những
mạch nổi và mạch ngầm của đời sống. Hiện thực đó còn là đời sống cá nhân
của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát
vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch. Hiện thực đời sống trong tính toàn
vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm
lĩnh, khám phá, khai vỡ” [tr 132-133].
Bài viết “Văn xuôi từ 1975 đến nay – Một cái nhìn khái quát” [14, tr
192], tác giả Nguyễn Thị Bình cho rằng, văn xuôi thời kì này nổi bật lên ba
khuynh hướng: khuynh hướng nhận thức lại hiện thực, khuynh hướng đạo đức
- thế sự và khuynh hướng triết luận. Trong đó khuynh hướng đạo đức - thế sự
là khuynh hướng thu hút được nhiều người viết nhất. Những tác phẩm sáng
tác theo khuynh hướng này thường lấy đề tài từ đời sống hiện tại. Điểm tựa
cho kết cấu không phải là các biến cố lịch sử mà là những chuyện hằng ngày,
những quan hệ nhân sinh muôn thuở, những ứng xử có tính phổ biến hay đột
biến của con người. Những tác phẩm thành công là những tác phẩm người
Huy Thiệp” [138, tr 501]; Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Thị Bình, “Xung quanh
hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp” [138, tr 519]; Trần Duy Thanh, “Truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp” [138, tr 87]; Diệp Minh Tuyền, “Nguyễn Huy Thiệp, một
tài năng mới” [138, tr 395]; Nguyễn Thanh Sơn, “Đọc truyện Nguyễn Huy
Thiệp” [138, tr 116]; Đông La, “Về cái “ma lực” trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp” [138, tr 129];…
Trên đây là những bài viết về các nhà văn: Nguyễn Khải, Nguyễn Minh
Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, những người gây được nhiều chú
ý của giới nghiên cứu phê bình văn học. Đã có nhiều ý kiến xung quanh
truyện ngắn của các nhà văn này và phần nhiều là những ý kiến ghi nhận đóng
góp của họ cho nền văn học Việt Nam.
12
Nguyễn Khải là một nhà văn luôn suy nghĩ sâu sắc về những vấn đề
của cuộc sống. Chu Nga nhận định “Với con mắt sắc sảo của mình, nhìn vào
ngõ ngách nào của cuộc sống, Nguyễn Khải cũng có thể rất nhanh nhạy phát
hiện ra những vấn đề phức tạp. Và anh như một chánh án công bằng và
nghiêm khắc, không thể nào làm ngơ trước những biểu hiện chẳng lấy gì làm
đẹp đẽ của cuộc đời – anh buộc phải dùng ngòi bút chiến đấu của mình để phê
phán chúng, vạch ra chỗ đúng chỗ sai” [55, tr 65].
Nhà nghiên cứu Bích Thu lại cho rằng “Sức chinh phục của truyện
ngắn những năm gần đây một phần đáng kể là do nghệ thuật kể chuyện”
[178]. Tác giả bài viết quan tâm đến vấn đề giọng điệu trong truyện ngắn
Nguyễn Khải như giọng triết lí tranh biện, giọng trải nghiệm cá nhân, giọng
hài hước. Nhờ sức mạnh của các giọng điệu mà những vấn đề nhân sinh, thế
sự như ý nghĩa cuộc đời, sự lựa chọn cách sống, kế mưu sinh, vấn đề lương
tâm, đạo đức… được các nhân vật trong truyện quan tâm, luận bàn một cách
sôi nổi…
Bên cạnh Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu được xem là một trong
những nhà văn đạt được những thành tựu cao về truyện ngắn và có nhiều
[135], Lã Nguyên đã tìm hiểu và phân loại truyện ngắn của Ma Văn Kháng
thành ba nhóm “Nhóm thứ nhất là những truyện ngắn thể hiện cái nhức nhối,
xót xa, giận mà thương cho sự hoang dã mông muội của những kẻ chưa thành
người và những người không được làm người. Nhóm thứ hai là những truyện
ngắn cất lên tiếng nói cảm khái thâm trầm trước thế sự hôm nay. Nhóm thứ ba
là những truyện ngắn thể hiện cảm hứng trào lộng trang nghiêm trước vẻ đẹp
của cuộc đời sinh hóa hồn nhiên” [135]. Tác giả bài viết mới chỉ đưa ra một
cái nhìn phân loại chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu truyện ngắn của từng nhóm
phân loại.
