BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẢI
PHÁP KỸ THUẬT NĂNG LƢỢNG Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Phạm Thị Hoa
Sinh viên thực hiện . : Nguyễn Hoàng Nam
Mã sinh viên : A12593
Chuyên ngành : Tài chính
Chuyên ngành : Tài chính
HÀ NỘI – 2014 LỜI CẢM ƠN
Với tất cả lòng biết ơn, trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo, TS.
Phạm Thị Hoa đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo đã tận tình
truyền đạt những kiến thức quan trọng và bổ ích không chỉ là nền tảng cho quá trình
thực hiện khóa luận mà còn là hành trang cho chặng đường phía trước.
Ngoài ra, em cũng xin cảm ơn Ban Lãnh đạo trường Đại học Thăng Long cũng
như các phòng ban khác đã tạo điều kiện, cơ sở vật chất để em có cơ hội và môi trường
học tập tốt nhất trong suốt quá trình rèn luyện.
Do kiến thức và khả năng lý luận vẫn còn có nhiều hạn chế nên khóa luận vẫn
còn những thiếu sót nhất định. Em mong nhận được những đóng góp của các thầy
giáo, cô giáo để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo, Ban Lãnh đạo trường Đại
học Thăng Long dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 7
1.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động 14
1.3.1. Khái niệm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 14
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 14
1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp 16
1.4.1. Nhân tố chủ quan 16
1.4.2. Nhân tố khách quan 17
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NĂNG LƢỢNG. 18
2.1. Khái quát về CTCP giải pháp kỹ thuật Năng lƣợng 18
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 18
2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức của CTCP giải pháp kỹ thuật Năng lượng 19
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận 19
2.1.4. Các ngành nghề kinh doanh của Công ty 21
2.1.5. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 22
2.2. Thực trạng cơ cấu tài sản – nguồn vốn của CTCP giải pháp kỹ thuật năng
lƣợng giai đoạn 2011-2013 28
2.2.1. Tình hình tài sản của Công ty 29
2.2.2. Tình hình nguồn vốn của Công ty 34
2.3. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của CTCP giải pháp kỹ thuật năng
lƣợng giai đoạn 2011-2013 37
2.3.1. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn chung 37
2.3.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động 39
2.4. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của CTCP giải pháp kỹ thuật
Năng lƣợng 47 2.4.1. Kết quả đạt được 47
2.4.2. Tồn tại và nguyên nhân 47
Bình quân
KPT
Khoản phải thu
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1: Quá trình tuần hoàn của vốn lưu động 2
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của CTCP giải pháp kỹ thuật Năng lượng 19
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2011- 2013 23
Bảng 2.2: Cơ cấu VLĐ và VCĐ của công ty trong giai đoạn 2011-2013 29
Bảng 2.3: Tình hình tài sản lưu động của Công ty giai đoạn 2011-2013 30
Bảng 2.4: Tình hình biến động TSDH của Công ty trong giai đoạn 2011-2013 33
Bảng 2.5: Nợ phải trả của Công ty giai đoạn 2011-2013 35
Bảng 2.6: Hiệu quả sử dụng tổng nguồn vốn của Công ty 37
Bảng 2.7: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả chung trong sử dụng vốn lưu động của Công
ty 39
Bảng 2.8: Các chỉ tiêu đánh giá về khả năng hoạt động của Công ty 41
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu đánh giá về khả năng thanh toán của Công ty 43
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu đánh giá về khả năng sinh lời của Công ty 45
Bảng 3.1: Phân tích ROA và ROE theo phương pháp Dupont 50
Bảng 3.2: Mô hình điểm số của Altman 51
Bảng 3.3: Tỷ lệ chiết khấu thanh toán 52
Bảng 3.4: Đánh giá lại khoản phải thu sau khi áp dụng giải pháp 52
Bảng 3.5: Dự tính sự thay đổi về hàng tồn kho sau khi áp dụng giải pháp 54
Hình 2.1: Tình hình DTT của Công ty giai đoạn 2011-2013 24
Hình 2.2: Doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty giai đoạn 2011-2013 25
Hình 2.3: Tình hình lợi nhuận sau thuế của Công ty giai đoạn 2011-2013 27
khái quát được phần nào về hoạt động kinh doanh và quản trị của công ty, đồng thời
qua việc phân tích hoạt động kinh doanh của công ty em thấy mình đã được bổ xung
nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Với mong muốn Công ty có hiệu quả hơn nữa
trong hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô sản xuất, em đã quyết định
lựa chọn “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giải
pháp kỹ thuật Năng lượng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp gồm những nội dung chính như sau:
- Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH
NGHIỆP.
- Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẢI PHÁP KỸ THUẠT NĂNG LƢỢNG.
- Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN LƢU ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NĂNG
LƢỢNG.
Do trình độ và thời gian có hạn nên trong quá trình làm khóa luận khó tránh khỏi
nhiều thiếu sót, em rất mong được sự chỉ bảo giúp đỡ của thầy cô và các anh chị trong
công ty. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, TS. Phạm Thị
Hoa và CTCP giải pháp kỹ thuật Năng lượng đã giúp đỡ em trong thời gian thực tập và
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH
NGHIỆP
1.1. Khái quát chung về vốn lƣu động
1.1.1. Khái niệm vốn lƣu động
Trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp, nếu vốn cố định được ví như xương cốt của
một cơ thể sống thì vốn lưu động ví như huyết mạch trong cơ thể đó. Cơ thể ở đây
chính là doanh nghiệp bởi đặc điểm tuần hoàn liên tục của vốn gắn liền với chu kì hoạt
một lần, hoạt động lien tục và hình thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì sản xuất.
Vốn lưu động là tiền đề vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất. Trong
cùng một lúc, vốn lưu động được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn
tại dưới những hình thái khác nhau. Muốn duy trì quá trình tái sản xuất liên tục, doanh
nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó khién cho các
hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Điều này sẽ giúp cho việc
chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi. Ngược lại
nếu như doanh nghiệp không có đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn,
quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn.
1.1.2. Đặc điểm và phân loại vốn lƣu động
1.1.2.1. Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động, nên đặc điểm của vốn
lưu động chịu sự chi phối bởi đặc điểm của tài sản lưu động. Vì vậy, vốn lưu động của
các doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: sản
xuất, dự trữ và lưu thông.
Các quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục, lặp đi lặp lại theo chu kỳ và được
gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Nó được thể hiện cụ thể qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quá trình tuần hoàn của vốn lƣu động
Vốn bằng tiền mua vật tư Vốn dự trữ sản xuất SP Vốn trong sản xuất
tiêu thụ sản phẩm
Trong giai đoạn dự trữ vật tư, vốn bằng tiền được chuyển hóa thành vốn vật tư
dự trữ, đến giai đoạn sản xuất, tiếp tục từ hình thái vật tư dự trữ chuyển thành sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm. Sang đến giai đoạn lưu thông, vốn lưu động từ hình
thái thành phẩm chuyển thành hình thái tiền tệ.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, quá trình chu chuyển của vốn lưu động được
thực hiện theo công thức: T – H – sản xuất – H’ – T’. Cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1: T – H là giai đoạn khởi đầu của vòng tuần hoàn. Vốn lưu động
dưới hình thái tiền tệ được dùng để mua sắm các đối tượng lao động nhằm dự trữ cho
VLĐ có nhiều hình thái khác nhau cùng tham gia vào một chu kỳ SXKD, vì vậy
việc quản lý VLĐ luôn được xem là công tác hàng đầu. Muốn quản lý tốt cần căn cứ
vào một số tiêu thức để phân loại VLĐ như sau:
Phân loại theo công dụng vốn lƣu động trong quá trình sản xuất kinh doanh
- VLĐ trong khâu dự trữ: là bộ phận VLĐ để thiết lập, dự trữ về vật tư, hàng hóa
trong quá trình SXKD, đảm bảo cho doanh nghiệp tiến hành sản xuất liên tục. Bao
gồm các khoản vốn sau: vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu,
vốn phụ tùng thay thế, vốn vật liệu đóng gói và vốn công cụ, dụng cụ nhỏ.
- VLĐ trong khâu sản xuất: là vốn được dùng để đảm bảo cho quá trình sản xuất
của các bộ phận tham gia vào dây chuyền công nghệ được diễn ra liên tục, không bị
gián đoạn, bao gồm: vốn sản phẩm đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước.
