MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều kiện không
thể thiếu cho hoạt đông sản xuất và đời sống con người. Việc xây dựng kế hoạch sử
dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả lâu dài.Trong
thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước việc sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng tránh gây lãng phí
hạn chế sự hủy hoại đất và tránh phá vỡ môi trường sinh thái. Ngành lâm nghiệp có
tác dụng rất lớn đối với nền kinh tế có nhiều mặt không chỉ cung cấp đặc sản rừng mà
còn tác dụng giữ đất, điều tiết nguồn nước, chống ô nhiễm môi trường, điều hòa khí
hậu, phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và các giá trị cảnh
quan, du lịch, văn hóa…Vậy mà những năm qua dường như con người đã lãng quyên
ý nghĩa quan trọng đó, chỉ tập trung khai thác triệt để thỏa mãn nhu cầu trước mắt
của mình. Đầu tiên là sự khai thác kiệt quệ những loài gỗ quý, có giá trị cao về mặt
kinh tế và thẩm mỹ, làm giảm tính đa dạng sinh học, mất đi nguồn gen sinh vật quý
và những giá trị văn hóa tổn tại trong nó mà còn làm xuất hiện hàng loạt các biến đổi
tiêu cực của khí hậu như hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozon hay sự xuất hiện của lũ
quét gây thiệt hại nặng nề về người và của.
Nước ta là một nước nông nghiệp với dân số khoảng 85 triệu người trong đó
có trên 75% dân số sống dựa vào nông nghiệp nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn,
đặc biệt ở những vùng nông thôn miền núi mà thu nhập của họ chủ yếu từ nông lâm
nghiệp. Nhưng ở nước ta nói chung và ở miền núi nói riêng thì ngành lâm nghiệp còn
kém phát triển, hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn, trình độ canh tác chưa cao
nên dẫn đến năng suất lao động thấp. Hơn nữa nhiều nơi việc sử dụng đất đai còn
nhiều bất hợp lý, việc sử dụng đất mới chỉ dừng lại ở việc lợi dụng mà chưa có biện
pháp cải tạo đất, nâng cao chất dinh dưỡng trong đất nhằm sử dụng đất một cách bền
vững. Do vậy, để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, góp phần nâng cao năng
suất trong sản xuất cho hợp lý. Việc quy hoạch sử dụng đất khu vực nông thôn là việc
làm cần thiết góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân khu vực nông thôn..
Hà Quảng là huyện miền núi, vùng cao, biên giới, nằm về cực bắc của tỉnh
Cao Bằng. Huyện có địa hình bán sơn địa với tổng diện tích tự nhiên là 45.322,66 ha.
1.1 Trên thế giới
Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO), Hiện nay trên toàn thế giới có
khoảng 1,476 tỷ ha đất nông nghiệp. Trong đó có khoảng 65,9% diện tích đất dốc ở
đồi núi và có khoảng 544 triệu ha đất canh tác mất khả năng sử dụng. Để đảm bảo
nhu cầu về nông sản cho con người trên trái đất, ngoài việc nghiên cứu hướng thâm
canh tăng vụ trên cơ sở bố trí các hệ thống cây trồng tối ưu ở các vùng đất bằng, xu
hướng hiện nay trên thế giới là tập trung nghiên cứu, khai thác đất nông nghiệp ở
vùng gò đồi theo hướng cây trồng và bảo vệ đất canh tác trên đất dốc để phát triển
một số cây trồng có nhiều tiềm năng trong phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng
đất dốc.
Các vùng đồi núi trên thế giới có độ dốc đất trên 100 chiếm từ 50-60% diện
tích đất nông nghiệp. Do đó, nghiên cứu khai thác đất nông nghiệp ở vùng đồi núi
thực chất là vấn đề nghiên cứu canh tác trên đất dốc hay canh tác trên nương rẫy,
nghiên cứu quan hệ giữa hệ thống cây trồng trên đất dốc với vấn đề rửa trôi và xói
mòn đất, nghiên cứu ứng dụng hệ thống canh tác nông lâm kết hợp trên đất dốc.
