Kỹ thuật nông lâm kết hợp nhằm cải tạo đất đồi núi tại huyện Quan Sơn_SKKN công nghệ THPT - Pdf 25

PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan Sơn là huyện miền núi, vùng cao, biên giới, nằm về cực bắc của tỉnh
Thanh Hóa. Huyện có địa hình bán sơn địa với tổng diện tích tự nhiên là 93.017,03
ha. Trong đó diện tích:
+ Đất nông nghiệp: 82.273,11 ha; chiếm 88,45% diện tích tự nhiên toàn huyện
- Đất sản xuất nông nghiệp: 2.521,16 ha; chiếm 2,71%;
- Đất cho sản xuất lâm nghiệp: 79.682,21 ha; chiếm 85,66%;
+ Đất phi nông nghiệp: 2.688,84 ha; chiếm 2,89%;
+ Đất chưa sử dụng: 8.055,08 ha; 8,66%.
Với hơn 36.636 người sinh sống. Trong đó có 6 xã giáp vùng biên giới và có 4
dân tộc cùng sinh sống đó là: Thái, H.Mông, Kinh, Mường. Do trình độ dân trí chưa
cao, sản xuất manh mún, đời sống gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn kém phát
triển. Tình hình quản lý sử dụng đất đai trong những năm qua còn nhiều bất cập hiệu
quả sử dụng đất chưa cao ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội và
ổn định đời sống nhân dân trong huyện.
Trong khi đó đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều
kiện không thể thiếu cho hoạt đông sản xuất và đời sống con người. Việc xây dựng
kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả
lâu dài.Trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước việc sử dụng đất hợp
lý, có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng
tránh gây lãng phí hạn chế sự hủy hoại đất và tránh phá vỡ môi trường sinh thái.
Ngành lâm nghiệp có tác dụng rất lớn đối với nền kinh tế có nhiều mặt không chỉ
cung cấp đặc sản rừng mà còn tác dụng giữ đất, điều tiết nguồn nước, chống ô nhiễm
môi trường, điều hòa khí hậu, phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh
học và các giá trị cảnh quan, du lịch, văn hóa…Vậy mà những năm qua dường như
con người đã lãng quyên ý nghĩa quan trọng đó, chỉ tập trung khai thác triệt để thỏa
mãn nhu cầu trước mắt của mình.
Đầu tiên là sự khai thác kiệt quệ những loài gỗ quý, có giá trị cao về mặt kinh tế
và thẩm mỹ, làm giảm tính đa dạng sinh học, mất đi nguồn gen sinh vật quý và
Trang

3 100
1
Tổng diện tích đất nông
nghiệp
82.273,1
1 88,45
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 2.521,16 2,71
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 1.543,40 1,66
- Đất trồng lúa 1.195,10 1,28
Trang
2
TT MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT
Năm 2010
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
-
Đất bằng trồng cây hàng năm
khác 348,3 0,37
1.1.2 Đất trồng cỏ 0,97 0,00
1.1.3 Đất trồng cây lâu năm 976,79 1,05
- Đất trồng cây ăn quả lâu năm 976,79 1,05
1.2
Đất lâm nghiệp
79.682,2
1 85,66
1.2.1 Đất rừng sản xuất 48.623,99 52,27
-
Rừng tự nhiên
35.091,0

3.1 Đất bằng chưa sử dụng 426,46 0,46
- Đất đồi núi chưa sử dụng 6.197,88 6,66
Trang
3
TT MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT
Năm 2010
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
3.2 Núi đá không cây 1.430,74 1,54

