Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm
và mưa nhiều.Tổng diện tích đất tự nhiên là 330.910 km
2
(2013) Diện tích đất
đồi núi chiếm khoảng ¾ diện tích cả nước [3]. Với điều kiện khí hậu thuận lợi
làm cho thảm thực vật rừng ở Việt Nam vô cùng phong phú về chủng loại và
đa dạng sinh học cao, đặc biệt đối với cây trồng, vật nuôi có điều kiện để sinh
trưởng và phát triển tốt. Đây có thể coi là một tiềm năng lớn cho phát triển
nông – lâm nghiệp ở nước ta.
Bên cạnh những thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, cũng có nhiều khó
khăn như: Tài nguyên bị suy thoái, thiên tai, dịch bệnh phát sinh nhanh, trình
độ khoa học kỹ thuật của người lao động còn thấp, chủ yếu là lao động thủ
công, đặc biệt là người dân miền núi, trung du, dẫn đến khả năng sử dụng đất
chưa hợp lý, nhất là canh tác trên đất dốc. Nhiều nơi người dân vẫn còn chủ
yếu sản xuất theo phương thức du canh, du cư hay canh tác độc canh làm cho
nhiều nguồn tài nguyên đất bị suy thoái nghiêm trọng, dẫn đến các hiện tượng
xói mòn, rửa trôi… Nhiều diện tích đất lâm nhiệp và đất sản xuất nông nghiệp
bị thoái hóa, giảm độ phì dẫn đến năng suất cây trồng ngày càng suy giảm.
Đứng trước thực trạng đó, trong những năm qua, nhà nước đã hoàn
thành công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn nông thôn miền núi và đưa
ra được một số chủ trương chính sách như : chính sách giao đất giao rừng,
đầu tư vốn, kỹ thuật giúp phát triển nông – lâm nghiệp thông qua các chương
trình dự án của nhà nước.
Để sử dụng tài nguyên đất đai, khí hậu và phát huy vai trò của các cây
trồng, vật nuôi ngày càng một hiệu quả cao thì có nhiều giải pháp và thách
1
thức, trong đó phải kể đến các dạng mô hình sản xuất nông – lâm nghiệp. Một
trong những dạng mô hình sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tận
- Đánh giá được hiện trạng phát triển mô hình NLKH tại xã Dân Tiến,
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá được tiềm năng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
NLKH trên địa bàn xã
- Đề xuất các giải pháp phát triển mô hình NLKH nhằm nâng cao hiệu
quả, tính bền vững và nhân rộng mô hình NLKH.
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu
khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công
việc để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở để
củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động
thực tiễn.
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu đưa ra các giải pháp phát triển NLKH để phát huy
tiềm năng, hạn chế và đáp ứng được mong muốn của người dân, từ đó góp
phần cho các cấp chính quyền trong việc hoạch định các chính sách hỗ trợ
phát triển những hệ thống NLKH có hiệu quả cao nói riêng và phát triển
khinh tế xã hội chung của địa phương.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thập
niên 60 bởi King (1979). Qua nhiều năm, nhiều khái niệm được phát triển để
diễn tả hiểu rõ hơn về nông lâm kết hợp. Sau đây là một khái niệm khác nhau
được phát triển cho đến hiện nay :
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai bền vững làm gia
tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể
nuôi thủy sản. Chúng được kết hợp với nhau đồng thời hay kế tiếp nhau về
mặt không gian và thời gian. Mặt khác có loại hệ thống NLKH cả hai yếu tố
sinh học và kinh tế tác động qua lại lẫn nhau với các bộ phận hợp thành hệ
thống đó”[11].
2.2 Đặc điểm của mô hình NLKH
2.2.1 Đặc điểm NLKH
2.2.1.1 Theo ICRAF
Với định nghĩa trên, một hệ canh tác sử dụng đất được gọi là NLKH
khi nó có các đặc điểm sau:
- Có ít nhất hai loại thực vật (hay thực vật và động vật), trong đó phải
có ít nhất một loại cây gỗ lâu năm.
- Một hệ thống NLKH có ít nhất hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra.
- Chu kỳ sản xuất hệ thống NLKH thường dài hơn một năm.