Các nghiên cứu về tình hình và nguyên nhân đất bị xói mòn, thoái hóa mối
liên hệ kiểu sử dụng đất và xói mòn ở một số nước châu Á trong hội thảo tại Nepal
cho rằng: Hệ canh tác truyền thống trên đất dốc theo kiểu du canh gây xói mòn
nghiêm trọng, rửa trôi từ 100-120 tấn đất/năm. Đồng thời khẳng định hệ thống canh
tác ruộng bậc thang và trồng cây theo băng có tác dụng giảm xói mòn rõ rệt, lượng
đất bị rửa trôi chỉ còn khoảng 2-16 tấn đất/năm. Các kết quả nghiên cứu cũng đã đưa
ra bốn nguyên nhân làm thoái hóa đất, nhân tố tự nhiên ( khí hậu, độ dốc) quản lý
kém ( khai thác rừng bừa bãi ) gây cháy rừng và chính sách vĩ mô quyền sở hữu đất
đai, thiếu sự hướng dẫn.
Hạn chế xói mòn và thoái hóa đất là một vấn đề quan trọng được đặt trong
hoàn cảnh hiện nay của thế giới.
Trang
3
1.2 Ở Việt Nam
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, các tập quán canh tác nông lâm
Diện tích tự nhiên (phần đất liền) nước ta khoảng 33 triệu hécta, đứng hàng
thứ 58 trên thế giới nhưng dân số lại đông cho nên bình quân đất đai tính theo đầu
người thuộc loại thấp, chỉ khoảng 0,5 ha/người, là một trong số 40 nước có diện tích
đất đai bình quân tính theo đầu người thấp nhất trên thế giới hiện nay. Đặc biệt là
trong tổng số diện tích đất đai này, có tới hơn hai phần ba diện tích là đất đồi núi dốc,
Trang
4
còn lại gần một phần ba là đất đồng bằng. Tính đến năm 2003, đất đã được sử dụng
cho sản xuất nông lâm nghiệp là gần 17 triệu hecta, chiếm hơn hai phần ba diện tích
là đất đồi núi dốc, còn lại gần một phần ba là đất đồng bằng. Tính đến năm 2003, đất
đã được sử dụng cho sản xuất nông lâm nghiệp là gần 17 triệu hecta, chiếm hơn một
nửa diện tích đất cả nước (51,5%) và được chia ra như sau: Đất nông nghiệp hơn 7,3
triệu hecta, trong đó đất trồng cây hàng năm là 5,6 triệu hecta, cây lâu năm là 1,4
triệu hecta và mặt nước là 0,273 triệu hecta. Đất lâm nghiệp hơn 9, 6 triệu hecta gồm
đất rừng tự nhiên hơn 8,8 triệu hecta và đất rừng trồng gần 0,8 triệu hecta. Như vậy là
tỷ lệ đất đã sử dụng còn thấp, về nông nghiệp mới có 22,3%, trong đó đất trồng cây
hàng năm chiếm đến 17% diện tích tự nhiên. Đất lâm nghiệp có cao hơn chiếm
29,2% nhưng vẫn còn quá thấp so với yêu cầu nhất là về mặt đảm bảo an toàn môi
trường và phòng hộ.
Đất chưa sử dụng còn 14,2 triệu hecta chiếm 43% diện tích tự nhiên trong đó
gần 6,7 triệu ha là đồi núi trọc, chiếm gần 20,3 % diện tích tự nhiên. Đáng chú ý là
trong diện tích đất này có khoảng 10,4 triệu hecta (31,5% diện tích tự nhiên) là có
khả năng sử dụng cho nông lâm nghiệp nhưng đã bị thoái hoá mạnh, đòi hỏi phải có
đầu tư lớn.
Thực trạng nêu trên cho thấy là quỹ đất đai của nước ta quá ít, đất đai được sử
dụng càng ít. Đất trống đồi núi trọc đang bị thoái hoá nghiêm trọng. Điều này ảnh
hưởng đến tính bền vững trong sử dụng đất.
1.3 Tổng quan sử dụng mô hình nông lâm kết hợp ở Việt nam
1.3.1 Mô hình nông lâm kết hợp trên đất gò đồi và trung du
Mô hình này thường xuất hiện ở vùng bán sơn địa thuộc các tỉnh trung du,
pháp kỹ thuật nhằm chống xói mòn, tăng năng suất cây trồng sau đây thường được áp
dụng như sau:
Bảng 1.1 Giải pháp cải tạo đất
Giải pháp kỹ thuật Mô tả
1. Cải tạo đất nơi có địa hình dốc
Hàng rào cây xanh Các loài cây họ đậu, cốt khí, đậu triều,
Làm rãnh chống xói mòn Chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống
Tạo ruộng bậc thang khoảng cách nhỏ Dựa vào kinh nghiệm của địa phương
Cây che phủ (lưu niên) Trồng cây ăn quả lưu niên (Nhãn, ải,
xoài....)
