PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan Sơn là huyện miền núi, vùng cao, biên giới, nằm về cực bắc của tỉnh
Thanh Hóa. Huyện có địa hình bán sơn địa với tổng diện tích tự nhiên là 93.017,03
ha. Trong đó diện tích:
+ Đất nông nghiệp: 82.273,11 ha; chiếm 88,45% diện tích tự nhiên toàn huyện
- Đất sản xuất nông nghiệp: 2.521,16 ha; chiếm 2,71%;
- Đất cho sản xuất lâm nghiệp: 79.682,21 ha; chiếm 85,66%;
+ Đất phi nông nghiệp: 2.688,84 ha; chiếm 2,89%;
+ Đất chưa sử dụng: 8.055,08 ha; 8,66%.
Với hơn 36.636 người sinh sống. Trong đó có 6 xã giáp vùng biên giới và có 4
dân tộc cùng sinh sống đó là: Thái, H.Mông, Kinh, Mường. Do trình độ dân trí chưa
cao, sản xuất manh mún, đời sống gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn kém phát
triển. Tình hình quản lý sử dụng đất đai trong những năm qua còn nhiều bất cập hiệu
quả sử dụng đất chưa cao ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội và
ổn định đời sống nhân dân trong huyện.
Trong khi đó đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều
kiện không thể thiếu cho hoạt đông sản xuất và đời sống con người. Việc xây dựng
kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả
lâu dài.Trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước việc sử dụng đất hợp
lý, có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng
tránh gây lãng phí hạn chế sự hủy hoại đất và tránh phá vỡ môi trường sinh thái.
Ngành lâm nghiệp có tác dụng rất lớn đối với nền kinh tế có nhiều mặt không chỉ
cung cấp đặc sản rừng mà còn tác dụng giữ đất, điều tiết nguồn nước, chống ô nhiễm
môi trường, điều hòa khí hậu, phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh
học và các giá trị cảnh quan, du lịch, văn hóa…Vậy mà những năm qua dường như
con người đã lãng quyên ý nghĩa quan trọng đó, chỉ tập trung khai thác triệt để thỏa
mãn nhu cầu trước mắt của mình.
Đầu tiên là sự khai thác kiệt quệ những loài gỗ quý, có giá trị cao về mặt kinh tế
và thẩm mỹ, làm giảm tính đa dạng sinh học, mất đi nguồn gen sinh vật quý và
những giá trị văn hóa tổn tại trong nó mà còn làm xuất hiện hàng loạt các biến đổi
3 100
1
Tổng diện tích đất nông
nghiệp
82.273,1
1 88,45
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 2.521,16 2,71
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 1.543,40 1,66
- Đất trồng lúa 1.195,10 1,28
-
Đất bằng trồng cây hàng năm
khác 348,3 0,37
1.1.2 Đất trồng cỏ 0,97 0,00
1.1.3 Đất trồng cây lâu năm 976,79 1,05
- Đất trồng cây ăn quả lâu năm 976,79 1,05
1.2
Đất lâm nghiệp
79.682,2
1 85,66
1.2.1 Đất rừng sản xuất 48.623,99 52,27
-
Rừng tự nhiên
35.091,0
0 37,73
- Rừng trồng 9.816,73 10,55
- Đất trống 3.716,26 4,00
1.2.2
Đất rừng phòng hộ
31.058,2
2 33,39
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 426,46 0,46
- Đất đồi núi chưa sử dụng 6.197,88 6,66
3.2 Núi đá không cây 1.430,74 1,54
Đất chưa sử dụng hiện nay là 8.055,08 ha (chiếm 8,66% DTTN) có thể khai
thác cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp và sử dụng vào các mục đích khác.
2. Tổng quan sử dụng kỹ thuật nông lâm kết hợp ở Quan Sơn
2.1 Kỹ thuât nông lâm kết hợp trên đất đồi núi thấp
2.1.1. Hình thức canh tác.
Canh tác theo hình thức mô hình nông lâm kết hợp thường có diện tích đất từ
1,5 - 3 ha cho một hộ gia đình, bố trí trên một phần đồi hay cả quả đồi, cây trồng
trên mô hình này được phân bổ như sau:
* Rừng ở đỉnh và sườn cao, diện tích 1- 2 ha, trồng các loại cây lâm nghiệp như:
Mỡ, bồ đề, bạch đàn, keo để lấy gỗ, giữ nước và ngăn chặn xói mòn, những năm đầu
cây lâm nghiệp còn nhỏ ta có thể trồng xen các cay hoa màu ngắn ngày như dứa, đỗ,
lạc để tận dụng,cải tạo đất, đồng thời chăm sóc và ngăn chặn cỏ dại cho cây trồng
chính.
