Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) là loại hình tổ chức kinh tế đã tồn
tại trên một thế kỷ và phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới. Tại nhiều
nước, phong trào HTX phát triển rất mạnh, có những đóng góp đáng kể vào
sự tăng trưởng kinh tế và góp phần đáng kể vào việc tạo ra sự ổn định, công
bằng xã hội
Ở nước ta, HTX NN đã có quá trình phát triển hơn 40 năm, được Đảng
và Nhà nước quan tâm, chăm lo, hỗ trợ về nhiều mặt. Tuy nhiên, trong từng
giai đoạn lịch sử với những cơ chế tổ chức quản lý khác nhau thì vai trò chức
năng và nội dung hoạt động của HTX NN cũng có nhiều thay đổi.
Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý điều tiết của
nhà nước; kinh tế hộ dần được nhìn nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ và càng
ngày càng được khẳng định vai trò của mình. Sự thừa nhận kinh tế hộ nông
dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, một mặt làm bộc lộ rõ sự bất hợp lý của mô
hình HTX NN kiểu cũ, mặt khác làm xuất hiện những nhu cầu bức thiết về
hợp tác mới giữa các hộ nông dân với nhau, cũng như giữa hộ nông dân với
các thành phần, tổ chức kinh tế khác.
Đổi mới và phát triển đa dạng HTX NN là một tất yếu khách quan phù
hợp với quá trình phát triển của lịch sử và của nền kinh tế sản xuất hàng hoá.
Đây là một vấn đề có tính chất thời sự và có vai trò quan trọng trong việc tạo
ra một động lực sản xuất mới, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá trong
nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời thúc đẩy nhanh sự công nghiệp hoá, hiện
đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn nước ta.
Đó cũng chính là lý do để tôi chọn đề tài: “Đổi mới và phát triển HTX
NN ở tỉnh Thái Bình” để làm đề tài tốt nghiệp, nhằm phân tích thực trạng đổi
1
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
nên việc có những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu đề tài là điều không
2
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
thể tránh khỏi. Rất mong sự góp ý, phê bình của các thầy cô giáo, các cán bộ
trong các phòng ban của Sở NN & PTNT tỉnh Thái Bình.
Tôi xin chân thành cám ơn!
3
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KINH TẾ HỢP TÁC VÀ HTX TRONG
NÔNG NGHIỆP
I. lý luận về kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong nông nghiệp
1. Các khái niệm
Các hình thức hợp tác tương trợ trong sản xuất và đời sống của con
người có lịch sử lâu dài - từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất và tồn
tại cho đến ngày nay. Ở mỗi trình độ phát triển của sản xuất có những hình
thức hợp tác tương ứng: Thời nguyên thuỷ, để tồn tại và chống chọi với sự
khắc nghiệt của thiên nhiên, thú dữ con người phải hợp tác với nhau, sống
thành bầy đàn và quan hệ hợp tác này tồn tại dưới những hình thức đơn giản
nhất. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và nhu cầu ngày cang đa
dạng của con người làm nảy sinh những yêu cầu cao của sự hợp tác. Các hình
thức hợp tác cũng ngày một đa dạng hơn: tổ đổi công, hội nghề nghiệp, hợp
tác xã
Hợp tác xã là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động
kinh tế của con người. Sự phát triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi sự
tiến triển của quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người.
Ngược lại, sự phát triển các hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác lại có
một tầm quan trọng lớn đối với sự phát triển của kinh tế, đặc biệt là trong việc
sau:
“HTX NN là tổ chức kinh tế tự chủ, do nông dân và những người lao
động có nhu cầu, lợi Ých chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo
qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên
nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh
tế hộ gia đình của các xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến,
tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh
doanh các ngành nghề khác ở nông thôn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp”.
2. Vai trò của kinh tế hợp tác và HTX NN
2.1 Vai trò của kinh tế hợp tác trong nền kinh tế quốc dân
Thực tiễn phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta
cho thấy: Kinh tế hợp tác có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
của mọi quốc gia, ở mọi thời kỳ cho dù quốc gia đó là nước có nền kinh tế
phát triển hay đang phát triển.