Trồng xen vụ cây lương thực Ngô, đậu, lạc .
Bón phân hợp lý tăng độ phì của đất Bón các loại phân chuồng, phân xanh
2. Thâm canh cây lương thực
Trồng các loài cây lương thực đã được cải
thiện
Các giống ngô, sắn, đậu lạc,………
Bón phân cho cây trồng hợp lý Bón phân hữu cơ
3. Trồng cây ăn quả/ cây lưu niên
Cải tạo các vườn cây ăn quả hiện có Các loài cây bản địa có giá trị kinh tế
Đa dạng các loại cây ăn quả đã được cải
tạo
Trồng thâm canh các loại cây ăn quả
Nguồn: Kết quả nghiên cứu Nông lâm kết hợp vùng Tây Bắc của Dự án LNXH Sông Đà
Trang
6
• Lợi ích có được từ mô hình trên -Rừng trồng sau 5- 10 năm thu được khoảng 50 –
100 m3 gỗ làm nguyên liệu giấy trị giá 10 – 15 triệu đồng, bình quân 1,5 – 2 triệu
đồng/năm, tuy không thu được lợi ngay, nhưng các năm đầu có sản phẩm trồng
xen, cành lá và cây tỉa thưa để bán và đun nấu.
• Nương cũng cho 1 – 2 tấn lương thực quy thóc hàng năm để giải quyết cái ăn
ra xói mòn ở vùng cao.
Trang
7
1.4 Nhu cầu và thách thức đối với phát triển bền vững nông thôn miền
núi
1.4.1 Phát triển bền vững nông thôn và miền núi
Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là quản lý và bảo tồn các nguồn
tài nguyên thiên nhiên và định hướng các thay đổi kỹ thuật và định chế nhằm đảm
bảo thoả mãn các nhu cầu của con người của các thế hệ hiện tại và trong tương lai.
Đó là sự phát triển đảm bảo bảo tồn đất, nước và các nguồn trên động thực vật,
chống xuống cấp về môi trường, phù hợp về kỹ thuật, khả thi vê kinh tế và được xã
hội chấp nhận (FAO,1995). Nói một cách đơn giản hơn, phát triển bền vững chính là
việc sử dụng tài nguyên đáp ứng được các nhu cầu về sản xuất của thế hệ hiện tại,
trong khi vẫn bảo tồn được nguồn tài nguyên cần cho nhu cầu của các thế hệ tương
lai.
1.4.2. Các thách thức
Như vậy, bối cảnh thay đổi trên đã cho thấy một nhu cầu và cũng là một thách
thức lớn cho phát triển bền vững nông thôn và miền núi là:
• Hình thành và phát triển các phương thức quản lý sử dụng tài nguyên thiên
nhiên (bao gồm rừng, đất và nước) một cách tổng hợp trong đó có sự dung hòa giữa
các lợi ích về kinh tế và bảo tồn tài nguyên môi trường.
• Quản lý và sử dụng đất đồi núi có hiệu quả.
• Quản lý và sử dụng đất đảm bảo tính công bằng, được sự chấp nhận của người dân
hình thành và phát triển hệ thống quản lý sử dụng đất được sự chấp chấp nhận của
người dân và các nhóm đối tượng có liên quan khác.
Nông lâm kết hợp là một phương thức sử dụng đất tổng hợp giữ lâm nghiệp
với các ngành nông nghiệp (bao gồm cả chăn nuôi) và thủy sản, có nhiều ưu điểm và
ý nghĩa về bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển kinh tế xã hội được công nhận
rộng rãi trên khắp thế giới.
Trang
Gia tăng mâu
thuẫn trong sử
dụng đất
Phát triển nô
ng
lâm kết hợp
Chiều hướng Sản
xuất đa dạng
Cây lâu năm và hoa màu
được quản lý tổng hợp
tối ưu hóa việc bảo vệ
đất nước trong khi vẫn
thỏa mãn nhu cầu sản
xuất lương thực
Trồng xen hoa màu và
cây lâu năm để tối đa
hóa sức sản xuất trong
điều kiện tài ngyên khan
hiếm
9
thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn ở nước ta. Ưu điểm của
các hệ thống nông lâm kết hợp là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực
phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu đầu vào lớn.