Đất chưa sử dụng hiện nay là 8.055,08 ha (chiếm 8,66% DTTN) có thể khai
thác cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp và sử dụng vào các mục đích khác.
2. Tổng quan sử dụng kỹ thuật nông lâm kết hợp ở Quan Sơn
2.1 Kỹ thuât nông lâm kết hợp trên đất đồi núi thấp
2.1.1. Hình thức canh tác.
Canh tác theo hình thức mô hình nông lâm kết hợp thường có diện tích đất từ
1,5 - 3 ha cho một hộ gia đình, bố trí trên một phần đồi hay cả quả đồi, cây trồng
trên mô hình này được phân bổ như sau:
* Rừng ở đỉnh và sườn cao, diện tích 1- 2 ha, trồng các loại cây lâm nghiệp như:
Mỡ, bồ đề, bạch đàn, keo để lấy gỗ, giữ nước và ngăn chặn xói mòn, những năm đầu
cây lâm nghiệp còn nhỏ ta có thể trồng xen các cay hoa màu ngắn ngày như dứa, đỗ,
lạc để tận dụng,cải tạo đất, đồng thời chăm sóc và ngăn chặn cỏ dại cho cây trồng
chính.
* Diện tích 0,5 – 1 ha ở sườn đồi để làm nương ta có thể trồng lúa nước theo
phương thức ruộng bực thang, có đào rãnh và đắp bờ đất ngang đốc để giữ nước.
Nhiều nơi đã trồng xen đỗ lạc giữa các hàng cây hoặc các băng cây cốt khí hay cây
gỗ, rộng 1 – 2m cách nhau 10 -15m ngang dốc để giữ nước, làm phân xanh hoặc lấy
gỗ củi.
* Ở chân đồi với diện tích từ 0,2– 0,3 ha, nơi thấp nhất, gần thung lũng, gần

Cải tạo các vườn cây ăn quả hiện có Các loài cây bản địa có giá trị
kinh tế
Đa dạng các loại cây ăn quả đã
được cải tạo
Trồng thâm canh các loại cây
ăn quả
2.1.2. Lợi ích thu về từ các hình thức canh tác trên.
* Lợi ích có được từ rừng trồng sau 5- 10 năm thu được khoảng 45 – 100 m3
gỗ làm nguyên liệu giấy trị giá 9 – 16 triệu đồng, bình quân 1,4 – 2 triệu đồng/năm,
tuy không thu được lợi ngay, nhưng các năm đầu có sản phẩm trồng xen, cành lá và
cây tỉa thưa để bán và đun nấu.
* Lợi ích từ sườn và chân đồi từ việc làm nương dẫy cũng cho 1,2 – 2 tấn lương
thực hàng năm để giải quyết cái ăn hàng ngày. Vườn cung cấp thực phẩm hàng ngày
cho gia đình, ngoài ra còn có thể bán các nông sản, được 1,5 – 3 triệu đồng tiền mặt
mỗi năm để mua sắm các thứ cần thiết. Như vậy là đất đai tuy xấu nhưng đã được sử
dụng hợp lý và tổng hợp, biết áp dụng những biện pháp canh tác đất dốc đơn giản,
có đầu tư cao hơn nhờ biết tận dụng lao động và thời gian tiềm năng sẵn có của gia
đình mà đất đai được cải thiện, duy trì được độ màu mỡ để canh tác được lâu dài
hơn.
2.2 Kỹ thuật nông lâm kết hợp sử dụng ở vùng đồi núi cao
Trang
5
Diện tích đất đai ở khu vực vùng núi cao này chủ yếu là 2 nhóm đất: (1) Đất
nâu vàng, loại đất này có màu phổ biến là nâu vàng, thành phần cơ giới nặng, tầng
đất trung bình và dày thoát nước tốt, hình thát phẫu diện tương đối đồng nhất, cấu
trúc khá tốt và bền. Tuy nhiên một số nơi đất đã bị rửa trôi xói mòn, thoái hoá do sử
dụng không hợp lý đất trở nên khô cằn, nghèo dinh dưỡng. Loại đất này thường
thích hợp với cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp.(2) Đất mùn vàng đỏ trên
núi, loại đất này nằm ở vùng núi cao. Do địa hình cao dốc hiểm trở nên đất thường
bị xói mòn mạnh, mặt khác do quá trình phong hoá yếu nên đa số đất có phẫu diện