Ở nước ta, tổ chức và phát triển nền kinh tế hợp tác nhằm giúp những
người sản xuất nhỏ có sức cạnh tranh chống lại sự chèn Ðp của các doanh
nghiệp lớn trong nền kinh tế thị trường, cùng với kinh tế nhà nước (là chủ
đạo) dần trở thành nền tảng trong nền KTQD và đó cũng là nền tảng chính trị-
xã hội của đất nước để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng và văn minh.
Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế hợp tác còn nhằm mục tiêu xã hội:
tạo ra sức mạnh liên kết trong sản xuất, kinh doanh giữa những người lao
động nghèo, góp phần xoá đói giảm nghèo. Các tổ chức kinh tế hợp tác, nhất
là trong nông thôn không chỉ gắn bó về kinh tế mà còn được hình thành và
phát triển trên cơ sở “tình làng nghĩa xóm”. Các tổ chức này mặc dù tồn tại
trong cơ chế thị trường khắc nghiệt nhưng không thôn tính lẫn nhau mà giúp
đỡ nhau cùng phát triển: Người có điều kiện giúp đỡ người gặp khó khăn,
Trong giai đoạn hiện nay, HTX NN chính là con đường đưa nông dân
đến giàu có văn minh. Trước đổi mới, mô hình HTX NN cũ đã giam hãm kinh
tế nông nghiệp, nông thôn. Việc giải phóng tình trạng đó bắt đầu từ chỉ thị
100CT/TW (13/01/1981) của Ban bí thư và Nghị quyết 10 của Bộ chính trị
(05/4/1988), đã khẳng định vai trò tự chủ của người nông dân, đưa họ trở
thành người chủ mới. Sức sản xuất được giải phóng, hình thức tổ chức sản
xuất được cải thiện có hiệu quả, từng bước nâng cao mức sống của người
nông dân và đổi mới bộ mặt nông thôn.
Thực tế, lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn nước ta ở
nhiều trình độ khác nhau; điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội ở từng vùng,
từng địa phương có sự khác nhau nên các hình thức tổ chức HTX còng phong
phú đa dạng. HTX chính là hình thức xã hội hoá lực lượng sản xuất. Xuất
phát từ lợi Ých của chính mình, người nông dân sẽ tự nguyện tham gia HTX.
Tuy nhiên, để phát huy tính tích cực của người dân và vai trò hỗ trợ của các
HTX NN đối với nông dân thì Nhà nước cần có sự quan tâm giúp đỡ về vốn,
đào tạo và cả sự quản lý đúng pháp luật đối với các tổ chức này, nhất là trong
điều kiện hiện nay khi mà người nông dân đang trong môi trường sản xuất
hàng hoá theo cơ chế thị trường. HTX NN hỗ trợ các hộ nông dân về những
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
mặt như: dịch vụ đầu vào, dịch vụ đầu ra, dịch vụ BVTV, tưới tiêu nước tạo
điều kiện để hộ nông dân sản xuất kinh doanh tốt, khai thác được thị trường
trong và ngoài nước, đảm bảo góp phần cải thiện và không ngừng nâng cao
mức sống của người dân ở nông thôn.
Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những ưu điểm nó còn có nhiều
khuyết tật và xã hội phải gánh chịu và nông dân Ýt nhiều cũng bị ảnh hưởng.
Sự cạnh tranh quyết liệt làm cho khoảng cách giàu nghèo có xu hướng tăng
lên đòi hỏi các hiệp hội đứng ra giải quyết, giúp đỡ. Tuỳ theo các điều kiện cụ
thể của mỗi cá nhân mà HTX có các hình thức phù hợp như cho vay vốn hoặc
NN, đều có thể trở thành xã viên HTX NN; xã viên có quyền ra HTX theo qui
định của Điều lệ từng HTX NN.
Quản lý dân chủ và bình đẳng: Xã viên HTX NN có quyền tham gia
quản lý, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của HTX NN và có quyền ngang
nhau trong biểu quyết.
Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX NN tự chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phối
thu nhập, đảm bảo HTX và xã viên cùng có lợi.
Việc chia lãi phải đảm bảo lợi Ých của xã viên và sự phát triển của
HTX: Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi được trích lại một phần
để đưa vào quỹ HTX, phần còn lại chia cho xã viên theo vốn góp, công sức
đóng góp, theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX và do Đại hội xã viên quyết
định.
Hợp tác và phát triển cộng đồng: Xã viên phải phát huy và nâng cao ý
thức hợp tác giữa các HTX trong nước và ngoài nước theo qui định của pháp
luật.
3.2 Đặc trưng của HTX NN trong giai đoạn hiện nay
HTX NN phải đảm bảo tính tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, phải tự
chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Nhà nước không trực tiếp
can thiệp vào hoạt động của HTX, mà chỉ quản lý về mặt nhà nước thông qua
pháp luật và chính sách. HTX NN tự chịu trách nhiệm về các hoạt động trước
pháp luật với tư cách là một pháp nhân kinh tế.
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
HTX NN hình thành theo luật HTX dựa trên cở sở quyền tự chủ kinh
doanh của các hộ nông dân. Các hộ nông dân xã viên là chủ thể của HTX, tự
nguyện góp vốn, góp sức, tham gia hoạt động của HTX, cùng hưởng kết quả,
cùng chịu rủi ro của HTX theo mức góp vốn, góp sức vào HTX. Mỗi xã viên
có quyền biểu quyết bình đẳng, ngang nhau, không phụ thuộc vào số cổ phần
(3).Xuất khẩu, nhập khẩu, liên doanh, liên kết với các tổ chức cá nhân ở
trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
(4).Thuê lao động trong trường hợp xã viên không đáp ứng được yêu
cầu dịch vụ, sản xuất, kinh doanh của HTX NN theo quy định của pháp luật.
(5).Quyết định kết nạp xã viên mới, giải quyết việc xã viên ra HTX,
khai trừ xã viên theo Điều lệ của từng HTX NN.
(6).Quyết định việc phân phối thu nhập, xử lý các khoản lỗ của HTX.
(7).Quyết định khen thưởng những cá nhân có nhiều thành tích xây
dựng và phát triển HTX NN, thi hành kỷ luật đối với xã viên vi phạm Điều lệ
HTX NN; buộc xã viên bồi thường các thiệt hại đã gây ra cho HTX NN.
(8).Vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, huy động vốn của
xã viên và được bảo lãnh cho xã viên vay vốn tại các tổ chức tín dụng.
(9).Được tham gia góp vốn để trở thành thành viên của Quỹ tín dụng
Nhân dân và được vay vốn ở tổ chức này.
(10).Được bảo hộ bí quyết công nghệ theo quy định của pháp luật.
(11).Từ chối yêu cầu của các tổ chức, cá nhân trái với quy định của
pháp luật.
(12).Được mở chi nhánh, văn phòng đại diện của HTX NN ở ngoài
huyện, tỉnh theo quy định của pháp luật.
(13).Được quyền tham gia Liên hiệp HTX, Liên minh HTX.
Ngoài ra, HTX NN còn có các quyền khác có liên quan theo quy định
của pháp luật.
Nghĩa vụ của HTX NN
Còng theo điều lệ mẫu HTX NN, nghĩa vụ của HTX NN được quy định
nh sau (Điều 5):
(1).Hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh đúng ngành nghề, mặt
hàng đã đăng ký.
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ở các vùng tự do Nông hội các
cấp đã hướng dẫn nông dân phát triển các tổ đổi công tương trợ nhau, khắc
phục khó khăn do thiếu lao động, sức kéo để làm đất, gieo cấy, thu hoạch kịp
thời vụ
Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, đến năm 1957 cuộc cải cách ruộng
đất kết thúc. Một phần ba triệu hecta ruộng đất được đem chia cho nông dân.