- Đa dạng về phương diện kinh tế và sinh thái học (bao gồm cả cấu trúc
và chức năng sinh thái học) so với canh tác độc canh.
5
- Có mối quan hệ tương hỗ giữa thành phần cây thân gỗ và thành phần
khác trong hệ thống.
2.2.1.2 Theo Nair
- NLKH là khái niệm chung để chỉ các hệ thống sử dụng đất bao gồm
việc trồng các cây lâu năm kết hợp với cây hoa màu và gia súc trên cùng đơn
vị diên tích.
- Phối hợp giữa tự sản xuất các loại sản phẩm với việc bảo tồn nguồn
tài nguyên cơ bản của hệ thống.
- Chú trọng sử dụng các loại cây địa phương, bản địa đa tác dụng.
- Hệ thống đặc biệt thích hợp cho điều kiện hoàn cảnh dễ bị thoái hóa
và đầu tư thấp.
- Quan tâm nhiều hơn về các giá trị dân sinh xã hội.
- Cấu trúc và chức năng của hệ thống phong phú, đa dạng hơn so với
canh tác độc canh.
đới.Theo Blafozd 1958, nguồn gốc của tên gọi phương thức này là từ địa
phương của ngôn ngữ Myanma. “Taung” nghĩa là canh tác, “Ya” là đồi núi.
Taungya nghĩa là phương thức canh tác trên đất đồi núi, điều đó cũng đồng
nghĩa với phương thức canh tác trên đất dốc[6].
Vào cuối thế kỷ XIX hệ thống Taungya bắt đầu phát triển rộng rãi ở
Myanma dưới sự bảo về của thực dân Anh trong các đồn điền trồng gỗ Tếch
(Tectona Grandis). Người lao động được phép trồng cây lương thực giữa các
hàng cây chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm, phương
thức này sau đó được áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi, những nghiên
cứu phát triển các hệ thống kết hợp này thường hướng vào mục đích sản xuất
7
lâm nghiệp được thực hiên bởi các nhà lâm nghệp với việc luôn cố gắng bảo
đảm các nguyên tắc:
+ Giảm thiểu hoặc không gây tổn hại đến các loài cây trồng là đối
tượng cung cấp sản phẩm chủ yếu trong hệ thống.
+ Sinh trưởng của cây rừng trồng không bị hạn chế bởi cây nông nghiệp.
+ Tối ưu hóa về thời gian canh tác từ cây trồng nông nghiệp sẽ bảo đảm
tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng nhanh của cây trồng thân gỗ.
+ Loại cây rừng trồng có khả năng cạnh tranh với các loại cây nông nhiệp.
+ Tối ưu hóa mật độ để đảm bảo sinh trưởng liên tục của cây trồng thân
gỗ. Chính vì vậy mà các hệ thống này chưa được xem xét như một hệ thống
quản lý sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp (Nair,1987)[16].
Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở châu Á, Châu Phi và khu
vực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối hợp cây thân gỗ với cây nông nghiệp để
nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sản
phẩm phụ khác nhau như: gỗ, củi, đồ gia dụng,
Thông qua sự phát triển những hệ thống NLKH ở các nước trên thế
giới, chúng ta biết được rằng NLKH đã được phát triển từ rất sớm và đã được
các nước chú trọng áp dụng để có được hệ thống NLKH với quy mô và
phương thức kết hợp đa dạng phong phú tạo hiệu quả cao.
Theo Vũ Biệt Linh và cộng sự (1995) canh tác NLKH tạo năng suất
cao với nhiều sản phẩm hàng hóa, bảo vệ được tính đa dạng sinh học của
vùng khí hậu nhiệt đới ẩm[8].
Báo cáo kết quả thực hiện dự án (1997) tại huyện Na Rì Bắc Kạn
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên chủ trì dự án. Xây dựng mô hình áp
dụng tiến bộ KHKT nhằm góp phần ổn định phát triển nông thôn vùng cao.