thực thực phẩm, có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình. Điển
hình là hệ thống vườn ao chuồng (VAC) được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông
thôn ở nước ta. Ưu điểm của các hệ thống nông lâm kết hợp là có khả năng tạo ra
sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu
đầu vào lớn.
Lợi ích thứ 2 các sản phẩm từ cây thân gỗ: Việc kết hợp cây thân gỗ trên nông
trại có thể tạo ra nhiều sản phẩm như gỗ, củi, tinh dầu, v.v. Để đáp ứng nhu cầu về
nguyên vật liệu cho hộ gia đình.
Lợi ích thứ 3 tạo việc làm: Nông lâm kết hợp gồm nhiều thành phần canh tác đa
dạng có tác dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân.
Lợi ích thứ 4 tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít
đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống nông lâm kết hợp dễ có khả năng đến lại thu nhập
cao cho hộ gia đình. Giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực:
Nhờ có cấu trúc phức tạp, đa dạng được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương
hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống nông lâm kết hợp
thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như
dịch sâu bệnh, hạn hán, v.v.). Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần
giảm rủi ro về thị trường và giá cho nông hộ.
3.3. Các lợi ích từ nông lâm kết hợp trong việc bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và môi trường
3.3.1. Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên đất và nước
Qua nhiều năm nghiên cứu nông lâm kết hợp phối hợp với các kết quả nghiên
cứu về sinh thái học, nông nghiệp, lâm nghiệp và khoa học đất đã cho thấy các hệ
thống nông lâm kết hợp nếu được thiết kế và quản lý thích hợp sẽ có khả năng giảm
Trang
7
dòng chảy bề mặt và xói mòn đất duy trì độ mùn và cải thiện lý tính của đất và phát
huy chu trình tuần hoàn dinh dưỡng, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây
trồng và vật nuôi. Nhờ vậy làm gia tăng độ phì của đất, tăng hiệu quả sử dụng đất và
giảm sức ép của dân số gia tăng lên tài nguyên đất (Young, 1997).

1.1. Vị trí địa lý
Quan Sơn là một huyện miền núi,vùng cao,biên giới, nằm phía Tây Bắc tỉnh
Thanh Hóa, có vị trí địa lý:
từ 21
0
06’15”-20
0
24’30” vĩ độ Bắc;
và 104
0
15’30”-105
0
08’25” kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp huyện Quan Hóa.
- Phía Tây và Nam giáp nước CHDCND Lào.
- Phía Đông giáp huyện: Lang Chánh, Bá Thước.
Huyện Quan Sơn có diện tích tự nhiên 93.017,03ha; Dân số là hơn 36.636
người; Mật độ dân số trung bình là 38,4 người/km
2
; Trên địa bàn huyện có 13 đơn vị
hành chính, bao gồm 12 xã và 1 thị trấn. Quan Sơn có Trung tâm huyện lỵ tại Km
35-Quốc Lộ 217, là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của huyện tuy nhiên kết
cấu hạ tầng còn nhiều hạn chế và cách thành phố thanh hóa khoảng 150km.
1.2. Vị trí địa lý kinh tế.
Huyện có vị trí địa lý chiến lược quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an
ninh của khu vực miền núi và tỉnh Thanh Hóa;
Là vùng đầu nguồn của hệ thống sông Mã, có ý nghĩa rất lớn về vị trí phòng hộ,
tạo nguồn sinh thủy dự trữ nguồn nước, giảm tác động thiên tai và bảo vệ môi
trường, tạo cân bằng hệ sinh thái đối với cả tỉnh;
Trên địa bàn huyện có mạng lưới giao thông đường bộ đi qua như Quốc lộ 217,

Nhiệt độ không khí trung bình năm 23
o
C, nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối
39- 40
o
C vào tháng 5, tháng 7; tối thấp tuyệt đối 2,6
o
C vào tháng 12, tháng 1.
Lượng mưa trung bình năm trên 1900 mm, mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến
tháng 10 (tháng có lượng mưa trên 100 mm). Tháng có lượng mưa < 100 mm là
tháng 12; 1; 2; 3 và tháng 4.
Số ngày mưa 194 ngày/năm, tháng có số ngày mưa nhiều nhất là tháng 6;7; 8

Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm 87%, thấp nhất 84% vào
tháng 5, cao nhất 88% vào tháng 8, tháng 9; Lượng bốc hơi trung bình năm 628,9
mm/năm, cao nhất vào tháng 7 là 78 mm, thấp nhất vào tháng 1 là 40,3 mm; Tổng số
giờ nắng trong năm trung bình là 1.684 giờ; Bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng từ
tháng 7 đến tháng 10, trung bình 2 cơn/năm, thường mang theo mưa lớn gây lũ lụt.
Gió Tây Nam khô nóng trung bình 21,5 ngày/năm (từ tháng 4 - tháng 7);
Giông tố trung bình 99,5 ngày/năm; Gió mùa Đông Bắc trung bình 18 đợt/năm (từ
tháng 10 - tháng 3); Số ngày rét đậm có sương giá trung bình 5,4 ngày/năm; Số ngày
có khả năng sương muối 1,2 ngày/năm (vào tháng 12 và tháng 1); Số ngày mưa
phùn trung bình 48,2 ngày/năm (vào tháng 1-3); Số ngày hanh heo trung bình 11,4
ngày/năm (vào tháng 11-12);
Thuận lợi của khí hậu thời tiết là tổng nhiệt độ năm cao, nhiệt độ không khí
trung bình năm cao, số giờ nắng cao, lượng mưa, ẩm độ lớn thích hợp cho thực vật,
cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Trang
10
Nhưng bất lợi của thời tiết là luợng mưa phân bố không đều, tập trung vào mùa

11
Nhóm đá Trầm tích; có đá Sa thạch, Phiến thạch, đá Vôi.
Từ các nhóm đá mẹ trên kết hợp khí hậu thời tiết đã hình thành nên các nhóm
loại đất khác nhau:
Nhóm đất Feralit trên núi (Fa; Fq; Fv) có màu vàng đến nâu vàng hình thành
trên đá mẹ Mác ma axít, đá Sa thạch, đá Vôi. Nhóm đất Fa; Fq là phổ biến trên địa
bàn tất cả các xã trong huyện.
Nhóm đất mùn Halít trên núi cao (Ha; Hq) phân bố chủ yếu ở các đỉnh núi cao
trên 1000 m.
Nhóm đất Feralit biến đổi do trồng lúa (Fl) phân bố chủ yếu ven đồi do khai
hoang xây dựng đồng ruộng sản xuất lương thực, hoa màu.
Nhóm đất phù sa bồi tụ ven sông, suối (Py) phân bố ven sông Luồng, sông Lò,
suối lớn thuộc đất canh tác trồng lúa, hoa màu.
Nhóm đất dốc tụ chân đồi (D), thường trồng màu, lương thực và trồng rừng.
5.2.Tài nguyên khoáng sản
Theo kết quả điều tra năm 2005 và 2007 ở trên địa bàn huyện Quan Sơn có các
loại khoáng sản sau
Mỏ chì, kẽm ở xã Sơn Thuỷ, Chì, bạc ở xã Sơn Hà, Sắt ở xã Tam Lư, Molipden
ở Mường Mìn, Graphit ở xã Na Mèo, về trữ lượng chưa xác định huyện Quan Sơn
có nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu là đá Vôi, cát sỏi ở ven sông Lò, sông
Luồng.
5.3. Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện nhiều chiếm phần lớn tổng diện tích tự
nhiên của huyện, với thảm thực vật rừng khá phong phú tạo thành quần thể tự nhiên
có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và cũng có một vai trò kinh tế nhất định,
tuy nhiên trong thời gian qua vẫn có một số diện tích đất rừng bị cháy. Rừng là nơi
cung cấp nguyên liệu phục vụ đời sống và góp phần chống xí mòn đất rất tốt Trong
tương lai cần chú ý tăng diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ rừng tăng độ che phủ
rừng trong toàn huyện đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ tài nguyên đất, chống
xói mòn, bảo vệ sự đa dạng sinh học và điều hòa nguồn nước.