* Diện tích 0,5 – 1 ha ở sườn đồi để làm nương ta có thể trồng lúa nước theo
phương thức ruộng bực thang, có đào rãnh và đắp bờ đất ngang đốc để giữ nước.
Trang
3
Nhiều nơi đã trồng xen đỗ lạc giữa các hàng cây hoặc các băng cây cốt khí hay cây
gỗ, rộng 1 – 2m cách nhau 10 -15m ngang dốc để giữ nước, làm phân xanh hoặc lấy
gỗ củi.
* Ở chân đồi với diện tích từ 0,2– 0,3 ha, nơi thấp nhất, gần thung lũng, gần
đường đi lại, bà con trồng các loại cam, chanh, bưởi, táo,ổi, quyết… và các cây có
giá trị hàng hoá khác ở quanh nhà. Đối với hình thức canh tác trên đất đã bị bạc màu,
thoái hoá, một số giải pháp kỹ thuật nhằm chống xói mòn, tăng năng suất cây trồng
sau đây thường được áp dụng như sau:
Giải pháp kỹ thuật Mô tả
* Lợi ích có được từ rừng trồng sau 5- 10 năm thu được khoảng 45 – 100 m3
gỗ làm nguyên liệu giấy trị giá 9 – 16 triệu đồng, bình quân 1,4 – 2 triệu đồng/năm,
tuy không thu được lợi ngay, nhưng các năm đầu có sản phẩm trồng xen, cành lá và
cây tỉa thưa để bán và đun nấu.
* Lợi ích từ sườn và chân đồi từ việc làm nương dẫy cũng cho 1,2 – 2 tấn lương
thực hàng năm để giải quyết cái ăn hàng ngày. Vườn cung cấp thực phẩm hàng ngày
cho gia đình, ngoài ra còn có thể bán các nông sản, được 1,5 – 3 triệu đồng tiền mặt
mỗi năm để mua sắm các thứ cần thiết. Như vậy là đất đai tuy xấu nhưng đã được sử
dụng hợp lý và tổng hợp, biết áp dụng những biện pháp canh tác đất dốc đơn giản,
Trang
4
có đầu tư cao hơn nhờ biết tận dụng lao động và thời gian tiềm năng sẵn có của gia
đình mà đất đai được cải thiện, duy trì được độ màu mỡ để canh tác được lâu dài
hơn.
2.2 Kỹ thuật nông lâm kết hợp sử dụng ở vùng đồi núi cao
Diện tích đất đai ở khu vực vùng núi cao này chủ yếu là 2 nhóm đất: (1) Đất
nâu vàng, loại đất này có màu phổ biến là nâu vàng, thành phần cơ giới nặng, tầng
đất trung bình và dày thoát nước tốt, hình thát phẫu diện tương đối đồng nhất, cấu
trúc khá tốt và bền. Tuy nhiên một số nơi đất đã bị rửa trôi xói mòn, thoái hoá do sử
dụng không hợp lý đất trở nên khô cằn, nghèo dinh dưỡng. Loại đất này thường
thích hợp với cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp.(2) Đất mùn vàng đỏ trên
núi, loại đất này nằm ở vùng núi cao. Do địa hình cao dốc hiểm trở nên đất thường
bị xói mòn mạnh, mặt khác do quá trình phong hoá yếu nên đa số đất có phẫu diện
không dày. Đất có phản ứng chua vừa đến ít chua, hàm lượng mùn cao. Đất mùn
vàng đỏ trên núi thích hợp cho áp dụng các phương thức nông lâm kết hợpnhư sau:
Áp dụng các kỹ thuật luân canh tốt như: Luân canh cây lương thực, cây hoa
màu họ đậu. Canh tác và trồng các loại hoa màu dọc theo các đường đồng mức để
chống xói mòn, giữ đất và giữ nước. Sử dụng toàn bộ chất hữu cơ dư thừa có sẵn
(các phẩm vật dư thừa sau thu hoạch, phân động vật) để bón cho đất, chất hữu cơ có
tác dụng cải tạo đất làm cho đất tơi xốp và tăng độ phì của đất.
nguyên vật liệu cho hộ gia đình.
Lợi ích thứ 3 tạo việc làm: Nông lâm kết hợp gồm nhiều thành phần canh tác đa
dạng có tác dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân.
Lợi ích thứ 4 tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít
đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống nông lâm kết hợp dễ có khả năng đến lại thu nhập
cao cho hộ gia đình. Giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực:
Nhờ có cấu trúc phức tạp, đa dạng được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương
hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống nông lâm kết hợp
thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như
dịch sâu bệnh, hạn hán, v.v.). Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần
giảm rủi ro về thị trường và giá cho nông hộ.