9
Dự án đã thiết kế 26 mô hình SALT đưa các giống cây ăn quả và đặc sản có
giá trị kinh tế cao như vải, nhãn, hồng không hạt, cam Cây lâm nghiệp
trồng xen với cây họ đậu và cây lương thực . Kết quả cho thấy cây ăn quả vải,
nhãn có tỷ lệ sống 55%, các cây khác có tỷ lệ sống 80- 83% sinh trưởng phát
triển tốt. Qua kết quả đánh giá sơ bộ các hệ thống canh tác NLKH là thành
công , việc chuyển giao tiến bộ KHKT bằng xây dựng mô hình trình diễn là
hướng đi đúng cần được nhân rộng[2].
Các hệ thống NLKH điển hình trong nước đã được tổng kết bởi FAO
và IRR năm 1995.
Các chương trình nghiên cứu để phát triển các hệ thống NLKH được
thực hiện trên quan điểm dựa vào người dân, có người dân tham gia, coi trọng
kiến thức bản địa của người dân địa phương, từ lẽ đó ở Việt Nam hiện nay các
hệ thống NLKH đã trở nên quen thuộc hơn với người dân và đang ngày càng
phát huy hiệu quả sử dụng đất, nước, môi trường sinh thái, tăng năng suất cây
trồng góp phần ổn định cuộc sống nâng cao hiệu quả kinh tế người dân tham
gia[7].
Các tác giả Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình đã
phân hệ thống canh tác NLKH ở nước ta thành 8 hệ thống chính gọi là “hệ
canh tác” là đơn vị cao nhất. Dưới hệ canh tác là “phương thức” hay “kiểu”
canh tác, cuối cùng là hệ thống.
Theo nguyên tắc phân loại này, hệ canh tác NLKH ở Việt Nam được chia
thành 8 hệ sau: hệ canh tác N – L, hệ L – Ng, hệ N – L – Ng, hệ O – CLG, hệ
L – S, hệ cây lấy gỗ đa tác dụng, hệ N – Ng, hệ N – L – S. Các hệ này được
- Lượng mưa trung bình trong năm: 2.000 mm, mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 10, mưa tập trung nhiều vào tháng 6,7 và tháng 8. Tổng lượng mưa
chiếm đến 75% lượng mưa cả năm.
- Nắng : Số giờ nắng bình quân trong năm 1200h/ năm, phù hợp với
một số cây trồng như: cây lương thực, lúa, khoai, ngô , cây lâm nghiệp: keo,
mỡ , cây ăn quả: vải, na, nhãn, quýt , cây nông nghiệp ngắn ngày: cây
thuốc lá
- Chế độ gió: Theo hai hướng chính: Hướng Đông Nam vào mùa mưa
và hướng Đông Bắc vào mùa khô tương đối ổn định. Vận tốc gió trung bình
theo hướng Đông Bắc đạt 1,2 m/s.
2.4.1.3 Các nguồn tài nguyên, khoáng sản
* Đất đai :
Tổng diện tích đất tự nhiên 5.473,83 ha, gồm đất nông nghiệp
4.123,49ha, đất phi nông nghiệp: 281,51ha, đất chưa sử dụng: 1.070,84 ha.
Trong đó:
+ Đất trồng lúa: 414,8ha
+ Đất trồng cây hàng năm: 1.088,98ha
+ Đất trồng cây lâu năm: 209,39ha
+ Đất chuyên dùng: 85,21ha
+ Đất ở: 49,36ha
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 2,07ha
+ Đất sông suối: 144,86ha
Mật độ dân cư: 59 người/ km
2
.
* Tài nguyên rừng:
Dân Tiến có tổng diện tích đất rừng là 2.807,17ha. Trong đó
828,68ha là rừng sản xuất, 1.929,49 là rừng phòng hộ, đây là diện tích rừng
12
cần được bảo vệ chặt chẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
3 Tân Tiến 223 962
4 Đồng chuối 123 570
5 Đoàn kết 187 643
6 Ba Phiêng 44 170
7 Đồng Vòi 66 299
8 Làng Chẽ 197 861
9 Đồng Quán 152 651
10 Làng Mười 174 665
11 Phương Bá 70 290
12 Thịnh Khánh 83 345
(Nguồn: Theo số liệu thống kê của xã Dân Tiến, 2013)
2.4.2.2 Lao động
Theo kết quả điều tra dân số tính đến năm 2013, dân số toàn xã là
6.500 người với 1513 hộ, tổng số lao động là 3.277 người chiếm 50% dân số
toàn xã. Trong những năm qua, công tác dân số thu được những kết quả nhất
định, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,4%. Nguồn lao động tuy đông
nhưng thiếu về chất lượng, số lượng lao động trong nông nghiệp chiếm số
lượng lớn.