là nguồn tài nguyên có giá trị cao về nhiều mặt và không dễ tái tạo phát triển.
5.5.Tài nguyên du lịch
Về danh thắng, trên địa bàn huyện có Động Nang Non ở xã Sơn Lư (tại Km 39,
Quốc lộ 217); núi Pha Dua tại Bản Trung Sơn và Động Bo Cúng tại bản Chanh xã
Trang
13
Sơn Thuỷ, cách thị trấn huyện 31 km về phía Tây theo Quốc lộ 217 và 20 km theo
đường tây thanh hóa về phía bắc, là những danh lam thắng cảnh vùng sơn cước
huyền bí; có thể khai thác cho phát triển du lịch sinh thái.
Về nhân văn, Quan Sơn có nền văn hóa dân tộc với những thiết chế văn hóa
xã hội của người Thái dựa trên lãnh thổ công, thiết chế dòng họ của người
Mông ; những phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt và trong tín
ngưỡng, hội hè cùng với những món ăn đặc sản mang đậm nét của mỗi dân tộc
là những tài nguyên du lịch nhân văn rất hấp dẫn đối với du khách, nhất là các
du khách quốc tế;
Với tiềm năng và vị trí địa lý của mình, Quan Sơn có thể liên kết với các địa
phương trong vùng, cả tỉnh, cả nước và với các tỉnh Bắc Lào hình thành các tua du
lịch xuyên quốc gia và quốc tế.
5.6. Tài nguyên nước
Nước được phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được
lấy từ nguồn nước mặt chủ yếu của huyện là nguồn nội sinh của các sông, suối thuộc
hệ thống sông Mã; trên địa bàn huyện có trên 300 khe, suối lớn, nhỏ thường xuyên
có nước. Việc trữ nước cho sản xuất chủ yếu bằng các đập ngăn nhỏ, hiện trên địa
bàn huyện có trên 40 đập ngăn giữ nước phục vụ phát triển sản xuất và cấp nuớc
sinh hoạt cho nhân dân. Có 2 sông lớn là Sông Luồng và Sông Lò;
Sông Luồng là một nhánh lớn bên hữu ngạn sông Mã có tổng chiều dài 102
km; diện tích lưu vực là 1.590km
2
, đoạn chảy qua huyện dài 48km.
Sông Lò tổng chiều dài sông là: 74,5 km, diện tích lưu vực 792 km

cấp cho thị trường.
Chăn nuôi phát triển chăn nuôi ở huyện có chăn nuôi gia suc như: Trâu, bò,
lợn, dê và chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt ngoài ra còn có một số hộ nuôi thả cá góp
phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập.
Về lâm nghiệp sản xuất hiện nay ở huyện chủ yếu rừng luồng, vầu, nứa và
khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ, vì rừng hiện nay trên địa bàn huyện
đang kì khai thác nên cũng có thu nhập kinh tế về rừng.
Các ngành kinh tế khác: Hiện nay ngành kinh tế của huyện vẫn tập trung vào
sản xuất nông lâm là chủ yếu, các ngành nghề dịch vụ đã có nhưng còn ở quy mô
nhỏ.
III. Kết quả nghiên cứu.
1. Các hình thức canh tác trên địa bàn nghiên cứu
Trang
15
1.1. Nông nghiệp
Các hoạt động nông nghiệp ở đây chủ yếu là lúa, bắp, và cây ăn quả như mít,
mận, nhãn, vải, dừa…Và một số cây công nghiệp như đậu tương, lạc được canh tác
theo phương thức cổ truyền.
1.2. Lâm nghiệp
Trên địa bàn hoạt động lâm nghiệp hiện tại có trồng các loại cây như là keo lai,
luồng, lát, sưa, xoan…. trong đó luồng là loài cây được người dân ưu tiên lựa chọn,
đây là loài cây dễ trồng ít tốn công chăm sóc và thời gian khai thác không quá dài,
giá thành tương đối cao.
1.3. Trang trại
Theo quá trình khảo sát và điều tra tôi nhận thấy hầu hết các trang trại ở đây
hoạt động còn rời rạc, chủ yếu là do các hộ nông dân tự phát. Nhiều trang tại bị bỏ
giữa chừng vì không có kinh nghiệm, không được tập huấn, nguyên nhân nữa là đất
đai khí hậu khắc nghiệt, thiếu vốn đầu tư nên các hoạt động sản xuất gặp nhiều khó
khăn.
2. Các nguyên nhân dẫn đến sự hoái háo đất và thực trạng phát triển các