Nhưng do trình độ canh tác còn rất lạc hậu, mới thoát thai từ chế độ thực dân
nửa phong kiến, nông dân đã tổ chức nhau lại thành các tổ vần công, đổi
công, nhằm giúp nhau trong sản xuất và đời sống. Hình thức hợp tác này tuy
còn rất giản đơn, mới chỉ là hợp tác về lao động xong đã giúp người nông dân
giải quyết được khó khăn về sức kéo, giúp nhau làm kịp thời vụ, nhất là đối
với những gia đình neo đơn. Sau cuộc cải cách ruộng đất, phong trào tổ đổi
công phát triển nhanh: năm 1956 ở miền Bắc có 190.000 tổ đổi công, thu hót
50% số hộ nông dân (1,35 triệu hộ); đến năm 1958 có 244.000 tổ đổi công thu
hót 56% số hộ nông dân. Điều đó chứng tỏ hình thức hợp tác đơn giản này
phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của các hộ nông dân tự chủ sản xuất; đồng
thời nó đã tạo ra không khí làm việc vui vẻ trên tinh thần tương trợ và tin
tưởng lẫn nhau, dựa trên sức mạnh cộng đồng - một sức mạnh tinh thần mà
những người làm ăn đơn lẻ không thể có được.
Tuy nhiên quá trình này chưa đủ dài để phát huy hiệu quả trong nền
kinh tế thì chỉ một thời gian ngắn sau đó cuộc vận động đưa nông dân, nông
thôn đi vào con đường hợp tác hoá nông nghiệp đã được tiến hành rầm rộ ở
miền Bắc (và ở miền Nam sau ngày thống nhất đất nước - 1975). Đây là bước
ngoặt trong đời sống kinh tế và chính trị ở nước ta. Phong trào HTX đã có
nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời
kỳ chống Mỹ cứu nước. Song do cấu trúc chưa phù hợp nên mặc dù đã có gần
30 năm hoạt động nhưng khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập
trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì hầu hết các HTX
VÀ NỘI DUNG ĐỔI MỚI HTX NÔNG NGHIỆP
1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
nước ta
14
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
Các hình thức hợp tác trong nông nghiệp nước ta được hình thành từ
lâu đời với những hình thức giản đơn như: vần công, đổi công, tổ vần công, tổ
đổi công, tổ đường nước Đến năm 1958, một hình thức hợp tác mới trong
nông nghiệp xuất hiện, có tổ chức chặt chẽ, có điều lệ thành văn, đó là HTX
sản xuất NN. Đến nay, sau hơn 40 năm phát triển, HTX NN đã trải qua những
bước thăng trầm và đang có những thay đổi để khẳng định vị trí đích thực
trong thời kỳ đổi mới với nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
XHCN. Quá trình phát triển nông nghiệp theo định hướng XHCN ở nước ta
có thể chia thành các giai đoạn sau:
1.1 Từ năm 1958 đến 1980
Đây là thời kỳ kinh tế tập thể được coi trọng, kinh tế hộ từng bước bị
tróc hết cơ sở kinh tế-xã hội của nó. Ban đầu là việc tập thể hoá không hoàn
toàn ruộng đất và các tư liệu sản xuất trong ngành trồng trọt, sau đó mức độ
tập thể hoá được nâng cao: ruộng đất và toàn bộ những tư liệu sản xuất chủ
yếu được tập thể hoá triệt để không những trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp mà cả các lĩnh vực khác nữa. Trong giai đoạn này, kinh tế hộ chỉ còn
là một bộ phận rất nhỏ gọi là kinh tế phụ gia đình-đó là những ngành phụ, quy
mô rất nhỏ, không thể tập thể hoá được như chăn nuôi gia cầm , gia đình sử
dụng mảnh đất 5% của tập thể giao cho để thực hiện kinh tế phụ. Điều kiện để
phát triển kinh tế phụ gia đình rất hạn hẹp, tất cả những điều kiện vật chất để
làm kinh tế phụ chỉ được coi là “hợp pháp” khi đã làm tròn nghĩa vụ đối với
tập thể hoặc không ảnh hưởng đến tập thể. Trên thực tế đã tồn tại một nghịch
lý là thu nhập của kinh tế hộ từ sự phân chia của HTX ngày càng Ýt ỏi, làm
cho đời sống của nông dân rất khó khăn và chỉ với 5% diện tích đất canh tác
người lao động với sản phẩm một cách trực tiếp hơn nên phát huy tốt hơn tính
tích cực lao động, tạo động lực mới phát triển sản xuất. Hiện tượng “khoán
chui” ngày càng mở rộng; nảy sinh nhiều quan điểm trái ngược nhau gây
nhiều tranh cãi. Sau khi khảo sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến cơ sở, tâm tư
nguyện vọng của người nông dân, ngày 21/10/1980 Ban Bí thư đã ra thông
báo số 22, tiếp đến là Chỉ thị 100 (13/01/1981) khẳng định chủ trương và mở
rộng hình thức “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”.