14
Trong bài “Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời” [52, tr 344], theo
nhà nghiên cứu văn học Phong Lê – tác giả bài viết, truyện ngắn Ma Văn
Kháng quả là hiện tượng nổi bật trong văn học những năm 90, tuy chỉ một
giọng điệu nhưng không gây nhàm tẻ. Biết thế trước rồi mà vẫn ham đọc. Ông
nhận xét về tác phẩm Côi cút giữa cảnh đời như sau:
“Cuốn sách mạnh mẽ đẩy ta vào giữa dòng sống hôm nay với cảm
hứng lớn là cảm hứng sự thật, với sự bất bình, và khát vọng bao trùm là khát
vọng dân chủ; đồng thời cho ta sự gắn nối giữa văn mạch truyền thống là chủ
nghĩa nhân văn và tình yêu thương con người” [52, tr 344].
Về Nguyễn Huy Thiệp, trong cuốn Nguyễn Huy Thiệp, tác phẩm và dư
luận [32], lời đầu sách viết: “Trong sinh hoạt văn học gần đây, chưa từng có
một hiện tượng như Nguyễn Huy Thiệp. Xuất hiện trên văn đàn mới có vài ba
năm, Nguyễn Huy Thiệp sớm được chú ý của đông đảo bạn đọc. Đặc biệt sau
Tướng về hưu, hầu như mỗi truyện mới của anh lại gây bàn tán, tranh luận
khắp nơi từ Nam chí Bắc. Có những người ca ngợi hết lời, có những người
chê bai và lên án” [32].
Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cho rằng: “Ngòi bút trào phúng của
Nguyễn Huy Thiệp vừa tàn nhẫn, vừa xót xa. Tàn nhẫn có nghĩa là không
được thương con người, đó là mệnh lệnh của lương tâm và tác giả đã đi đến
Đối tượng khảo sát chính của luận án là các cây bút được
coi là tiên phong trong công cuộc đổi mới truyện ngắn này:
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Trần Đức Tiến… Về tác phẩm, số
lượng truyện ngắn sáng tác từ năm 1986 đến 2000 vô cùng lớn. Trong phạm
vi hạn hẹp của luận án chúng tôi chỉ chọn những tác phẩm hay được dư luận
quan tâm rộng rãi.
Sở dĩ luận án chọn thời đổi mới với mốc thời gian từ 1986 đến 2000 vì
1986 là năm bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng về mọi mặt. Văn
16
học nói chung, truyện ngắn nói riêng cũng có những thay đổi, phù hợp với
cuộc sống mới. Luận án chọn điểm dừng là năm 2000 vì đây là thời điểm kết
thúc thế kỉ XX, mở ra một thiên niên kỉ mới của dân tộc. Hơn thế nữa, chặng
đường sáng tác mười lăm năm (1986 – 2000) cũng đủ dài để nhìn lại quá trình
sáng tác của các nhà văn cũng như thành tựu của một thể loại văn học.
Mặc dù vậy, cái mốc được chọn cho việc khảo sát cũng chỉ có ý nghĩa
tương đối vì hiện tượng đổi mới truyện ngắn đã xuất hiện từ trước 1986 với
các tác giả có vai trò tiên phong như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu
… Đồng thời năm 2000 cũng không phải là năm khép lại quá trình
đổi mới của truyện ngắn Việt Nam, bởi bước vào thế kỉ mới (thế kỉ XXI)
truyện ngắn phát triển khá mạnh mẽ với nhiều tác phẩm gây được sự chú ý
của dư luận. Chính vì vậy, ngoài việc khảo sát những tác phẩm sáng tác trong
những năm từ 1986 đến 2000, luận án cũng tìm hiểu một số truyện ngắn xuất
hiện trước 1986 như là bước khởi đầu đổi mới của truyện ngắn
này.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng nghiên cứu (truyện ngắn của một số
nhà văn) và xuất phát từ mục đích của luận án, chúng tôi sử dụng những
phương pháp sau trong quá trình xử lý đề tài:
khuynh hướng thế sự trong thời đổi mới với một thế giới hình tượng nhân vật
phong phú, đa dạng với nhiều nét cá tính riêng được thể hiện bằng những thủ
pháp nghệ thuật sinh động và sáng tạo.
