tiểu luận triết vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và việc vận dụng quan điểm đó vào nền kinh tế ở nước ta hiện nay - Pdf 24

MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Để hoàn thiện tiểu luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
đoàn thể và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tập thể và cá nhân đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Trước hết tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Thị Hồng Loan người đã hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện tiểu luận. Tôi xin trân trọng cảm
ơn thư viện, Phòng sau đại học, tập thể K18 Lý luận văn học, các đơn vị liên
quan của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã trang bị cho tôi
kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thiện tiểu luận này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiếu thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận về thực tiễn đặc biệt là vai trò to lớn
của thực tiễn đối với nhận thức và vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu
hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách dời với sự phát triển của
bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học như lý luận thực tiễn, vai trò
của thực tiễn đối với nhận thức luôn là cơ sở và phương hướng là tôn chỉ cho
hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập
trường triết học đúng đắn con người có thể có được những cách giải quyết phù
hợp các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một
lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới
quan nhất định, một cách lý giải về thế giới mà còn là sự chấp nhận một cơ sở
phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.
Dựa trên thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu những tư
tưởng tiến bộ của triết học Mác- Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
đã đề ra mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và
phát triển xã hội phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có những khuyết
điểm không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực

thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm tôn giáo và thuyết
không thể biết. Họ đã hiểu thực tiễn là một hoạt động vật chất của con người
nhưng lại xem đó là hoạt động của những con buôn, đê tiện bẩn thỉu. Nó không
có vai trò gì đối với nhận thức của con người. Lý luận của họ còn có nhiều hạn
chế, thiếu sót, thậm chí là sai lầm, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được
vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do vậy, chủ nghĩa duy vật của
họ mang tính trực quan.
Một số nhà triết học duy tâm tuy đã thấy được mặt năng động sáng tạo
trong hoạt động của con người nhưng cũng chỉ hiểu hoạt động thực tiễn như là
hoạt đọng tinh thần sáng tạo ra thế giới của con người chứ không hiểu nó như
hoạt động hiện thực, họat động vật chất cảm tinh, hoạt động lịch sử xã hội.
Trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót, sai
lầm trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước đó C. Mác và Ph.
Ăngghen đã đem lại môt quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò
của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã
hội loài người. Với việc đưa ra phạm trù thực tiễn vào lý luận, C.Mác và Ph.
Ăng ghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói
chung và lý luận nhận thức nói riêng. V.I. Lênnin đã nhận xét : “Quan điểm về
đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận
thức” (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ,Mátxitcova, 1980,tr167).
4
Vậy thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử xã
hội của con người nhầm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hoạt động thực tiễn không phải bao gồm tất cả các hoạt động của con
người mà chỉ là hoạt động vật chất của con người. Trong hoạt động thực tiễn,
con người phải sử dụng những phương tiện, công cụ, sức mạnh vật chất tác động
vào tự nhiên, xã hội, cải tạo biến đổi chúng cho phù hợp. Nếu con vật chỉ hoạt
động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ độngvới thế giới bên ngoài,
thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội
của mình mà cải tạo thế giới để thỏ mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách

phát triển của nó ; trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ trinh phục
giới tự nhiên và là chủ xã hội của mình.Do đó, vê mặt nội dung cũng như mặt
phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử. Mỗi giai đoạn lịch sử khác
nhau, người ta dùng những phương tiện công cụ, sức mạnh khác nhau để tác
động vào thế giớ vật chất. C.Mác viết : “ Những thời đại kinh tế khác nhau
không phải ở chỗ chúng ta sản xuất ra cái gì, mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách
nào với những tư liệu lao động nào”.(C.Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính
trị quốc gia, tập 23, tr.129). Thông qua phương tiện, công cụ, tư liệu lao động,
người ta có thể biết được trình độ sản xuất của một xã hội.
Hoạt động thực tiễn chỉ có thể được tiến hành trong các mối quan hệ xã
hội, nên nó mang tính xã hội. Để tiến hành hoạt động thực tiễn, con người phải
hỗ trợ, tác động lẫn nhau trong xã hội cứ không thể hoạt động riêng lẻ, đơn độc.
Qua quá trình lao động làm phát sinh nhu cầu trao đổi về hoạt động, sản phẩm
hay kinh nghiệm, tình cảm… Và cũng chính qua quá trình trao đổi, ngôn ngữ
xuất hiện với tư cách là phương tiện giao tiếp.
Qua hoạt động thực tiễn, cái cụ thể trong tư duy được vật chất hóa thành
cái cụ thể cảm tính. Thực tiễn vừa mang tính tương đối vừa mang tính tuyêt đối.
Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối bởi thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để
6
kiểm tra lý luận, kiểm tra chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác
nhận được chân lý. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính tương đối
bởi thực tiễn không đứng nguyên một chỗ mà biến đổi và phát triển không
ngừng, mặt khác thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người nên
không tránh khỏi các yếu tố chủ quan. Lịch sử đã chứng minh co những chân lý
chỉ đúng ở một thời điểm nhất định. Do vậy, trong quá trình phát triển của nhận
thức và thực tiễn, tri thức luôn phải được kiểm nghiệm, điều chỉnh, bổ sung, sửa
chữa để hoàn thiện hơn.
Thực tiễn còn mang tính khách quan và tính phổ biến bởi thực tiễn phải
tuân thủ các quy luật khách quan, trong qua trình cải tạo thế giới, con người phải
nhận thức được các quy luật khách quan. V.I.Lênin nhận xét : “Thực tiễn cao

hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của
động vật.
3.2.Hoạt động chính trị- xã hội.
Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của con người trong các lĩnh vực
chính trị- xã hội nhằm trục tiếp thay đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội lạc
hậu, thay vào đó là những quan hệ xã hội, chế độ xã hội tiến bộ hơn. Nó xóa bỏ
xã hội lỗi thời ( đặc biệt trong xã hội có giai cấp đối kháng), biến đổi, cải tạo xã
hội và phát triển các quan hệ xã hội. Qua quá trình sản xuất vật chất của nhân
loại làm nảy sinh, phát triển quan hệ cá nhân con người, nhóm người, giai cấp,
dân tộc, đảng phái, nhà nước…Đây là hoạt động đấu tranh xã hội, thể hiện chủ
yếu trong quan hệ giai cấp nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội và thúc đẩy
xã hội phát triển.
3.3. Hoạt động thực nghiệm khoa học.
Là dạng hoạt động của con người nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật
để áp dụng vào sản xuất. Dạng hoạt động thực tiễn này ngày càng trở nên quan
8
trọng trong sự nghiệp phát triển xã hội đặc biệt trong thời kỳ cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại.
Ngoài ra trên nền tảng của hoạt động sản xuất vật chất, cải tạo xã hội và
thực nghiệm khoa học, hình thành và phát triển những hoạt đông đa dạng, phong
phú khác của đời sống xã hội như : sinh hoạt gia đình, nghiên cức khoa học, y
tế, giáo dục, nghệ thuật, đạo đức… Hoạt động của con người rất đa dạng và
phong phú, chúng thể hiện trong tất các các lĩnh vực của đời sống xã hội.Trên cơ
sở các dạng hoạt động chúng ta có thể khái quát lại có hai dạng hoạt động cơ
bản là hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Trong đó hoạt động vật chất là
nền tảng của toàn bộ của đời sống xã hội, nó quy định hoạt động tinh thần của
đời sống xã hội.
9
CHƯƠNG II : VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC.
1. Thực tiễn là cơ sở, động lực, chủ yếu và trực tiếp của nhận thức.

hướng dẫn, điều chỉnh và chỉ đạo thực tiễn. Nhờ có hoạt động( kể cả vật chất lẫn
tinh thần), con người in được dấu ấn của mình vào thế giới.
Trong quá trình giả quyết những nhiệm vụ của thực tiễn, nhận thức không
ngừng phát triển. Với thực tiễn xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
trước hết vì mục đích của nhân dân lao động, của giai cấp công nhân. Nếu không
phải vì mục đích của nhân dân, sẽ không có động lực phát triển, không huy động
được sức mạnh toàn dân để thực hiện công cuộc đổi mới, xây dụng đất nước.
Chính nhu cầu của đời sống thúc đẩy khoa học phát triển. Nhu cầu đòi hỏi
phải có tri thức mới và tổng kết kinh nghiêm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự
ra đời và phát triển của các ngành khoa học. Ăng ghen đã rất đúng khi nói: ngay
từ đầu sự phát sinh và phát triển của các ngành khoa học đã do sản xuất quy
định.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam đang đặt ra nhiều
vấn đề mới mẻ và phức tạp, nó đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu để đáp ứng
những nhu cầu đó. Đó là những vấn đề về mô hình chủ nghĩa xã hội và con
đường,phương pháp xây dựng nó. Vấn đề về nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa với nhiều thuận lợi và thách thức khác nhau. Vấn đề làm sao
đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây
dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và nhiều vấn đề quan trọng
nữa cũng đặt ra và yêu cầu phải giả quyết. Nghiêm cứu sáng tỏ những vấn đề
trên, nghĩa là nhận thức đã đóng vai trò quan trọng góp phần đắc lực thúc đẩy sự
nghiệp đổi mới ở nước ta.
11
3.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
So với lý luận, thực tiễn cao hơn ở tính hình thức trực tiếp. Lý luận phải
được thực tiễn kiểm nghiệm: "Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể
đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận
mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng
minh chân lý…"( C.Mác và Ph. Ăng ghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,