3.3. Các lợi ích từ nông lâm kết hợp trong việc bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và môi trường
3.3.1. Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên đất và nước
Qua nhiều năm nghiên cứu nông lâm kết hợp phối hợp với các kết quả nghiên
cứu về sinh thái học, nông nghiệp, lâm nghiệp và khoa học đất đã cho thấy các hệ
thống nông lâm kết hợp nếu được thiết kế và quản lý thích hợp sẽ có khả năng giảm
dòng chảy bề mặt và xói mòn đất duy trì độ mùn và cải thiện lý tính của đất và phát
huy chu trình tuần hoàn dinh dưỡng, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây
trồng và vật nuôi. Nhờ vậy làm gia tăng độ phì của đất, tăng hiệu quả sử dụng đất và
giảm sức ép của dân số gia tăng lên tài nguyên đất (Young, 1997).
Bên cạnh đó, trong các hệ thống nông lâm kết hợp do hiệu quả sử dụng chất
dinh dưỡng của cây trồng cao nên làm giảm nhu cầu bón phân hóa học, vì thế giảm
nguy cơ ô nhiễm các nguồn nước ngầm (Young, 1997).
3.3.2. Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh
học.
Nông lâm kết hợp cung cấp một phần lâm sản cho nông hộ, đồng thời nông
lâm kết hợp có thể làm giảm tốc độ khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên. Mặt khác,
nông lâm kết hợp là phương thức tận dụng đất có hiệu quả nên làm giảm nhu cầu mở
rộng đất nông nghiệp bằng khai hoang rừng. Chính vì vậy mà canh tác nông lâm kết
0
15’30”-105
0
08’25” kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp huyện Quan Hóa.
- Phía Tây và Nam giáp nước CHDCND Lào.
- Phía Đông giáp huyện: Lang Chánh, Bá Thước.
Huyện Quan Sơn có diện tích tự nhiên 93.017,03ha; Dân số là hơn 36.636
người; Mật độ dân số trung bình là 38,4 người/km
2
; Trên địa bàn huyện có 13 đơn vị
hành chính, bao gồm 12 xã và 1 thị trấn. Quan Sơn có Trung tâm huyện lỵ tại Km
35-Quốc Lộ 217, là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của huyện tuy nhiên kết
cấu hạ tầng còn nhiều hạn chế và cách thành phố thanh hóa khoảng 150km.
1.2. Vị trí địa lý kinh tế.
Huyện có vị trí địa lý chiến lược quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an
ninh của khu vực miền núi và tỉnh Thanh Hóa;
Là vùng đầu nguồn của hệ thống sông Mã, có ý nghĩa rất lớn về vị trí phòng hộ,
tạo nguồn sinh thủy dự trữ nguồn nước, giảm tác động thiên tai và bảo vệ môi
trường, tạo cân bằng hệ sinh thái đối với cả tỉnh;
Trên địa bàn huyện có mạng lưới giao thông đường bộ đi qua như Quốc lộ 217,
là tuyến đường nối với đường 1A, cắt đường Hồ Chí Minh qua các trung tâm phát
triển của các huyện với nước bạn Lào. Là yếu tố thuận lợi cho việc giao lưu hợp tác
và phát triển;
Gồm 6 xã giáp biên giới với 64 km đường biên với nước bạn Lào; có cửa khẩu
quốc tế Na Mèo và cửa khẩu tiểu ngạch Tam Thanh - Sầm Tớ, thuận lợi cho phát
Trang
7
triển kinh tế vùng biên, giao thương với nước bạn Lào, xây dựng biên giới hòa bình,
hợp tác hữu nghị.
tháng 10 (tháng có lượng mưa trên 100 mm). Tháng có lượng mưa < 100 mm là
tháng 12; 1; 2; 3 và tháng 4.
Số ngày mưa 194 ngày/năm, tháng có số ngày mưa nhiều nhất là tháng 6;7; 8
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm 87%, thấp nhất 84% vào
tháng 5, cao nhất 88% vào tháng 8, tháng 9; Lượng bốc hơi trung bình năm 628,9
mm/năm, cao nhất vào tháng 7 là 78 mm, thấp nhất vào tháng 1 là 40,3 mm; Tổng số
giờ nắng trong năm trung bình là 1.684 giờ; Bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng từ
tháng 7 đến tháng 10, trung bình 2 cơn/năm, thường mang theo mưa lớn gây lũ lụt.