5.3. Tìm tòi và chỉ ra những nét đặc trưng của truyện ngắn được sáng
tác theo khuynh hướng thế sự. Sự cô đọng, hàm súc, cách khai thác theo chiều
sâu số phận và nội tâm nhân vật, những cách thức gợi mở, đối thoại… tạo cho
truyện ngắn thế sự một phong cách mới, vượt ra ngoài khung thể loại.
18
5.4. Làm nổi rõ ý nghĩa của mỗi trang truyện ngắn tác động đến người
đọc. Qua những tác giả, tác phẩm được khảo sát, luận án làm rõ những nét
đặc sắc, độc đáo của từng nhà văn, từ đó khẳng định những đóng góp của các
cây bút truyện ngắn tiêu biểu thời đổi mới.
6. KẾT CẤU LUẬN ÁN
Chương 1. –
– 2000)
Tập trung làm rõ các vấn đề: Hoàn cảnh lịch sử, văn hóa xã hội, vài nét
về tình hình văn học, khái niệm truyện ngắn, sự phát triển của truyện ngắn
Việt Nam (1986 – 2000).
Chương 2.
–
Trong chương này chúng tôi xác định nội hàm khái niệm “khuynh
hướng thế sự”, trên cơ sở đó đi sâu vào ba phương diện cụ thể trong truyện
ngắn thế sự Việt Nam thời đổi mới:
- Khuynh hướng thế sự trong mối quan hệ con
người với xã hội;
- Khuynh hướng thế sự trong mối quan hệ con người
với gia đình;
- Khuynh hướng thế sự trong mối quan hệ con
20
Chƣơng 1
VĂN HỌC – SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM (1986 – 2000)
1.1. BỐI CẢNH XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
(1986 – 2000)
Có thể nói, bối cảnh xã hội là ngọn nguồn, là mảnh đất nuôi dưỡng tác
phẩm nghệ thuật. Chính vì vậy khi nghiên cứu một mảng văn học lớn như
truyện ngắn Việt Nam thời đổi mới (1986 – 2000) thì việc điểm lại bối cảnh
xã hội của này là một việc làm cần thiết nhằm phác thảo diện
mạo lịch sử cũng như những nhân tố tác động trực tiếp đến văn học nói chung
và truyện ngắn nói riêng.
1.1.1. Bối cảnh xã hội – 2000)
Văn học thời đổi mới là thuật ngữ dùng để chỉ văn học từ
sau năm 1986. Nó có những thay đổi căn bản về mặt tư tưởng, chủ đề, quan
điểm thẩm mĩ, ngôn ngữ… so với những dòng văn học trước đó. Tuy nhiên
nền văn học nào cũng hình thành và phát triển dựa trên những điều kiện lịch
sử, xã hội cụ thể và văn học thời đổi mới cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Chính mối quan hệ này cho phép xem xét những sự kiện lịch sử, kinh tế,
chính trị, văn hóa – xã hội đã in bóng trên các tác phẩm văn chương và tác
động của nó đến đời sống tinh thần con người Việt Nam.
Đại thắng mùa xuân năm 1975 là một dấu mốc lớn trong lịch sử dân
tộc. Sự kiện này đã đọng lại trong kí ức mỗi người dân Việt Nam những ấn
tượng sâu sắc khó phai mờ. “Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân
dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ, cứu nước mãi mãi được ghi
vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu
tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và chí