Các sản phẩm từ cây thân gỗ: Việc kết hợp cây thân gỗ trên nông trại có thể
tạo ra nhiều sản phẩm như gỗ, củi, tinh dầu, v.v. Để đáp ứng nhu cầu về nguyên vật
liệu cho hộ gia đình.
Tạo việc làm: Nông lâm kết hợp gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có
tác dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân.
Tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít đòi hỏi về
đầu vào, các hệ thống nông lâm kết hợp dễ có khả năng đến lại thu nhập cao cho hộ
Việc phối hợp các loài cây thân gỗ vào nông trại đã tận dụng không gian của
hệ thống trong sản xuất làm tăng tính đa dạng sinh học ở phạm vi nông trại và cảnh
quan. Chính vì các lợi ích này mà nông lâm kết hợp thường được chú trọng phát triển
trong công tác quản lý vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn
nguồn tiền
• Nông lâm kết hợp và việc làm giảm hiệu ứng nhà kính:
Nhiều nhà nghiên cứu gợi ý rằng sự phát triển nông lâm kết hợp trên qui mô
lớn có thể làm giảm khí CO
2
và các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác (Dioxon,
1995,1996; Schroeder, 1994). Các cơ chế của tác động này có thể là: Sự đồng hóa khí
CO2 của cây thân gỗ trên nông trại gia tăng lượng cacbon trong đất và giảm nạn phá
rừng (Young, 1997).
1.5.4 Một số hạn chế trong nghiên cứu và phát triển nông lâm kết hợp ở Việt
Nam
Có thể chia các hiện thống nông lâm kết hợp ở Việt Nam thành 2 nhóm các hệ
thống nông lâm kết hợp bản địa và các hệ thống nông lâm kết hợp mới được đưa vào.
Một thực trạng đã được chỉ ra và phân tích bởi một số nhà nghiên cứu là trong khi
các hệ thống bản địa hoạt động một cách có hiệu quả, là kế sinh nhai của nông dân từ
nhiều năm nay thì phần lớn các "mô hình" nông lâm kết hợp mới du nhập trong
những năm gần đây bộc lộ nhiều hạn chế về tính hiệu quả, độ bền vững, tính công
bằng và sự chấp nhận của người dân địa phương.
Vấn đề cốt lõi của sự hạn chế này là do các "mô hình" được thiết kế và áp
dụng theo lối suy diễn của người bên ngoài (thường là người miền xuôi), lại thường
được áp dụng một cách đồng bộ nên không phù hợp với các tính huống sinh thái nhân
văn đa dạng và đặc thù của từng địa phương. Việc sử dụng thuật ngữ "mô hình nông
lâm kết hợp" thay vì "hệ thống nông lâm kết hợp hoặc "tập quán/phương thức nông
lâm kết hợp" có thể là nguyên nhân của lối suy nghĩ phát triển theo lối suy diễn đơn
giản -"sao chép và nhân rộng mô hình" trong phát triển nông lâm kết hợp ở nhiều
vùng của nước ta. Hơn nữa, phương pháp tiếp cận nghiên cứu và phát triển nông lâm
12
Giới hạn
-Hạ tầng cơ sở
thiết bị
- trình độ kỹ
năng
- chi phí đầu vào
- nguồn lao động
- thị trường
Lợi ích
- Thực phẩm,
thức ăn gia
súc…..
- Chống xói mòn
- Xã hội ổn định
- Đa dạng sinh
học
1.6 Điều kiện tự nhiên, sinh thái môi trường của địa bàn nghiên cứu
1.6.1 Vị trí địa lý
Hà Quảng là một huyện miền núi,vùng cao,biên giới, nằm về cực bắc tỉnh
Cao Bằng, có đường biên giới giữa việt nam và trung quốc dài 61,7 km. Tổng diện
tích tự nhiên của toàn huyện 45.322,66 ha, với 19 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó,
có 9 xã vùng biên giới.
Tọa độ địa lý .
Huyện Hà Quảng có tọa độ địa lý nằm trong khoảng 105
0
45’ – 106
0
16’ kinh
độ đông và 22
0
c (tháng 7) và tối thiểu là 0
0
c (tháng 12). Lượng mưa
trung bình năm thấp, đạt khoảng 1.800mm tập trung cao nhất vào tháng 7, tháng 8
chiếm 80% (mùa mưa) và thấp nhất vào tháng 1.