Gió Tây Nam khô nóng trung bình 21,5 ngày/năm (từ tháng 4 - tháng 7);
Giông tố trung bình 99,5 ngày/năm; Gió mùa Đông Bắc trung bình 18 đợt/năm (từ
tháng 10 - tháng 3); Số ngày rét đậm có sương giá trung bình 5,4 ngày/năm; Số ngày
có khả năng sương muối 1,2 ngày/năm (vào tháng 12 và tháng 1); Số ngày mưa
phùn trung bình 48,2 ngày/năm (vào tháng 1-3); Số ngày hanh heo trung bình 11,4
ngày/năm (vào tháng 11-12);
Thuận lợi của khí hậu thời tiết là tổng nhiệt độ năm cao, nhiệt độ không khí
trung bình năm cao, số giờ nắng cao, lượng mưa, ẩm độ lớn thích hợp cho thực vật,
cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Nhưng bất lợi của thời tiết là luợng mưa phân bố không đều, tập trung vào mùa
mưa nên dễ gây ra hiện tượng lũ quét, lũ ống, sạt lở đất, đá lăn. Mùa đông ít mưa,
khô hanh, rét đậm, có xuất hiện sương giá và dễ gây nên hạn hán, cháy rừng. Mùa hè
có gió Tây Nam khô nóng, giông tố, mưa đá, bão, ảnh hưởng đến sản xuất và đời
sống nhân dân.
Trang
8
4. Thủy văn
Hệ thống sông suối của Quan Sơn được phân bố như sau. Sông Luồng bắt
nguồn từ Lào chảy qua các xã Na Mèo, Mường Mìn, Sơn Thủy chảy ra Nam Động
huyện Quan Hóa. Sông Lò Bắt nguồn từ Lào chảy qua các xã Tam Thanh, Tam lư,
Sơn Lư,Thị Trấn, Trung Thượng, Trung Tiến, Trung Hạ, Trung Xuân, đổ về sông
Nhóm đất phù sa bồi tụ ven sông, suối (Py) phân bố ven sông Luồng, sông Lò,
suối lớn thuộc đất canh tác trồng lúa, hoa màu.
Nhóm đất dốc tụ chân đồi (D), thường trồng màu, lương thực và trồng rừng.
5.2.Tài nguyên khoáng sản
Trang
9
Theo kết quả điều tra năm 2005 và 2007 ở trên địa bàn huyện Quan Sơn có các
loại khoáng sản sau
Mỏ chì, kẽm ở xã Sơn Thuỷ, Chì, bạc ở xã Sơn Hà, Sắt ở xã Tam Lư, Molipden
ở Mường Mìn, Graphit ở xã Na Mèo, về trữ lượng chưa xác định huyện Quan Sơn
có nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu là đá Vôi, cát sỏi ở ven sông Lò, sông
Luồng.
5.3. Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện nhiều chiếm phần lớn tổng diện tích tự
nhiên của huyện, với thảm thực vật rừng khá phong phú tạo thành quần thể tự nhiên
có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và cũng có một vai trò kinh tế nhất định,
tuy nhiên trong thời gian qua vẫn có một số diện tích đất rừng bị cháy. Rừng là nơi
cung cấp nguyên liệu phục vụ đời sống và góp phần chống xí mòn đất rất tốt Trong
tương lai cần chú ý tăng diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ rừng tăng độ che phủ
rừng trong toàn huyện đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ tài nguyên đất, chống
xói mòn, bảo vệ sự đa dạng sinh học và điều hòa nguồn nước.
Bên cạnh đó rừng và sản xuất ngành lâm nghiệp là thế mạnh của huyện Quan
Sơn được thể hiện trong các Nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh tế của huyện.
Theo kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng tại Quyết định 2755/2007/QĐ-
UBND ngày 12-9-2007 của UBND tỉnh Thanh Hóa; Quyết định 346/QĐ-UBND
ngày 26/01/2011 của UBDN tỉnh Thanh Hoá
Diện tích đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp đến là 79.682,21 ha chiếm
85,66% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện; trong đó rừng phòng hộ 31.058,22 ha;
rừng sản xuất 48.623,99 ha.
Trữ lượng rừng ước tính có khoảng 2,3 triệu m
Mông ; những phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt và trong tín
ngưỡng, hội hè cùng với những món ăn đặc sản mang đậm nét của mỗi dân tộc
là những tài nguyên du lịch nhân văn rất hấp dẫn đối với du khách, nhất là các
du khách quốc tế;
Với tiềm năng và vị trí địa lý của mình, Quan Sơn có thể liên kết với các địa
phương trong vùng, cả tỉnh, cả nước và với các tỉnh Bắc Lào hình thành các tua du
lịch xuyên quốc gia và quốc tế.