diện tích đất tự nhiện của huyện.
+ Khả năng chống đỡ kẽm của cây trồng và cây rừng.
+ Canh tác chưa hợp lý, chủ yếu trồng chay.
2.1.3. Thoái hóa đất do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội
Từ năm 2006 đến năm 2010 các chương trình, dự án phát triển kinh tế -
xã hội giảm nghèo trên địa bàn huyện chủ yếu thuộc các chương trình của
Chính phủ như: Chương trình 135, chương trình 134, chương trình 20 trái
phiếu Chính phủ, quyết định 167/2008/QĐTTg, quyết định 160/CP của
Chính phủ, chương trình 5 triệu ha rừng
thì tổng diện tích rừng và độ che phủ
trên địa bàn huyện trở lại đây có sự gia tăng, tuy nhiên sự gia tang chủ yếu là rừng
sản xuất chưa có nhiều giá trị về đa dạng sinh học, trong khi đó diện tích rừng phòng
hộ và rừng đặc dụng gia tăng chậm, nhiều năm có sụ suy giảm. Trên địa bàn huyện
thời gian qua nạn chặt phá rừng vẫn diễn ra phổ biến đặc biệt tại các xã vùng xâu
vùng xa, mất rừng dẫn đến trong mùa mưa đất đai bị xói mòn cộng với phương pháp
canh tác trên đất dốc chưa bền vũng dẫn đến giảm dần năng suất canh tác.
Do bà con áp dụng những biện pháp canh tác bất hợp lý trên đất dốc, kết hợp
với tình trạng khai thác, chặt phá rừng bừa bãi, trái phép tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến
Trang
17
thoái hóa đất tại một số xã, thảm thực vật trên mặt đất không còn khả năng giữ nước
dấn đến tầng đất mặt canh tác bị rửa trôi.
2.2. Thực trạng phát triển các ngành tại huyện.
2.2.1. Nông nghiệp:
Ở huyện Quan Sơn trồng trọt là ngành sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp
trong đó cây trồng chủ yếu là cây lương thực như: Lúa, ngô…. Chính quyền huyện
đã quan tâm, chỉ đạo, tuyên truyền vận động nhân dân đưa giống mới vào sản xuất
và tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật vào thâm canh, tăng cường công tác
khuyến nông, khuyến lâm đến từng cơ sở xã, thị trấn tạo mọi điều kiện về giống,
phân bón và thủy lợi kịp thời cho nhân dân. Xây dựng các mô hình trình diễn để

dụng nguyên liệu đốt là gỗ, củi. Vì vậy nhu cầu gỗ phục vụ cho sinh hoạt là tương
đối lớn.
Ngoài ra ngành chế biến gỗ nội thất hiện nay ngày càng phát triển cần một
lượng gỗ lớn nguyên liệu. Hoạt động sản xuất của các xưởng đũa, tăm cũng cần
lượng nguyên liệu lớn, đã góp phần thúc đẩy phát triển trồng luồng, vầu, nứa nguyên
liệu và các loại gỗ quý như rổi, đinh hương, đinh đá, đinh thối,sến, táu…. tại địa
phương.
2.3. Nhận định chung.
Do Quan Sơn là huyện miền núi vì vậy đất đai của khu vực này có độ dốc phổ
niến là 15
0
trở lên chiếm 97,31% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, nên địa hình
khá hiểm trở, đất có hàm lượng dinh dưỡng nghèo. Khí hậu khắc nghiệt, về mùa hè
luôn chịu ảnh hưởng của gió lào.
Trong những năm gần đây huyện chịu rất nhiều thiên tai do biến đổi khí hậu
toàn cầu, nên các hoạt động sản xuất gặp nhiều bất lợi, người dân ở đây không được
tập huấn hay học cách xây dựng mô hình sản xuất bền vững trên đất đồi nên đất đồi
đang bị thoái hóa do phương thức canh tác cổ truyền như trồng độc canh, đốt rẫy
trước mùa mưa.
3. Đề xuất các biện pháp quy hoach sản xuất nông lâm nghiệp trên đất đồi
núi tại huyện Quan Sơn.
3.1. Biện pháp sử dụng đất đồi của huyện Quan Sơn
Trang
19
Lâm nghiệp là ngành sản xuất chính của người dân huyện Quan Sơn, cũng là
nguồn thu chủ yếu của người dân nơi này vì vậy sản xuất lâm nghiệp có vai trò và ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với đời sống nhân dân trong huyện
Các biện pháp sử dụng đất rừng là tổng hợp các biện pháp như tái sinh, cải tạo,
nuôi dưỡng rừng, kết hợp với các mô hình nông lâm kết hợp để sản xuất, kinh doanh
sử dụng đất đồi một cách có hiệu quả nhất. Đảm bảo cho việc sử dụng đất và kinh

