Tìm hiểu thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp khắc phục ở làng nghề miến dong Việt Cường xã Hóa Thượng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐINH PHÚ NAM

Tên đề tài:

TÌM HIỂU THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP KHẮC PHỤC Ở LÀNG NGHỀ MIẾN DONG VIỆT CƯỜNG
XÃ HÓA THƯỢNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Ðình Thi
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm



Sinh viên
Đinh Phú Nam DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Các từ viết tắt Diễn giải nội dung
BOD Nhu cầu oxy sinh hóa
KH & CNMT
Khoa Học và Công Nghệ Môi Trường
BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
COD Nhu cầu oxy hóa học
TTCN Tiểu Thủ Công Nghiệp
CNH-HĐH Công Nghiệp Hóa-Hiện Đại Hóa
NSTP Nông Sản Thực Phẩm
KHCN&MT Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
SXCN Sản Xuất Công Nghiệp
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
LTTP&VLXD
Lương Thực Thực Phẩm và Vật Liệu
Xây Dựng
PTSXTTCN
Phương Thức Sản Xuất Tiểu Thủ Công
Nghiệp
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
SXCN Sản Xuất Công Nghiệp
trong điều kiện môi trường như vậy, người dân ở các làng nghề phải đối mặt với
những căn bệnh mang tính nghề nghiệp, sức khoẻ bị ảnh hưởng. ở làng nghề
giấy Phong Khê (Bắc Ninh) có 30% dân số bị mắc bệnh về da liễu, hô hấp và

đường ruột. Tại làng nghề Bát Tràng qua khảo sát 223 người dân thì có 76 người
mắc bệnh đường hô hấp, 23 người bị lao. Còn tại làng nghề tái chế kim loại tỷ lệ
người mắc bệnh hiểm nghèo như ung thư, dị tật bẩm sinh tương đối cao.
Trong cơ cấu làng nghề nói chung, làng nghề miến dong là 1 trong những
làng nghề có vị trí quan trọng. Hoạt động của các làng nghề miến dong tạo ra giá
trị về mặt kinh tế, xã hội . Sự đổi mới trong chính sách kinh tế xã hội của đất
nước đã tạo điều kiện cho nhiều làng nghề miến dong có cơ hội phát triển, mở
rộng sản xuất, mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Làng nghề với những hoạt động phát triển đã gây ra tác động tích cực và
tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội , môi trường và mang đặc thù đa dạng, các
loại chất thải đặc biệt là nước thải gây ô nhiễm nặng nề trong một số khu vực.
Đối với nước thải từ các cơ sở miến dong thông thường còn chứa nhiều hóa chất
còn lại trong đó. Vì vậy nước thải có pH, COD, TS, SS, BOD
5
, độ màu cao đến
rất cao.
Làng nghề miến dong Việt Cường xã Hóa Thượng huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên là một làng nghề miến dong điển hình về xây dựng nông thôn mới
tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay các cơ sở miến dong ở Việt Cường đã được tập
trung lại. Tuy nhiên hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xử lí ô nhiễm môi trường ở đây
còn rất lạc hậu. Hàng ngày các cơ sở nghiền bột xả ra môi trường khoảng 900 m
3

nước thải với hàm lượng COD lên đến hàng trăm mg/l. Các loại hóa chất tẩy
trắng còn lại trong nước thải đã gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường nước
trong khu vực xóm Việt Cường. của xã Hóa Thượng. Ô nhiễm môi trường đã

vụ cho công tác sau này. PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Quy hoạch môi trường
2.1.1. Khái niệm và tiêu chí làng nghề
“Làng nghề” là các làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công,
phi nông nghiệp chiến ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề
nông. Có nhiều hình thức làng nghề: Làng một nghề làng nhiều nghề, làng nghề
truyền thống, làng nghề mới.
Có nhiều ý kiến khác nhau nhưng nói chung đều thống nhất một số điểm
chủ yếu sau [2]:
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ nghề phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên
50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm.
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên,
trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất từ 50% so
với tổng số hộ và lao động ở làng nghề.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng nghề sản xuất mang tính đặc thù của
làng và do người làng tham gia.
2.1.2 Đặc điểm chung của làng nghề
Mỗi làng nghề tuy có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công
nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau:
-Quy mô sản xuất nghề nhỏ (gia đình, thôn, xóm), trình độ thủ công, thiết
bị chắp vá, lạc hậu, cơ sở sản xuất xen lẫn trong khu dân cư.
- Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có quan
hệ gia đình dòng họ, được đào tạo theo kiểu kinh nghiệm “cha truyền con nối”.
- Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ, thăng trầm
phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.