5.6. Tài nguyên nước
Nước được phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được
lấy từ nguồn nước mặt chủ yếu của huyện là nguồn nội sinh của các sông, suối thuộc
hệ thống sông Mã; trên địa bàn huyện có trên 300 khe, suối lớn, nhỏ thường xuyên
có nước. Việc trữ nước cho sản xuất chủ yếu bằng các đập ngăn nhỏ, hiện trên địa
bàn huyện có trên 40 đập ngăn giữ nước phục vụ phát triển sản xuất và cấp nuớc
sinh hoạt cho nhân dân. Có 2 sông lớn là Sông Luồng và Sông Lò;
Sông Luồng là một nhánh lớn bên hữu ngạn sông Mã có tổng chiều dài 102
km; diện tích lưu vực là 1.590km
2
, đoạn chảy qua huyện dài 48km.
Sông Lò tổng chiều dài sông là: 74,5 km, diện tích lưu vực 792 km
2
. Đoạn
chảy trên địa bàn huyện dài trên 38 km.
Hệ thống sông suối của Quan Sơn có nhiều tiềm năng cho xây dựng các hồ, đập
phục vụ tưới thuỷ lợi; có nhiều vị trí có thể xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và
nhỏ, bổ sung điện năng cho lưới điện Quốc gia và phục vụ phát triển sản xuất như: Na
Mèo (trên sông Luồng); Trung Thượng, Tam Lư, Trung Xuân (trên sông Lò)
5.7.Môi trường cảnh quan
Môi trường Quan Sơn về hiện trạng chưa bị ô nhiễm, tuy nhiên với tốc độ phát
triển như hiện nay công tác bảo vệ môi trường cần phải được trú trọng nhất là các
khu trung tâm như trung tâm huyện lỵ, cửa khẩu Na Mèo, đường tiểu nghạch Tam
1. Các hình thức canh tác trên địa bàn nghiên cứu
1.1. Nông nghiệp
Các hoạt động nông nghiệp ở đây chủ yếu là lúa, bắp, và cây ăn quả như mít,
mận, nhãn, vải, dừa…Và một số cây công nghiệp như đậu tương, lạc được canh tác
theo phương thức cổ truyền.
1.2. Lâm nghiệp
Trên địa bàn hoạt động lâm nghiệp hiện tại có trồng các loại cây như là keo lai,
luồng, lát, sưa, xoan…. trong đó luồng là loài cây được người dân ưu tiên lựa chọn,
đây là loài cây dễ trồng ít tốn công chăm sóc và thời gian khai thác không quá dài,
giá thành tương đối cao.
1.3. Trang trại
Theo quá trình khảo sát và điều tra tôi nhận thấy hầu hết các trang trại ở đây
hoạt động còn rời rạc, chủ yếu là do các hộ nông dân tự phát. Nhiều trang tại bị bỏ
giữa chừng vì không có kinh nghiệm, không được tập huấn, nguyên nhân nữa là đất
đai khí hậu khắc nghiệt, thiếu vốn đầu tư nên các hoạt động sản xuất gặp nhiều khó
khăn.
Trang
12
2. Các nguyên nhân dẫn đến sự hoái háo đất và thực trạng phát triển các
ngành tại huyện Quan Sơn.
Dựa vào thực trạng việc khai thác và sử dụng đất đồi hiện tại của huyện Quan
Sơn với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong những năm tới, cũng như khả năng
về lao động và vốn đầu tư là cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp phục hồi khả
năng cải tạo đất đồi đem lại hiệu quả kinh tế kết hợp bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai
và môi trường làm tăng diện tích đất sản xuất.
2.1. Các nguyên nhân dẫn đến suy thoái đất
2.1.1. Thoái hóa đất do các yếu tố tự nhiên
Quan Sơn là một huyện miền núi nên có địa hình đa phần là đồi, núi nên có độ
dốc lớn, phần lớn người dân canh tác trên đất dốc. Khi thay đổi về khí hậu, sinh thái,
đặc biệt là thảm thực vật dễ dẫn đến hiện tượng xói mòn trượt lở, rửa trôi là suy
thời gian qua nạn chặt phá rừng vẫn diễn ra phổ biến đặc biệt tại các xã vùng xâu
Trang
13
vùng xa, mất rừng dẫn đến trong mùa mưa đất đai bị xói mòn cộng với phương pháp
canh tác trên đất dốc chưa bền vũng dẫn đến giảm dần năng suất canh tác.
Do bà con áp dụng những biện pháp canh tác bất hợp lý trên đất dốc, kết hợp
với tình trạng khai thác, chặt phá rừng bừa bãi, trái phép tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến
thoái hóa đất tại một số xã, thảm thực vật trên mặt đất không còn khả năng giữ nước
dấn đến tầng đất mặt canh tác bị rửa trôi.