chuẩn này vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối. Tiêu chuẩn thực tiễn
mang tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân
lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn có thể xác nhận được chân lý. Tuy nhiên vì thực
tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển không ngừng nên nó
cũng mang tính tương đối. Thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con
người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan. Tiêu chuẩn thực tiễn không
cho phép biến những tri thức con người thành chân lý cuối cùng mà buộc chúng
phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm, bổ sung, điều chỉnh và phát triển hoàn
thiện hơn. Điều này giúp cho chúng ta tránh khỏi cực đoan, giáo điều, bảo thủ.
Thực tiễn và lý luận là hai mặt mâu thuẫn của nhận thức nhưng chúng
thống nhất biện chứng với nhau, không thể tách rời nhau. Từ thực tiễn không thể
rút ngay ra lý luận và từ lý luận không thể đưa ngay vào thực tiễn.
Như vậy từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức lý luận đòi hỏi chúng ta
phải quán triệt quan điểm thực tiễn. Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn ,
dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn.
Nghiên cứu lí luận phải liên hệ thực tiễn, học phải đi đôi với hành, lí luận phải
gắn với thực tiễn.
13
CHƯƠNG III :VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI
NHẬN THỨC VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NỀN KINH TẾ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Việc Đảng ta tổng kết những bài học ở đại hội VI, lần đầu tiên chỉ rõ sai
lầm chủ quan duy ý chí, coi thường các quy luật khách quan dẫn tới sai lầm làm
hỏng và sửa chữa trong các chính sách xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa có ý
nghĩa tự giải phóng và mở đường cho sự phát triển mới và lâu dài.
Trên thực tế, đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo có một sự tương
đồng về hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa như « Chính sách kinh tế mới của
Lênin ”. Với đổi mới, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của Đảng ta ngày càng được xác định rõ hơn. Nó thấm nhuần quan
điểm lịch sử cụ thể, quan điểm thực tiễn và quan điểm phát triển.

tiễn sẽ cho ta hiểu rõ sự vật hơn nữa- đó là bài học không chỉ của sự nghiệp
kháng chiến chống ngoại xâm mà còn là bài học của sự nghiệp đổi mới vừa qua
và hiện nay.
Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không hề
coi nhẹ lý luận. Quá trình Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ lý luận của
mình, cố gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nó được thể hiện qua năm bước
chuyển của đổi mới tư duy phù hợp với sự vận động của thực tiễn cuộc sống
trong những hoàn cảnh và điều kiện mới.
1.1 Bước chuyển thứ nhất
Từ tư duy, dựa trên mô hình kinh tế hiện vật với sự tuyệt đối hóa sở hữu xã
hội(Nhà nước và tập thể) với sự phát triển vượt trước của quan hệ sản xuất đối
với sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới hậu quả kìm hãm sự phát triển
sản xuất sang tư duy mới. Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự thống nhất biện chứng
15
với tính đa dạng các hình thức sở hữu, đa dạng các hình thức phân phối, lấy
phân phối theo lao động làm đặc trưng chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Đây là bước chuyển căn bản mà có ý nghĩa sâu xa vì nó là tôn trọng quy
luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, tùy
thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà từng bước thiết lập quan
hệ sản xuất cho phù hợp.
1.2 Bước chuyển thứ hai
Từ tư duy quản lý dựa trên mô hình một nền kinh tế chỉ huy tập trung, kế
hoạch hóa tuyệt đối với cơ chế bao cấp và bình quân sang tư duy quản lý mới
thích ứng với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.3 Bước chuyển thứ ba
Đó là tiến hành đổi mới hệ thống chính trị, từ chế độ tập trung quan liêu