Trang
13
Gió mùa đông bắc thooit từ tháng 12 năm trước tới tháng 3 năm sau, mang
không khí lạnh từ phương Bắc đổ về với đặc điểm giá, đôi khi có sương muối, gió
mùa đông nam bắt đầu từ tháng 4 kết thúc vào tháng 11, gây ra mưa lũ. Độ ẩm trung
bình biến động từ 75% - 80%. Cao nhất vào mùa hạ 90% và thấp nhất vào mùa đông
55%.
1.6.4 Thủy văn
Hệ thống sông suối của Hà Quảng phân bố rất không đồng đều. Tiểu vùng cao
hầu như không có sông, suối. sông suối tập trung chủ yếu ở vùng thấp có 3 con sông
suối chính là suối Bằng Giang, suối Lê Nin và suối Phù Ngọc cùng với rất nhiều
nhánh tạo thành mạng lưới thủy văn và cảnh quan thiên nhiên rất đẹp.
Hệ thống hồ thưa thớt, có 2 hồ chính là hồ bản nưa, hồ kẻ hiệt cung cấp nước
cho sản xuất và sinh hoạt. Các xã phân bố ở vùng cao tuy đã được quan tâm làm bể
chứa nước nhưng hiện nay nước cấp sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất
lớn đến sống cũng như sản xuất của nhân dân.
1.6.5 Các nguồn tài nguyên
1.6.5.1 Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 45.322,66 ha, bao gồm những loại đất sau:
- Đất nông nghiệp có diện tích 45.056,88 ha chiếm 92,79 % diện tích tự nhiên của
toàn huyện.
- Diện tích phi nông nghiệp 936,38 ha chiếm 2,07% tổng diện tích tự nhiên toàn
huyện.
- Diện tích chưa sử dụng 2.329,40 ha chiếm 5,14% tổng diện tích tự nhiên toàn
Tổng diện tích lâm nghiệp 34.581,20 ha chiếm 76,30%. Tổng diện tích tự
nhiên của huyện, với thảm thực vật rừng khá phong phú tạo thành quần thể tự nhiên
có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và cũng có một vai trò kinh tế nhất định,
tuy nhiên trong thời gian qua vẫn có một số diện tích đất rừng bị cháy đặc biệt là
những diện tích rừng đặc dụng. Rừng là nơi cung cấp nguyên liệu phục vụ đời sống
và góp phần tô đẹp cảnh quan khu di tích lịch sử pác bó. Trong giai đoạn vừa qua
rừng mới được phục hồi nên chua có đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội
và bảo vệ sinh thái. Trong tương lai cần chú ý tăng diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ
rừng tăng độ che phủ rừng trong toàn huyện đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ tài
nguyên đất, chống xói mòn, bảo vệ sự đa dạng sinh học và điều hòa nguồn nước.
Tài nguyên nhân văn:
Huyện Hà Quảng đã tồn tại và phát triển lâu đời, có nhiều dân tộc anh em sinh
sống như: Tày, Nùng, Mông, Kinh, Dao và các dân tộc anh em khác mỗi dân tôc dều
có bản sắc văn hóa riêng tạo nên một nền văn hóa phong phú và đa dạng cần được
giữ gìn bảo vệ và phát triển.
Hiện nay toàn huyện có khoảng 35,240 người phân bố trên 19 đơn vị hành
chính gồn 18 xã và một thị trấn, trong các thời kỳ chống pháp và chiến tranh biên
giới, nhân dân huyện Hà Quảng đã đống góp nhiều sức người sức của để đánh giặc
ngoại xâm xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước trong cuộc kháng chiến chống
Pháp, Mỹ, và biên giới Trung Quốc con em dân tộc huyện nhà hăng hái chiến đấu lên
đường tòng quân đánh giặc có nhiều bà mẹ việt nam anh hùng tô thêm vẻ đẹp truyền
Trang
15
thống của huyện nhà và quê hương đất nước, trên địa bàn huyện hiện nay vẫn còn
nhiều di tích mang dấu ấn lịch sử văn hóa như: khu di tích lịch sử pác bó, mộ liệt sĩ
kim đồng. Dưới sự lãnh đạo của đảng và nhân dân hiện nay Hà Quảng đang từng
bước phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống nhân dân đi dần vào ổn định, từng
bước được cải thiện đáng kể.