3.2. Biện pháp sản xuất nông nghiệp của huyện.
Khi xã hội ngày càng phát triển dân số tăng lên thì nhu cầu của con người về
lương thực, thực phẩm lại càng cao nhưng diện tích đất sản xuât nông nghiệp lại có
hạn vì vậy để đáp ứng được nhu cầu của con người thì cần những biện pháp nâng
cao năng suất cây trồng.
3.2.1.Biện pháp trồng cây hoa màu.
Trên địa bàn của huyện chủ yếu là đất đồi núi nên phù hợp với những loại cây
trồng như: Rau xanh, ngô, đỗ tương, khoai, sắn, lạc… Đây cũng là những loại cây
trồng được người dân lựa chọn và trồng từ lâu nên khá phù hợp điều kiện địa
phương, đem lại hiệu quả kinh tế khá cao giúp xóa đói giảm nghèo cho người dân.
3.2.2. Biện pháp trồng cây lúa nước
Do thiếu nước nên trên địa bàn huyện vẫn còn diện tích đất canh tác lúa nước
có một vụ còn một vụ bỏ hoang. Vì vậy huyện tạo điều kiện hỗ trợ dân làm hệ thống
nước, để tạo điền kiện cho bà con có thể trồng được hai vụ lúa trên năm hoặc áp
dụng kỹ thuật luân canh cây trồng để tránh diện tích đất bị bỏ hoang, đồng thời tao
them thu nhập, bên canh đó luân canh cây trồng còn có tác dụng cải tạo đất, phòng
trừ được một số loại sau bệnh cho cây trồng vụ sau.
Để phát triển trồng cây lúa nước đạt năng xuất cao, bà con nên áp dụng biện
pháp kỹ thuật như: đưa giống mới vào, tăng cương lượng phân bón, bón đúng thời
kì…
3.2.3. Biện pháp trồng cây ăn quả:
Các loại cây ăn quả thường được bà con trong huyện trồng như: Nhãn, vải,
xoài, dừa, mít,mận…. những loại cây trồng được người dân lựa chọn và trồng từ lâu
nên khá phù hợp điều kiện của huyện. Ngoài ra bà con có thể mạnh dạn đưa các
giống cây ăn quả như ổi tứ quý, táo, cam sành, quýt….trồng thí điểm vì đây cũng là
Trang
21
một trong những loại quả có giá trị kinh tế cao trên thị trường được dân tiêu thụ
nhiều.
3.3. Biện pháp phát triển chăn nuôi:

0

Trang
22
4.2. Kỹ thuật khai hoang
Trong việc bảo vệ chống xói mòn đất thì kỹ thuật khai hoang là rất quan trọng,
những vùng trồng cây lâu năm, nông lâm kết hợp áp dụng hình thức trồng theo băng,
trong quá trình sử dụng tiếp tục mở rộng diện tích vừa có tác dụng che phủ đất, giữ
ẩm cho cây trồng mới và tiết kiệm chi phí khai hoang.
Diện tích đưa vào sản xuất đều áp dụng khai hoang trắng để giảm thiệt hại do
xói mòn rửa trôi đất cần tiến hành trồng xen cây họ đậu, cây cỏ voi theo hàng, theo
đường đồng mức. Đối với vùng trồng cây lâm nghiệp dài ngày đang trong thời kỳ
cần thiết phải kết hợp trồng cây ngắn ngày vừa cho thu hoạch sản phẩm có tác dụng
giữ ẩm và che phủ cho đất.
4.3. Kỹ thuật canh tác
Làm đất: Tùy điều kiện của từng vùng cụ thể, nhưng đều có chung cải tạo làm
đất tơi xốp. Do đó, đây cũng là tác nhân gây xói mòn rửa trôi đất. Để giảm thiệt hại
cần cày bừa, phay đất theo đường đồng mức. Thời vụ làm đất cần tính toán đặc điểm
khí hậu của từng vùng để bố trí các loại cây trồng hợp lý, những khu vực đất dốc
không được làm vào mùa mưa để tránh sự rửa trôi các chất dinh dưỡng gây thoái hóa
đất.
Bón phân: Để phục hồi đất trống đồi trọc có hiệu quả kinh tế, sinh thái cần phải
sử dụng thêm phân bón vừa có tính cải tạo đất, tăng hàm lượng các chất hữu cơ
trong đất. Các loại phân bón ưu tiên sử dụng ở đất trống đồi trọc là phân chuồng,
phân xanh, phân vi sinh… Nhằm tái tạo các điều kiện lý hóa tính trên vùng đất trống
đồi núi trọc.
Luân canh, xen canh: Lựa chọn các cây trồng thích hợp để xen canh nhằm tạo
bề mặt đất được che phủ, giữ ẩm cho cây trồng, đồng thời tăng them thu nhập trên
một diện tích canh tác. Đối với các khu vực khai thác trồng cây lâu năm nên trồng
xen cây lâu năm và cây cỏ voi. Thực hiện tốt việc trồng xen cây hàng năm, diện tích

5.2. Xác định nhu cầu các nguồn lực và các giải pháp thực hiện
Muốn thực hiện được phương án đưa kỹ thuật nông lâm kết hợp, góp phần thúc
đẩy sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển phù hợp với địa bàn của huyện thì cần có
các giải pháp để thực hiện như sau.
Trang
24
5.2.1. Các giải pháp phát triển sản xuất lâm nghiệp
Đối với sản xuất lâm nghiệp để tăng cường công tác bảo vệ diện tích rừng hiện
có, ta cần tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân, nghiêm cấm các
hoạt động khai thác rừng bừa bãi trong thời gian tới.
Cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để làm tăng diện tích rừng khanh
nuôi tái sinh phục hồi và diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn huyện.
Tận dụng các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ từ các chương trình, các dự án phát triển
lâm nghiệp, huy động các nguồn vốn từ trong dân.
Đê đáp ứng đủ được nhu cầu về giống cây lâm nghiệp của bà con trong những
năm tới vì trong những năm tới nhu cầu về giống cây lâm nghiệp là khá lớn vì vậy
để đáp ứng được mục tiêu đã đề ra cần liên hệ với công ty giống lâm nghiệp Thanh
Hóa và các cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp trong tỉnh để đảm bảo việc cung cấp
giống có chất lượng tốt cho bà con.
5.2.2. các giải pháp phát triển nông nghiệp
Đối với sản xuất nông nghiệp cần xây dựng và mở rộng thêm hệ thống tưới tiêu
đến khắp các diện tích đất cấy lúa, đáp ứng nhu cầu sản xuất cho người dân.
Để đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thử nghiệm
trồng các loại giống mới có năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn. Áp dụng các
biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp để hạn chế sự phát triển của sâu bệnh hại…
Đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng cường công tác khuyến nông,
khuyến lâm phát triển các dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ nông sản,
đa dạng hóa cơ cấu cây trồng vật nuôi trên địa bàn huyện, phát triển các giống cây
trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao như cây ăn quả, nông nghiệp, các cây lâm nghiệp
có giá trị kinh tế cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status