4
- VLĐ trong khâu lưu thông: là vốn dùng để dự trữ sản phẩm, đảm bảo cho tiêu
thụ thường xuyên, đều đặn theo nhu cầu khách hàng, bao gồm: vốn thành phẩm, vốn
bằng tiền.
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của VLĐ trong từng khâu của
quá trình SXKD. Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm
tạo ra một kết cấu vốn lưu thông hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, nâng cao hiệu
quả sử dụng VLĐ.
Phân loại theo hình thái biểu hiện
- Vốn hàng hóa: gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, sản phẩm dở
dang, thành phẩm, công cụ dụng cụ.
- Vốn phi hàng hóa: gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán có
tính thanh khoản cao…
Việc phân loại theo cách này giúp cho nhà quản lý dễ dàng nắm bắt được lượng
vốn hiện nay đang tồn đọng ở khâu nào để có những biện pháp nhanh chóng, chính
xác, kịp thời nhằm đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn nói chung và vốn lưu động nói
riêng.
Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn
xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của mình.
Phân loại theo chế độ quản lý hiện hành
- Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
- Vốn đầu tư tài chính ngắn hạn: vay ngắn hạn, đầu tư chứng khoán ngắn hạn.
- Vốn đầu tư vào các khoản phải thu ngắn hạn: gồm phải thu khách hàng, phải
thu nội bộ, các khoản phải thu ngắn hạn khác.
- Vốn về hàng tồn kho: gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang,
thành phẩm hàng hóa.
- Vốn lưu động khác: các khoản tạm ứng, thế chấp…
Việc phân loại VLĐ theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh
giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Mặt khác, biết được
kết cấu VLĐ theo hình thái biểu hiện, doanh nghiệp có định hướng để điều chỉnh VLĐ
một cách có hiệu quả, phát huy chức năng của các thành phần vốn.
Như vậy, từ các phương pháp phân loại trên về VLĐ đã cho thấy tầm quan trọng
của VLĐ. Nó giúp doanh nghiệp biết được kết cấu VLĐ – là quan hệ tỷ lệ giữa các
thành phần VLĐ trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
hoặc trong cả một thời kỳ. Điều đó sẽ giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát về
nguồn VLĐ đang sử dụng cũng như chất lượng công tác quản lý để có những biện
pháp thích hợp, kịp thời điều chỉnh cơ cấu vốn cho hợp lý, đánh giá được mức tồn kho
dự trữ, khả năng thanh toán, cơ cấu nguồn tài trợ để có những chiến lược nhằm thúc
đẩy tốc độ luân chuyển VLĐ.
1.1.3. Vai trò của vốn lƣu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Vốn, lao động và công nghệ là ba yếu tố cơ bản để một doanh nghiệp tiến hành
hoạt động SXKD. Trong đó, vốn là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của sự ra đời,
6
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Là một bộ phận không thể thiếu được trong vốn
kinh doanh của các doanh nghiệp, VLĐ có các vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, VLĐ là điều kiện đầu tiên để tiến hành hoạt động SXKD. Nếu VLĐ bị
thiếu hay tốc độ luân chuyển VLĐ chậm sẽ làm trì trệ hoạt động mua bán hàng hóa,
Mục tiêu chung của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều là tối đa hóa lợi nhuận và
tối thiểu hóa chi phí. Cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra hiện nay trong các
7
khối ngành kinh tế, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải đặc biệt quan tâm tới
hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình
SXKD.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề
sống còn doanh nghiệp cần phải quan tâm là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động sản xuất
kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, thực
hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy
mô hoạt động SXKD trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của
một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các bộ phận. Trong đó hiệu quả sử dụng
vốn gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả SXKD của doanh nghiệp.
Do đó các doanh nghiệp cần phải tìm mọi biẹn pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của mình.