Chỉ thị 100 đã nêu rõ mục đích là phải đảm bảo phát triển sản xuất và
nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn được mọi người hăng hái lao
16
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
động, kích thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai và các cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất,
củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn, không ngừng
nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên.
Chỉ thị 100 ra đời đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của xã viên, đã khơi
dậy sinh khí mới trong nông thôn, ngăn chặn sa sút, tạo đà đi lên, gợi mở một
hướng mới để tìm tòi đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp. Mặc dù bị
ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố song do tác động tích cực của cơ chế “khoán sản
phẩm” nên sản xuất nông nghiệp thời kỳ này vẫn phát triển khá: tổng sản
lượng lương thực cả nước liên tục tăng và đáng kể, bình quân 5 năm 1981-
1985 đạt 17 triệu tấn (năm 1980 chỉ đạt 14,3 triệu tấn), tốc độ tăng bình quân
mỗi năm đạt 5%, dẫn đến lương thực bình quân đầu người tăng lên rõ rệt:
năm 1981 là 273 kg; 1984 là 303kg; 1985 là 304kg. Cây công nghiệp ngắn
ngày và dài ngày cũng có bước phát triển đáng kể cả về diện tích và sản
lượng; chăn nuôi gia đình phát triển khá; chăn nuôi tập thể của HTX đã có
bước chấn chỉnh lại, chú ý đến hiệu quả kinh tế, kết hợp hai hình thức: vừa
chăn nuôi tập trung, vừa khoán cho gia đình xã viên nuôi cho HTX.
Tuy nhiên chỉ thị 100 cũng có nhiều hạn chế: nguyên tắc đưa ra vẫn còn
Tổng kết thực tiễn, ngày 05/04/1988 Bộ chính trị đã ban hành Nghị
quyết “về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” còn gọi là Nghị quyết 10, hay
“khoán 10” với nội dung chủ yếu là: Tổ chức lại sản xuất trong HTX NN;
HTX NN là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự quản; xác định rõ vai trò của hộ xã
viên, khoán gọn đến hộ và nhóm hộ; điều chỉnh quan hệ sở hữu, quan hệ quản
lý giữa HTX và hộ xã viên; xoá bỏ chế độ phân phối theo công điểm; khuyến
khích phát triển các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn; từng
bước xây dựng nông thôn mới Có thể nói Nghị quyết 10 là mốc quan trọng
đánh dấu sự đổi mới toàn diện trong nông nghiệp, nông thôn nước ta.