Môi trường cảnh quan
Môi trường Hà Quảng về hiện trạng chưa bị ô nhiễm, tuy nhiên với tốc độ
• Địa điểm: huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
• Thời gian: 6/ 12 / 2010 đến 30/4/2011
• Về lý luận
Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc đề xuất phương án xây
dựng mô hình nông lâm kết hợp.
• Về thực tiễn
Đề xuất phương án xây dựng mô hình nông lâm kết hợp, góp phần cung cấp tư
liệu cho việc xây dựng mô hình của huyện, làm căn cứ phát triển kinh tế xã hội
cho huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
2.2 phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Điều tra khảo sát thực địa.
- Điều tra bổ sung thu thập tài liệu về các loại đất, cơ sở hạ tầng, địa hình.
- Điều tra hiện trạng đất đai tài nguyên rừng, diện tích trữ lượng các loại rừng trên
địa bàn, đặc điểm tài nguyên động thực vật, đặc điểm tình hình sinh trưởng, phát
triển tái sinh phục hồi đất đồi…
- Phỏng vấn người dân về tập quán canh tác, nhu cầu sử dụng đất, cơ cấu các loại
cây trồng vật nuôi.
2.2.2 Hồi cứu số liệu
Thu thập thông tin số liệu từ các nguồn đã có trên địa bàn cũng như các tài
liệu liên quan đến công tác quản lý và cải tạo đất gò đồi tại huyện Hà Quảng, tỉnh
Cao Bằng.
Hình 2.1 Đất gò đồi được canh tác tại địa bàn nghiên cứu
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
Trang
17
3.1 Hiện trạng sử dụng đất gò đồi của huyện Hà Quảng.
Hiện trạng sử dụng đất gò đồi của huyện trong những năm gần đây việc quản
lý đất đai của huyện đang được quan tâm thích đáng. Đang dần đáp ứng được yêu
Nội thôn 62 5,13 0,14
Hồng sỹ 75 6,20 0,16
Kéo yên 69 5,71 0,15
Nguồn: Thống kê đất đai huyện Hà Quảng năm 2010
Trang
18
Qua bảng 3.1 cho thấy sự phân bố diện tích đất đồi trên địa bàn huyện khá
đồng đều. Xã có diện tích đất gò đồi ít nhất là xã Phù Ngọc và Thị trấn xuân hòa
chiếm 0,1 %
3.2 Đặc điểm canh tác trên đất dốc của các nông hộ ở địa bàn nghiên cứu
Qua quá trình thực tế khảo sát tôi có được lát cắt địa hình mô phỏng như sau:
Lát cắt địa hình nghiên cứu tại vùng nghiên cứu:
Hình 3.2 Lát cát tại địa bàn nghiên cứu ( chiếu đứng )
Trang
19
Địa hình
loại đất
nguồn
nước
thực vật
Dốc mạnh
vàng đỏ
mưa
rừng keo
Dốc mạnh
vàng đỏ
Mưa
Rừng keo,
chuối
Dốc mạnh
Đất trống
Rừng, chuối
Đất trống
Rừng, chuối, bưởi
Đất trống
Cây lương thực
Đất trống
Nhà ở
cây ăn trái
Hình 3.4 Đất gò đồi đang canh tác
3.3.3 Trang trại
Theo quá trình khảo sát và điều tra thì nhận định chung là các trang trại ở đây
hoạt động còn rời rạc, chủ yếu của các hộ nông dân tự phát. Nhiều trang tại bị bỏ
giữa chừng vì không có kinh nghiệm, không được tập huấn, nguyên nhân nữa là đất
đai khí hậu khắc nghiệt, thiếu vốn đầu tư nên các hoạt động sản xuất gặp nhiều khó
khăn. Tuy nhiên cũng có một số trang trại thành công và có tính khả thi cao có thể
nhân rộng tại địa bàn nghiên cứu.
Mô hình trang trại tổng hợp
Đây là một trang trại thuộc thôn bản giàng thị trấn Xuân Hòa huyện Hà
Quảng, mô hình trang trại thuộc Vườn - Ao - Chuồng- Rừng (VACR) trang trại có
vườn cây ăn quả như ổi, xoài, cam, nhãn, vải….. Đặc biệt ở mô hình trang trại này đã
trồng được vườn cây ăn quả có năng suất, khoảng cách giữa các cây ăn trái trồng xen
cỏ cho trâu, bò. Trang trại có nuôi bò, trâu, gà thả vườn, heo, ao cá. Rừng cũng không
khác gì với bản địa cây chủ lực của rừng là keo lai và sa mộc.