Bảng 2.2 Tổng hợp cơ cấu lao động xã Dân Tiến năm 2013
Cơ cấu Số lượng ( người) Tỷ trọng %
Trong độ tuổi LĐ 3.277 100
LĐ nông nghiệp 2.294 70%
LĐ dịch vụ thương mại 983 30%
LĐ khác
(Nguồn: Theo số liệu thống kê xã Dân Tiến năm 2013)
15
2.4.2.3 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông :
Toàn xã hiện có 22 tuyến giao thông nông thôn, tổng chiều dài
100,8km, trong đó rải nhựa mặt đường 12km và bê tông hóa là 3,2 chiếm tỷ lệ
ngày và chợ phiên.
* Bưu điện :
Hiện nay đã có 1 bưu điện văn hóa xã. Số máy điện thoại cố định năm
2010 đạt 420 máy, mật độ đạt 40 máy/ 100 hộ dân.
Xã đã có tủ sách pháp luật đặt tại Trụ sợ UBND xã, song số lượng
người dân đến tìm đọc còn hạn chế.
Mạng đường truyền internet trên địa bàn xã đã đến 12/12 xóm, có 40
hộ sử dụng mạng internet (số liệu năm 2013).
* Hiện trạng nhà ở nông thôn:
Hiện trên địa bàn xã có 956 hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn đạt tỷ lệ
61,28% so với tổng số hộ, có 30 hộ có nhà tạm (chiếm tỷ lệ 1,92 so với tổng
số hộ).
Trong những năm qua, huyện Võ Nhai cùng với các xã đã tập trung đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp như kiên cố hóa
kênh mương, đập chứa nước, tăng cường việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi, tích cực chuyển giao khoa học kỹ thuật chọn cây giống, con phù hợp có
năng suất cao, chất lượng tốt. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 5452
tấn/năm, trong đó thóc 2.240 tấn/năm.
17
Bảng 2.3 Hiện trạng kinh tế xã Dân Tiến năm 2013
STT Thành phần Số lượng ( hộ) Tỷ trọng (%)
1 Hộ làm nông nghiệp 1.113 70
2 Hộ làm dịch vụ, thương mại 477 30
3 Hộ phi nông nghiệp
Tổng 1.590 100
(Nguồn: Theo số liệu thống kê xã Dân Tiến năm 2013)
2.4.3 Hiện trạng sử dụng đất
Bảng 2.4 Hiện trạng sử dụng đất xã Dân Tiến năm 2013
STT Mục đích sử dụng đất Mã Diệc tích (ha) Cơ cấu (%)
3.1.2 Điạ điểm tiến hành nghiên cứu
Xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
3.1.3 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014.
3.2 Nội dung nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu của đề tài nghên cứu, tôi tiến hành nghiên cứu
những nội dung sau :
- Điều tra hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu
vực nơi tiến hành nghiên cứu.
- Khảo sát đánh giá chung tình hình sản xuất, thống kê phân loại hệ
thống NLKH tại khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu hiện trạng những hệ canh tác NLKH đang có trên địa
bàn khu vực nghiên cứu.
- Xác định những tiềm năng và hạn chế trong việc phát triển những
hệ canh tác NLKH hiện có trên địa bàn.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển những hệ canh tác
NLKH tại xã Dân Tiến.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thu thập số liệu và giải quyết những vấn đề trong nội
dung đề tài đưa ra, tôi áp dụng những phương pháp sau:
3.3.1 Công tác ngoại nghiệp
3.3.1.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có chọn lọc
Thu thập những số liệu có sẵn ở địa phương liên quan đến khóa luận
tốt nghiệp như : Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử dụng đất đai,
các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tế về sử dụng đất và tài liệu NLKH đã
19
được công bố, các báo cáo về hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp tại địa bàn
điều tra.