Cùng với Nghị quyết 10, Nghị quyết TW6 khoá VI (1988); Nghị quyết
TW5 khoá VII (1993) và sự đổi mới của nhiều chính sách có liên quan đã
khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ; được nhận ruộng đất ổn định
lâu dài gắn liền với 5 quyền: quyền sử dụng, quyền chuyển đổi, chuyển
18
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
nhượng, thừa kế và thế chấp. HTX NN tiến hành hoá giá, bán lại cho hộ xã
viên những TLSX mà HTX quản lý, sử dụng không có hiệu quả. Nhiều cơ sở
vật chất của HTX như nhà trẻ, mẫu giáo, đường điện sáng được giao lại cho
UBND xã quản lý để phục vụ cho nhu cầu chung của xã, HTX chỉ quản lý
những cơ sở vật chất kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến sản xuất và đời sống
chung của xã viên. HTX từ chỗ chỉ đạo, điều hành trực tiếp kế hoạch sản xuất
chuyển sang hướng dẫn sản xuất, làm dịch vụ cho hộ xã viên ở những khâu
mà hộ xã viên không làm được hoặc làm không hiệu quả; hộ xã viên tự bố trí
sản xuất kinh doanh, tù do lao động, thuê dịch vụ, mua vật tư, bán sản phẩm
và quan hệ với HTX bình đẳng thông qua hợp đồng kinh tế. Xã viên chỉ có
nghĩa vụ nộp thuế và thanh toán các chi phí dịch vụ cho HTX.
Sự đổi mới đó có tác động rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Trong
thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp nước ta có những thành tựu đáng kể:
Sản lượng lương thực tăng mạnh và khá vững chắc; đã hình thành
phát triển mới trong nông nghiệp, nông thôn nhưng thực trạng kinh tế-xã hội
nông thôn lại có những mâu thuẫn mới, những vấn đề nảy sinh rất gay go và
đòi hỏi phải được tiếp tục giải quyết.
2. Sự cần thiết phải đổi mới và nội dung đổi mới HTX NN
2.1 Sự cần thiết phải đổi mới HTX NN
HTX NN có vai trò rất to lớn trong nông nghiệp, nông thôn cũng nh
trong nền kinh tế quốc dân. Với thời gian xây dựng và phát triển HTX NN ở
nước ta đã để lại không Ýt dấu Ên và kinh nghiệm.
Các HTX NN trước đây là kết quả của phong trào tập thể hoá nông
nghiệp và đã có đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội
của đất nước. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi thử thách của quá trình đổi mới
của nền kinh tế cũng như quá trình phát triển của các HTX NN cho thấy: hình
thức tổ chức, nội dung hoạt động, phương thức quản lý của các HTX NN
trước đây không còn phù hợp, không thích nghi với điều kiện mới, thậm chí
còn cản trở sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Động lực phát triển không
được phát huy mà bị triệt tiêu, các nguồn lực sản xuất trong nông nghiệp
không được khai thác tốt và sử dụng kém hiệu quả. Đây là một thực tế đòi hỏi
20
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
phải đổi mới các HTX NN nhằm tạo ra một động lực phát triển mới, phát huy
vai trò của HTX trong điều kiện mới. Việc đổi mới này đồng thời cũng là
khẳng định quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của hộ xã viên, phát huy tối đa
năng lực tự chủ sản xuất kinh doanh của từng hộ, phù hợp với tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân. Sự đổi mới các HTX NN không phải là phủ nhận hay xoá
bỏ mà là sự kế thừa có chọn lọc để sao cho các HTX NN ngày càng phát triển,
phát huy được vai trò của nó trong nền KTQD.
Việc đổi mới các HTX NN không chỉ đơn thuần là sự giải thể các HTX
làm ăn kém hiệu quả hoặc chỉ còn tồn tại hình thức mà nó còn bao gồm cả
quá trình phát triển các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng trong nông nghiệp,
sở hữu và sử dụng lao động thay đổi thì quan hệ quản lý, điều hành trong
HTX cũng phải thay đổi theo bởi vì trong cơ chế khoán mới, nội dung của
quan hệ quản lý gắn liền với nội dung quan hệ sở hữu. Hộ xã viên là đơn vị
kinh tế tự chủ, có quyền sở hữu các TLSX, có quyền điều hành lao động và
phân phối sản phẩm thì nội dung quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh
cũng thuộc về hộ xã viên.
Việc đổi mới quan hệ quản lý điều hành của HTX NN phải làm sao cho
phù hợp với cơ chế hạch toán, đảm bảo tăng hiệu quả, nâng cao tính độc lập
tự chủ và tự chịu trách nhiệm của HTX NN trong sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ phục vụ hộ xã viên. Hoạt động của HTX và hoạt động của hộ xã viên vừa
độc lập, vừa phụ thuộc hỗ trợ nhau phát triển hài hoà.