Trang
21
Hình 3.5 hình mô phỏng trang trại tổng hợp tại dịa bàn nghiên cứu
Ưu điểm: Mô hình này tận dụng được phế thải chăn nuôi, phân từ hoạt động
chăn nuôi có thể bón cho cây, hoạt động này cải tạo đất bằng phân xanh, phân
xoài,ổi, vải….
Trang
23
Hình 3.7 hình mô phỏng trang trại nuôi cá
Ưu điểm: trang trại có xây tường rào bảo vệ, tận dụng được nước tưới tiêu cho
vườn cây ăn trái, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Nhược điểm: Thiếu kiến thức, kinh nghiệm có thể là nguyên nhân chủ yếu dấn
đến thất bại của trang trại.
3.4 Xây dựng và đề xuất mô hình phù hợp cho địa bàn nghiên cứu
Căn cứ vào thực trạng việc khai thác sử dụng đất gò đồi hiện tại của huyện Hà
Quảng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong những năm tới, cũng như khả năng
về lao động và vốn đầu tư là cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp phục hồi khả
năng cải tạo đất gò đồi đem lại hiệu quả kinh tế kết hợp bảo vệ nguồn tài nguyên đất
đai và môi trường làm tăng diện tích đất sản xuất.
3.4.1 các nguyên nhân dẫn đến suy thoái đất
3.4.1.1. Thoái hóa đất do các yếu tố tự nhiên
Do địa hình hà quảng đa phần là đồi, núi nên có độ dốc lớn, phần lớn người
dân canh tác trên đất dốc. Khi thay đổi về khí hậu, sinh thái, đặc biệt là thảm thực vật
dễ dẫn đến hiện tượng xói mòn trượt lở, rửa trôi là suy thoái hóa học, mất chất dinh
dưỡng và chất hữu cơ. Những năm gần đây huyện Hà Quảng luôn phải hứng chịu
ngững trận lũ quét và gấy ngập lụt. Trong tháng 7 năm 2009 lũ quét xảy ra gây cuốn
trôi nhà cửa hoa màu, rửa trôi lớp đất mặt canh tác.
Trang
Vườn cây ăn quả
Cá trắm
0
chiếm 58,2% diện tích vùng đồi núi.
- Trong 10,8 triệu ha đất trống đồi trọc kiểm kê năm 2005 có đến 90,8% ( 9,4 triệu
ha) là đất dốc trên 16
0
.
- Phần lớn đất đồi núi có tầng mỏng < 50cm.
- Lớp phủ tự nhiên thấp: Bình quân 28% so với ngưỡng an toàn là 50%.
- Khả năng chống đỡ kẽm của cây trồng và cây rừng.
- Lớp thảm cành cây khô lá rụng mỏng: dày nhất là 5cm.
- Canh tác chưa hợp lý, chủ yếu trồng chay.
Xói mòn do gió tuy ít phổ biến hơn, nhưng so với đất có thành phần cơ giới
nhẹ cũng có vẻ nghiêm trọng: đất cát ven biển, đất đồi vùng bán khô hạn miền trung,
đất đỏ vàng tây nguyên trong mùa khô, vùng cao miền bắc…
Nguy cơ xói mòn do gió ở việt nam bị chi phối bởi các yếu tố sau:
- Tốc độ gió.
- Thành phần cấp hạt đất.
- Độ ẩm đất và không khí.
- Mức độ che phủ.
- Mức độ cản trở của băng chắn.
Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy đất có rừng che phủ có lượng xói mòn
ít nhất ( khoảng 2- 5 tấn/ha), đất trồng chè theo rãnh đồng mức 3 – 4 tấn/ ha đất trồng
các loại cây ngắn ngày khác có lượng đất trôi khoảng 40 – 100 tấn/ ha tùy theo mức
độ che phủ, trên đất trồng không có lượng che phủ lượng đất trôi lớn nhất 80 – 100
tấn/ha tùy theo loại đất. Thiệt hại do xói mòn và rửa trôi là rất lớn khi đất mất rừng
đưa vào canh tác cây ngắn ngày.
Trang
25