Để tìm hiểu thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của
xã Dân Tiến. Cần đến liên hệ với cán bộ chuyên trách về mảng NLKH tại
Để thu thập một số thông tin cần thiết trong quá trình điều tra, nghiên
cứu tôi tiến hành họp với một số chủ hộ, trưởng thôn, phụ nữ, cán bộ KNKL
trong xã cũng như trong thôn. Thông qua quá trình này có thể thu thập các
thông tin như hoàn thành sơ đồ VENN về vai trò của các tố chức xã hội tại
địa phương, phân tích sơ đồ SWOT, tìm ra những thuận lợi, khó khăn, dự
kiến hoạt động, đánh giá lựa chọn cây trồng vật nuôi trên địa bàn xã.
3.3.2 Công tác ngoại nghiệp
* Tổng hợp và phân tích số liệu, thông tin thu thập vào bảng biểu.
* Nghiên cứu và thiết kế bảng một cách khoa học để tỏng hợp số liệu.
* Phân nhóm các hệ thống theo mức thu nhập/ha bằng phương pháp
chia nhóm, ghép tổ theo công thức kinh nghiệm của Brook Caruther.
Số tổ: m=5lgn
Cự ly tổ: K=(X
max
– X
min
)/m
Trong đó m là số tổ
n là số hộ điều tra
K là cự ly tổ
X
max
, X
min
lần lượt là giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của
mức thu nhập hộ điều tra.
+ Hiệu quả của hệ thống NLKH/Năm (H)
H = A+B+C+D
Trong đó :
21
mang lại hiệu quả cao, tận dụng được khả năng của đất đai và còn tạo được
công ăn việc làm, giải quyết cho số lao động dư thừa. Đồng thời hệ thống sản
xuất còn có tác dụng bảo vệ đất và môi trường. Mặc dù mới chỉ thật sự phát
triển từ mấy năm trở lại đây nhưng hệ mô hình NLKH bước đầu đã mang lại
hiệu quả kinh tế đáng kể làm đổi mới bề mặt kinh tế của xã và cải thiện đời
sống của bà con nhân dân.
Trước tình hình sản xuất của người dân như vậy, cán bộ xã cũng đã
thấy rõ đây là một vấn đề quan trọng trong sản xuất nên họ đã chú trọng và
thường xuyên tổ chức những buổi tập huấn, thảo luận, trao đổi kinh nghiệm,
23
tuyên truyền, truyền đạt tiến bộ KHKT đã được học cho người dân ứng dụng
vào thực tiễn sản xuất.
Tại địa bàn xã Dân Tiến hiện nay có rất nhiều mô hình NLKH và phát
huy hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên, còn tồn tại một số hạn chế nên các hệ thống
được xây dựng chưa hoàn thiện, việc quản lý hệ thống còn tồn tại một số bất
cập VÌ vậy cần có những giải pháp phù hợp góp phần thúc đẩy các mô hình
NLKH ngày càng mở rộng và phát triển.
Qua quá trình điều tra, phỏng vấn 35 hộ gia đình tôi có kết quả sau:
(xem phụ lục 01)
Qua bảng ta thấy mô hình Rừng- Vườn- Chuồng- Ruộng có số tham gia
nhiều nhất, với tổng thu nhập ở mức trung bình từ 40-65 triệu đồng/năm. Vì
mô hình này có nhiều nguồn thu nhập khác nhau như từ rừng, vườn đồi, vườn
nhà, chuồng, cây ăn quả và ruộng. Mô hình này có các thành phần liên kết
chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, đồng thời được nhiều người dân áp
dụng và phát huy sản xuất, chọn làm mô hình chính cho kinh tế hộ gia đình.
Dạng mô hình Rừng – Vườn – Ruộng cũng khá phổ biến ở địa bàn xã.
Đây là hệ thống mô hình mà người dân chủ yếu phụ thuộc vào rừng. Phần lớn
thời gian đầu tư và đầu tư của họ cho sản xuất lâm nghiệp và sản phẩm thu
nhập chính là gỗ, ngoài ra có cây hoa màu, lúa gạo và cây công nghiệp như
chè không có nhiều vốn đầu tư cho chăn nuôi.
lớn hơn nhiều so với các thành phần khác, chi phí cho làm vườn và ruộng là ít
và chiếm tỷ lệ nhỏ.
25