• Thứ ba: Đổi mới quan hệ phân phối
Quan hệ phân phối trong HTX NN gắn liền với quan hệ sở hữu và quan
hệ quản lý điều hành. Trong những năm trước đổi mới, quan hệ phân phối
trong các HTX NN thực hiện theo cơ chế phân phối bình quân bao cấp tràn
lan, không gắn lợi Ých với công sức đóng góp của người lao động và cán bộ
quản lý HTX. HTX giữ vai trò quyết định trong việc phân phối kết quả sản
xuất, kinh doanh và hộ xã viên chỉ là đối tượng hưởng quyền lợi. Trong cơ
chế mới, quan hệ này cũng được thay đổi. Hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ
nên có quyền phân phối sản phẩm thu được từ các hoạt động sản xuất, kinh
doanh của mình; trong đó có phần nộp thuế và thanh toán các chi phí dịch vụ
cho HTX. Lãi của HTX NN từ hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh, ngoài
22
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
phần nộp thuế và trích quỹ, phần còn lại phân phối cho xã viên theo công lao
và đóng góp thực sự của từng xã viên.
• Thứ tư: Đổi mới bộ máy quản lý HTX NN
Đổi mới bộ máy quản lý HTX là một yêu cầu khá cấp bách và bao gồm
nội dung sau:
Các giải pháp chuyển đổi và hình thức chuyển đổi HTX NN kiểu cũ ở
nước ta trong cơ chế mới là rất khác nhau. Để đánh giá đúng sai cần dựa trên
một số quan điểm nền tảng sau đây:
Một là:Việc chuyển đổi hình thức kinh tế HTX NN được đặt trong bối
cảnh mới là một nền kinh tế nhiều thành phần, sản xuất hàng hoá vận hành
theo cơ chế thị trường, theo định hướng XHCN. Đó là điều khác biệt rất căn
bản với trước kia - kinh tế tập thể trong nền kinh tế kế hoạch tập trung cao.
Điều đó có nghĩa là nền kinh tế thừa nhận có sở hữu tư nhân với nhiều hình
thức sở hữu khác nhau. Có nghĩa là chấp nhận sự cạnh tranh và hợp tác. Một
doanh nghiệp thuộc bất kỳ sở hữu nào chỉ có thể tồn tại khi tự mình vượt qua
được thử thách của cạnh tranh. Có nghĩa là một nền kinh tế thừa nhận còn có
bóc lột ở các mức độ khác nhau và chấp nhận sự phân hoá giàu nghèo trong
cộng đồng dân cư, mà vai trò của Nhà nước là rất cần thiết để điều chỉnh một
cách hợp lý mối quan hệ phức tạp này.
Hai là: Trên thế giới đang tồn tại 2 loại HTX. Loại HTX trên cơ sở duy
trì sở hữu cá thể về TLSX của xã viên, tự nguyện vào HTX với mưu cầu đạt
được hiệu quả kinh doanh cao hơn, từ đó phần mà xã viên thu được gồm 2
phần: một là lợi tức về cổ phần và hai là tiền công lao động của mỗi người; xã
viên trong HTX vẫn là những người hữu sản. Loại HTX này tồn tại ở nhiều
nước trên thế giới, được tổ chức thành “Liên minh các HTX”.
Loại HTX thứ hai là loại HTX trên cơ sở tập thể hoá toàn bộ TLSX của
xã viên, xã viên trở thành “người vô sản” và chỉ được hưởng một phần thu
nhập theo ngày công. Loại HTX này chỉ có ở các nước XHCN. Với ý nghĩa
đó thì khi tập thể hoá TLSX sẽ không còn khái niệm HTX nữa mà chỉ là một
doanh nghiệp tập thể.
Bởi vậy khi xem xét chuyển đổi không nên lẫn lộn loại HTX tập thể
hoá với loại HTX hợp tác hoá.
24
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Xuyến Lớp Nông
Nghiệp 39
25