2.2. Thực trạng phát triển các ngành tại huyện.
2.2.1. Nông nghiệp:
Ở huyện Quan Sơn trồng trọt là ngành sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp
trong đó cây trồng chủ yếu là cây lương thực như: Lúa, ngô…. Chính quyền huyện
đã quan tâm, chỉ đạo, tuyên truyền vận động nhân dân đưa giống mới vào sản xuất
và tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật vào thâm canh, tăng cường công tác
khuyến nông, khuyến lâm đến từng cơ sở xã, thị trấn tạo mọi điều kiện về giống,
phân bón và thủy lợi kịp thời cho nhân dân. Xây dựng các mô hình trình diễn để
thăm quan học tập kinh nghiệm trước khi đem ra nhân diện rộng… Vì vậy năng suất
sản lượng cây lương thực trên địa bàn huyện ngày càng tăng.
Chăn nuôi huyện thường xuyên đẩy mạnh công tác chăn nuôi gia súc gia cầm
cơ bản đã đáp ứng nhu cầu sức kéo và nhu cầu thực phẩm cho nhân dân.
Ngoài ra còn có nuôi cá ở các khu vực xã. Công tác phòng chống dịch bệnh cho
gia súc, gia cầm thường xuyên được quan tâm chăm sóc vì vậy đã ngăn chăn kịp thời
các nguồn bệnh dịch như lở mồn long móng ở gia xúc và cúm H5N1 ở gia cầm.
Nhìn chung, trong những năm gần đây phong trào phát triển chăn nuôi tại
huyện khá đồng bộ. Công tác chăm sóc phòng trừ thường xuyên được quan tâm,
phun phòng trừ khử chuồng trại và tiêm phòng theo quy định.
2.2.2. Lâm nghiệp .
Diện tích đất lâm nghiệp của huyện 79.682,21 ha; chiếm 85,66%;diện tích tự
nhiên, trước đây do tình trạng phá rừng làm nương rẫy, khai thác rừng bừa bãi đã
luôn chịu ảnh hưởng của gió lào.
Trong những năm gần đây huyện chịu rất nhiều thiên tai do biến đổi khí hậu
toàn cầu, nên các hoạt động sản xuất gặp nhiều bất lợi, người dân ở đây không được
tập huấn hay học cách xây dựng mô hình sản xuất bền vững trên đất đồi nên đất đồi
đang bị thoái hóa do phương thức canh tác cổ truyền như trồng độc canh, đốt rẫy
trước mùa mưa.
3. Đề xuất các biện pháp quy hoach sản xuất nông lâm nghiệp trên đất đồi
núi tại huyện Quan Sơn.
3.1. Biện pháp sử dụng đất đồi của huyện Quan Sơn
Lâm nghiệp là ngành sản xuất chính của người dân huyện Quan Sơn, cũng là
nguồn thu chủ yếu của người dân nơi này vì vậy sản xuất lâm nghiệp có vai trò và ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với đời sống nhân dân trong huyện
Các biện pháp sử dụng đất rừng là tổng hợp các biện pháp như tái sinh, cải tạo,
nuôi dưỡng rừng, kết hợp với các mô hình nông lâm kết hợp để sản xuất, kinh doanh
sử dụng đất đồi một cách có hiệu quả nhất. Đảm bảo cho việc sử dụng đất và kinh
doanh rừng lâu dài liên tục đáp ứng tối đa nhu cầu cung cấp lâm sản đồng thời phát
huy cao nhất tính năng phòng hộ rừng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
trên địa bàn huyện.
3.1.1. Trồng rừng
Biện pháp trồng rừng được áp dụng trên những diện tích đất trống chưa sử
dụng, trồng các loại cây như: lát, đinh , sến, táu… trên đỉnh đồi nơi có độ dốc cao,
còn xoan, keo lai, sao đen, luồng…. trồng ở diện tích đất có độ dốc thấp hơn.
Trong những năm đầu tiên ta sẽ trồng xen canh các lọai hoa màu ngắn ngày để
han chế xói mòn, rửa trôi cải tạo đất như như lạc, ngô, sắn….đặc biệt là các cây họ
đậu vì nó có khả năng cố định và tự tổng hợp đạm.
3.1.2. Khoanh nuôi phục hồi rừng.
Trang
15
Trên địa bàn huyện chủ yếu là đất rừng tự nhiên đã bị khai thác cạn kiệt nhằm
tận dụng khả năng tái sinh và diễn thế rừng tự nhiên trên diện tích đất trống có khả
them thu nhập, bên canh đó luân canh cây trồng còn có tác dụng cải tạo đất, phòng
trừ được một số loại sau bệnh cho cây trồng vụ sau.