Hiệu quả sử dụng vốn có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh cuối cùng
của doanh nghiệp. Vì vậy việc quản lý sử dụng tốt nguồn vốn sẽ góp phần làm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và theo đó, doanh nghiệp sẽ đạt được các
mục tiêu đã đề ra.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt
được trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí vốn bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Nó phản ánh trình độ sử dụng vốn lợi dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được các
mục tiêu của doanh nghiệp. Tính bằng chỉ số sau:
Hiệu quả kinh doanh =
bằng cách lấy tổng nợ chia cho tổng nguồn vốn. Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn
hạn và nợ dài hạn phải trả. Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như vậy
công ty có khả năng trả nợ cao hơn. Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như
vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông. Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao
hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành. Tỷ số nợ càng thấp thì
mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào
tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản
Hệ số nợ =
Trong đó:
Tổng nợ bình quân =
Tỉ suất tự tài trợ
Tỉ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ tài chính và tính ổn định dài hạn của
doanh nghiệp trong kinh doanh. Đối với các Ngân hàng, tỷ suất này của khách hàng
càng cao càng tốt, nhưng tối thiểu phải 30% mới gọi là có khả năng tự chủ về tài
chính.
Tỉ suất tự tài trợ =
= 1 – Hệ số nợ
Trong đó:
VCSH bình quân =
Kì luân chuyển vốn lƣu động
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho một vòng quay của vốn lưu động
trong kì. Thời gian luân chuyển vốn càng ngắn thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn
lưu động rất linh hoạt, tiết kiệm và tốc độ luân chuyển của nó sẽ càng lớn
Kì luân chuyển vốn lưu động bình quân =
Tỉ suất lợi nhuận trên vốn lƣu động
Tỉ suất lợi nhuận trên vốn lưu động (Tỉ lệ doanh lợi trên vốn lưu động) cho biết
cứ một đồng vốn lưu động thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế/sau thuế. Chỉ
tiêu này càng lớn thì càng tốt
Tỉ suất lợi nhuận trên vốn lưu động =
10
Hệ số đảm nhiệm vốn lƣu động
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh để được một đồng doanh thu tiêu thụ
thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn lưu động. Hệ số này càng cao thì chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn lưu động tiết kiệm được càng lớn.
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =
Ngoài các chỉ tiêu trên, để đánh giá về hiệu quả sử dụng và quản lý vốn lưu động
của doanh nghiệp, ta sẽ dùng các nhóm chỉ tiêu khác như:
a. Các chỉ tiêu đánh giá về khả năng hoạt động
thu. Hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong việc
dự trữ nên chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác quản lý hàng tồn kho càng tốt, dẫn
đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
11
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thu nợ
Vòng quay các khoản phải thu =
Trong đó:
Các khoản phải thu bình quân =
Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà khách hàng nhận
được từ doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong
kỳ phân tích doanh nghiệp đã thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn động chưa thu
hồi được là bao nhiêu. Chỉ số vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản
phải thu là cao, tức là khách hàng trả nợ doanh nghiệp càng nhanh. Quan sát số vòng
quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay
tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp.
Kỳ thu tiền bình quân =
Chỉ tiêu này được đánh giá khả năng thu hồi vốn của các doanh nghiệp, trên cơ
sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày. Nó phản ánh số ngày
cần thiết để thu hồi được các khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn
thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại. Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao
Tổng nợ ngắn hạn bình quân =
Khi hệ số này ở mức nhỏ hơn 1, thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp là yếu tố dẫn đến rủi ro tài chính, rủi ro thanh toán cao. Ngược lại nếu hệ
số này ở mức lớn hơn 1, cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tương đối
tốt, đủ khả năng đảm bảo thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn. Song nếu hệ số này
cao quá, tức là lượng TSLĐ tồn trữ quá lớn và bộ phận tài sản này không vận động,
không sinh lời sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Hệ số này lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh của
doanh nghiệp. Chẳng hạn đói với doanh nghiệp thương mại, TSLĐ thường chiếm tỷ
trọng lớn hơn trong tổng tài sản nên hệ số này tương đối cao. Do đó khi dánh giá khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn cần phải dựa vào hệ số trung bình của doanh nghiệp cùng
ngành. Tuy nhiên, hệ số này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toán của
doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu và hàng tồn kho.
Chính vì vậy để đánh giá chinh xác hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta
cần xét them một số chỉ tiêu khác nữa.
Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn bằng
các tài sản có tính thanh khoản cao nhưng không tính đến hàng tồn kho, vì hàng tồn
kho là tài sản khó chuyển đổi thành tiền.
Khả năng thanh toán nhanh =
Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn rất quan tâm vì thông qua các chỉ tiêu
của doanh nghiệp tốt mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao khả năng đầu tư
của chủ doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận
cao sẽ tốt hơn doanh nghiệp đầu tư nhiều vào tài sản mà thu được lợi nhuận thấp. Hệ
số này thương có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư
tài sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận
tải, xây dựng, sản xuất kim loại… thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không
cần phải đầu tư nhiều vào tài sản như ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…
ROA =
* 100%
Trong đó:
Tổng tài sản bình quân =
14
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Tỷ số này nói lên một đồng doanh thu
tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợi
của vốn càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn.
ROS =
* 100%
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE): Đây là chỉ số mà các nhà đầu tư rất
quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của một đồng vốn mà họ bỏ ra để đầu tư vào
học công nghệ phát triển nhanh đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, đầy đủ và kịp thời. Do
đó việc tổ chức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.
- Việc huy động vốn đầy đủ và kịp thời giúp doanh nghiệp có thể chớp được thời
cơ kinh doanh, tạo lợi thế trong cạnh tranh
- Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp giúp giảm bớt
được chi phí sử dụng vốn, điều đó tác dộng rất lớn đến việc tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp, đặc biệt là ở các doanh nghiệp có tỷ lệ vốn vay lớn.
Trong cơ chế bao cấp trước đây, mọi nhu cầu về vốn của doanh nghiệp nhà nước
đều được bao cấp qua nguồn vốn cấp của ngân sách nhà nước và qua nguồn tín dụng
ưu đãi của ngân hàng. Nếu doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn thì có thể xin cấp phát
thêm hoặc vay ngân hàng với lãi suất ưu đãi. Có thể nói vốn của doanh nghiệp được tài
trợ toàn bộ, vì thế vai trò khai thác, thu hút vốn không được đặt ra như một yêu cầu
cấp bách có tính sống còn với doanh nghiệp. Hoạt động huy động các nguồn vốn của
doanh nghiệp trở nên rất thụ động.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước cùng song song
tồn tại với các thành phần kinh tế khác, việc cấp phát vốn từ ngân sách nhà nước hạn
chế hơn, doanh nghiệp phải bảo toàn vốn kể cả trong điều kiện trượt giá và phải đầu tư
để mở rộng và phát triển quy mô SXKD. Nhu cầu vốn ngày càng lớn trong môi trường
cạnh tranh gay gắt. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm nguồn mới
để đáp ứng yêu cầu vốn, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ …
nhằm đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Chỉ có như vậy doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển được. Vì
vậy vốn trở thành động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp và việc huy động, quản
lý sử dụng vốn hiệu quả vốn đã trở thành một yêu cầu bức bách.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo được tính an toàn về tài chính cho
doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Qua
đó các doanh nghiệp sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và khả năng thanh
toán, khắc phục cũng như giảm bớt được những rủi ro trong kinh doanh.
- Làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Để đáp ứng các yêu cầu cải
tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm …
sản xuất, kỹ thuật sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, nhu cầu của thị trường khác nhau,
do đó cũng có hiệu quả sử dụng vốn khác nhau. Chẳng hạn nếu chu kỳ ngắn, doanh
nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh hơn nhằm tái tạo, mở rộng SXKD. Ngược lại nếu nhu kỳ
sản xuất dài doanh nghiệp sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các
khoản vay. Nếu sản phẩm là tư liệu tiêu dung nhất là sản phẩm công nghiệp nhẹ như
rượu bia, thuốc lá … thì sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh qua đó giúp doanh nghiệp
thu hồi vốn nhanh. Hơn nữa những máy móc dung để sản xuất ra những sản phẩm này
có giá trị không quá lớn do vậy doanh nghiệp dễ có điều kiện đổi mới. Ngược lại, nếu
sản phẩm có vòng đời dài có giá trị lớn, được sản xuất trên dây chuyền công nghệ có
giá trị lớn như ôtô, xe máy … việc thu hồi vốn sẽ lâu hơn.