tiễn mới có thể hành động đúng đắn và phù hợp với quá trình đổi mới ở nước ta.
Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và làm cơ sở cho sự đổi mới trong
hoạt động thực tiễn. Thực tiễn chính là động lực, là cơ sở của nhận thức, lý luận.
Vì vậy cần khắc phục ngay những khuyết điểm sai lầm song cũng phải tìm ra giả
pháp khắc phục để hạn chế sai sót và thiệt hại.
2. Ý nghĩa thực tiễn .
Đảng cộng sản Việt Nam, trước sau như một, vẫn khẳng định mục tiêu chủ
nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam. Nhưng trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta đã xuất hiện bệnh chủ quan duy ý chí.Đại hội VII Đảng
cộng sản Việt Nam đã khẳng định : Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta
đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xay dựng mục tiêu
và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng ta đã phạm sai lầm chủ quan
duy ý chí, vi phạm quy luật khach quan nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa,
17
xoa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế
tập trung quan liêu bao cấp. Quán triệt nguyên tác khách quan, khắc phục bệnh
chủ quan duy ý chí là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân.
Bản thân sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ mới mẻ, khó
khăn phức tạp đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan và tính
năng động chủ quan. Vì thế phải kết hợp chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng và
tri thức khoa học bởi tri thức khoa học có được hay không là nhờ ở lòng ham
hiểu biết, trí thông minh, ý chí ngược lại nếu tri thức khoa học phát huy được tác
dụng trong thực tiễn thì nó lại trở thành động lực tăng thêm tri thức. Sự kết hợp
xuất phát thừ thực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan không những đem
lại hiệu quả cao trong sự phát triển nhận thức mà còn giúp cho lý luận không
bao giờ xa dời thực tiễn cuộc sống.
Nắm bắt và vận dụng được có hiệu quả các quy luật tất yếu khách quan để
hoạt động và đem nó vào thực tiễn để kiểm nghiệm là một phương tâm chủ đạo
trong công cuộc đổi mới hiện nay. Chỉ có dám nghĩ, dám làm kết hợp với tri
thức khoa học được trang bị chúng ta mới thành công được. Đặc biệt là trong

bằng cách mở rộng, nới lỏng chính sách về đầu tư hệ thống hòa luật đầu tư nước
ngoài, tạo cơ sở kinh tế thuận lợi và những dự án nhiều tiềm năng .
- Giải quyết tốt mọi vấn đề kinh tế xã hội như vấn đề tạo việc làm, vấn đề phát
triển nguồn lực. Có thể phát triển nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ. ở cả nông
thôn và thành thị để thu hút lao động. Sắp xếp lại các xí nghiệp quốc doanh, tạo
cơ hội cạnh tranh lành mạnh trên thị trường và Nhà nước bảo hộ sản xuất trong
nước ở một bộ phận nào đó.
- Cần đề ra những mục tiêu cho mười, cho hai mươi năm tới. Những chính sách
chủ trương lớn phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh đất nước và xu thế phát triển
của thế giới. Điều hành đúng, có tổ chức cao và chặt chẽ nền kinh tế thị trường,
chống mọi biểu hiện nhận thức sai lầm, lệch lạc làm đi không đúng con đường
19
đã chọn. Vân dụng các quy luật khách quan trong việc chỉ đạo , tổ chức đễ ra
những phương hướng, giải pháp kinh tế táo bạo, có cơ sở vững chắc.
- Nhà nước tạo mọi điều kiệm cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng hỗ
trợ vốn cho người nghèo không lấy lãi.
- Hạ trần lãi suất tiết kiệm để kích cầu, tiêu thụ trên thị trường mới tăng mạnh, sản
xuất trong nước mới có nhiều điều kiện cạnh tranh và phát triển.
- Tạo nguồn cán bộ kinh tế tương lai với những tri thức khoa học và lý luận vững
chắc, gắn đào tạo với thực hành, đầu tư thiết bị quản lý kinh tế hiện đại để giảng
dạy và thực hành trong các trường kinh tế, xã hội hóa giáo dục và đào tạo.
20
KẾT LUẬN
Những bước phát triển gì nữa sẽ đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam trước
thềm thiên nhiên kỷ mới : đổi mới kinh tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa phải
chăng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thời đại ? tất nhiên, những câu trả lời cho
vấn đề ấy còn đang nằm ở phía trước. Song chắc chắn, với con đường đi đúng
đắn và sựu lựa chọn quyết đoán của Đảng và Nhà nước, chúng ta sẽ gặt hái được
rất nhiều thành tựu mới. Nhà nước sử dụng các đòn bẩy kinh tế trong kế hoạch
hóa trực tiếp và kế hoạch hóa gián tiếp để đảm bảo thực hiện những phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status