Để phát triển trồng cây lúa nước đạt năng xuất cao, bà con nên áp dụng biện
pháp kỹ thuật như: đưa giống mới vào, tăng cương lượng phân bón, bón đúng thời
kì…
3.2.3. Biện pháp trồng cây ăn quả:
Các loại cây ăn quả thường được bà con trong huyện trồng như: Nhãn, vải,
xoài, dừa, mít,mận…. những loại cây trồng được người dân lựa chọn và trồng từ lâu
Trang
16
nên khá phù hợp điều kiện của huyện. Ngoài ra bà con có thể mạnh dạn đưa các
giống cây ăn quả như ổi tứ quý, táo, cam sành, quýt….trồng thí điểm vì đây cũng là
một trong những loại quả có giá trị kinh tế cao trên thị trường được dân tiêu thụ
nhiều.
3.3. Biện pháp phát triển chăn nuôi:
Để phát triển ngành chăn nuôi của huyện trong những năm tới nhằm góp phần
nâng cao thu nhập cho người dân, cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi như:
Mô hình nuôi lợn cỏ, gà đồi, chăn nuôi đại gia súc tạo thu nhập hàng năm và đồng
thời giải quyết nhu cầu sức kéo cho người dân và nguồn phân bón cho cây trồng.
Cần tiến hành xây dựng và vệ sinh lại cho khu chuồng trại, khu chuồng trại cần
cao ráo thoáng mát sạch sẽ về mùa hề, ấm áp về mua đông.
Thường xuyên tiêm phòng các dịch bệnh cho gia súc, gia cầm vật nuôi theo
đúng định kỳ.
Phát triển theo hướng chăn nuôi tập trung, nhốt, tránh chắn nuôi theo phương
pháp chăn thả tự do và mở rộng các mô hình chăn nuôi trạng trại.
4. Một số giải pháp về kỹ thuật nhằm phục hồi khả năng sử dụng đất đồi
núi tại huyện Quan Sơn.
4.1. Lựa chọn kỹ thuật khai thác sử dụng thích hợp có hiệu quả
Căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết, khả năng vốn đầu tư mà áp dụng
các mô hình sản xuất hợp lý, kết hợp những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội với
Làm đất: Tùy điều kiện của từng vùng cụ thể, nhưng đều có chung cải tạo làm
đất tơi xốp. Do đó, đây cũng là tác nhân gây xói mòn rửa trôi đất. Để giảm thiệt hại
cần cày bừa, phay đất theo đường đồng mức. Thời vụ làm đất cần tính toán đặc điểm
khí hậu của từng vùng để bố trí các loại cây trồng hợp lý, những khu vực đất dốc
không được làm vào mùa mưa để tránh sự rửa trôi các chất dinh dưỡng gây thoái hóa
đất.
Bón phân: Để phục hồi đất trống đồi trọc có hiệu quả kinh tế, sinh thái cần phải
sử dụng thêm phân bón vừa có tính cải tạo đất, tăng hàm lượng các chất hữu cơ
trong đất. Các loại phân bón ưu tiên sử dụng ở đất trống đồi trọc là phân chuồng,
phân xanh, phân vi sinh… Nhằm tái tạo các điều kiện lý hóa tính trên vùng đất trống
đồi núi trọc.
Luân canh, xen canh: Lựa chọn các cây trồng thích hợp để xen canh nhằm tạo
bề mặt đất được che phủ, giữ ẩm cho cây trồng, đồng thời tăng them thu nhập trên
một diện tích canh tác. Đối với các khu vực khai thác trồng cây lâu năm nên trồng
xen cây lâu năm và cây cỏ voi. Thực hiện tốt việc trồng xen cây hàng năm, diện tích
cây hoa màu sử dụng hiệu quả đất, hạn chế sâu bệnh đảm bảo hiệu quả môi trường.
5. Xác lập những kỹ thuật nông lâm kết hợp đặc trưng, phù hợp.
Tùy thuộc vào từng khu vực đất mà ta có hình thức canh tác khác nhau như
phần đất dốc cần có biện pháp trồng xen canh một số loại cây họ đậu để góp phần
cải tạo đất ở các vùng đất bị thoái hóa, đặc biệt là các vườn cây ăn trái.
Với phương pháp canh tác này, các loài cây lương thực được trồng giữa các
băng cây họ đậu hoặc giữa các luống cỏ trên nương bậc thang. Hệ thống này vừa hạn
chế xói mòn vừa giữ được độ phì nhiêu của đất từ năm này qua năm khác. Những
băng cây rừng, cây bụi hoặc dải cỏ được trồng dày có tác dụng như những vật chắn
sống ngăn chặn sự rửa trôi của đất khi có mưa lớn. Những vật chắn sống được hình
thành bằng những đai cây xanh làm cho đất luôn màu mỡ, rễ cây ăn sâu xuống đất
và hút lấy chất dinh dưỡng. Lá cây họ đậu rụng xuống tạo thêm dinh dưỡng cho lớp
đất mặt, ở đây lá cây đóng vai trò như là "phân xanh". Có rất nhiều loại cây có thể
trồng dọc theo đường đồng mức, tuy nhiên cây họ đậu và cây bụi được trồng nhiều
nhất, thông thường đây là những cây mọc nhanh và là nguồn phân xanh rất tốt.
Hóa và các cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp trong tỉnh để đảm bảo việc cung cấp
giống có chất lượng tốt cho bà con.
5.2.2. các giải pháp phát triển nông nghiệp
Đối với sản xuất nông nghiệp cần xây dựng và mở rộng thêm hệ thống tưới tiêu
đến khắp các diện tích đất cấy lúa, đáp ứng nhu cầu sản xuất cho người dân.
Để đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thử nghiệm
trồng các loại giống mới có năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn. Áp dụng các
biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp để hạn chế sự phát triển của sâu bệnh hại…
Đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng cường công tác khuyến nông,
khuyến lâm phát triển các dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ nông sản,
đa dạng hóa cơ cấu cây trồng vật nuôi trên địa bàn huyện, phát triển các giống cây
trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao như cây ăn quả, nông nghiệp, các cây lâm nghiệp
có giá trị kinh tế cao.
Tập trung chỉ đạo sản xuất có hiệu quả, đảm bảo sản xuất đúng thời vụ, lập kế
hoạch phòng trống các thiên tai và dịch bệnh.
Ta nên xây dựng và phát triển mô hình nông lâm kết hợp, sử dụng hiệu quả diện
tích mặt nước để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản.
Trang
19
Cần mở rộng quy mô chăn nuôi, đào tạo tập huấn kỹ thuật chăn nuôi cho người
dân, tiến hành sản xuất giống tại địa phương để giảm bớt chi phí cho chăn nuôi và
trồng trọt.
5.2.3. Các giải pháp về vốn đầu tư
Muốn đáp ứng được nhu cầu về vốn đảm bảo cho các hoạt động diễn ra đúng
tiến độ thì ta cần huy động vốn từ mọi nguồn có thể nhưng nguồn vốn chủ yếu vẫn
là từ hỗ trợ của nhà nước thông qua ngân hang và các chương trình phát triển nông
thôn, đồng thời huy động vốn từ các tổ chức cá nhân quan tâm đến hoạt động sản
xuất nông lâm nghiệp và huy động vốn từ trong dân. Các giải pháp cụ thể để huy
động vốn là :
Phát triển các nguồn vốn trung và dài hạn có lãi suất ưu đãi
Qua quá trình nghiên cứu tôi rút ra một số kết luận sau:
1.Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân tại huyện Quan Sơn
chưa ổn định, nông nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên: Nguồn nước, điều kiện
thời tiết, chưa có áp dụng khoa học kỹ thuật. Hầu hết người dân chưa được tập huấn
về kỹ thuật canh tác.
2. Đối với ngành lâm nghiệp của huyện không đa dạng về chủng loại mà chủ
yếu là rừng vầu, nứa, luồng nguyên nhân là do mưa lớn, đất xấu.
3. Đối với nghề chăn nuôi ở huyện chưa phát triển, còn manh mún, nhỏ lẻ và tự
phát. Trong các trang trại chủ yếu trồng các cây xoài, nhãn, vải, ổi, mận…Và nuôi
các con như dê, gà, lợn… Chăn nuôi còn theo phương pháp cổ truyền( Chăn thả tự
do).
II.Kiến nghị.
1. Đối với UBND huyện.
Tạo điều kiện về nguồn vốn cho bà con như cho vay với lãi suất thấp và thời
gian dài.
Cần triển khai xây dựng mô hình mẫu tại một số địa phương trong huyện, sau
đó giới thiệu, tập huấn cho người dân.
Tăng cường nguồn kỹ sư về các xã để đưa các giống mới và khoa học kỹ thuật
tiên tiến đến với bà con dân bản.
2. Đối với các phòng ban.
Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo vệ tài nguyên
đất, rừng, nước…
Tăng cường hệ thống tưới tiêu cho cây trồng tạo điều kiện cho bà con có đủ
nguồn nước tưới trong sản xuất và sinh hoạt nhằm tránh có diện tích đất bị bỏ hoang
một vụ.
Quan Sơn, ngày 26 tháng 05 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN không sao chép
nội dung của người khác