thôn phát triển đã tạo thêm việc làm mới, thu hút thêm lao động. Do đó ngành

nghề nông thôn được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động ở
nông thôn,
Với tốc độ phát triển 8% tính theo giá trị đầu ra, sự phát triển làng nghề đã
nâng cao thu nhập của người dân làng nghề gấp 3- 4 lần so với hoạt động sản
xuất nông nghiệp. Trên cơ sở tạo ra việc làm, tăng thêm thu nhập, làng nghề
nông thôn được coi là động lực làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn theo
hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người dân.
Các làng nghề ở nông thôn phát triển đã tạo ra một khối lượng hàng hoá
đáng kể, đáp ứng kịp thời nhu cầu đa dạng của đời sống nhân dân, góp phần
quan trọng vào việc phát triển kinh tế địa phương và tăng kim ngạch xuất khẩu.
Thị trường trong nước và ngoài nước được mở rộng đã có tác dụng kích thích
sản xuất và phát triển. Nhiều doanh nghiệp và hộ sản xuất trong làng nghề đã
kinh doanh đúng pháp luật, có hiệu quả và tạo ra nhiều loại sản phẩm đảm bảo
chất lượng, có uy tín cao trên thị trường trong và ngoài nước như đồ gỗ Đồng
Kỵ, tái chế sắt Đa Hội, chạm bạc Đồng Xâm,… Mặt khác, hàng năm các làng
nghề tạo ra việc làm tại chỗ cho hàng vạn lao động và thu hút hàng trăm lao
động nông nhàn ở các vùng phụ cận.
Các làng nghề đã góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế mở rộng nông thôn và xoá đói giảm nghèo. Nhiều vùng nông thôn có
làng nghề phát triển đã có nhiều thay đổi về đời sống. Gần như 100% các xã có
làng nghề đều có điện lưới, đường ô tô tới trung tâm xã, có điện thoại, trạm y tế
xã, phổ cập giáo dục tiểu học,… nhà ngói, nhà mái bằng. Đời sống nhân dân
được cải thiện rõ rệt so với nhân dân ở vùng thuần nông.
Như vậy, làng nghề phát triển là động lực làm chuyển dịch cơ cấu xã hội
nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người
dân, góp phần vào công cuộc CNH nông thôn.[4]
2.2. Những vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề


cho phép. Tuy nhiên mức độ ô nhiễm các môi trường nước, không khí, đất do

sản xuất ngành nghề gây ra là không giống nhau giữa các phân ngành. Mức độ ô
nhiễm diễn ra phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất tính chất sản phẩm và thành phần
chất thải ra môi trường
Để tìm hiểu vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất ngành nghề một cách
đầy đủ hơn chúng tôi tìm hiểu theo các nhóm nghề. Theo cách này hiện trạng ô
nhiễm ở các làng nghề được thể hiện như sau:
- Hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề chế biến NSTP
Chế biến nông sản thực phẩm là ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải ra
một lượng nước không nhỏ giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường, như nước
thải của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn có hàm lượng ô nhiễm rất cao (COD =
13.300 - 20.000mg/l; BOD
5
= 5.500 - 125.000mg/l). Nước thải cống chung của
các làng này đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 5-32 lần. Đặc trưng nước thải của
một số làng nghề chế biến NSTP cho thấy chất lượng môi trường nước tại các
làng nghề là rất đáng lo ngại.
Cho đến nay phần lớn nước thải tại các làng nghề hầu hết đều thải thẳng ta
ngoài không qua bất kỳ khâu xử lí nào. Nước thải này tồn đọng ở cống rãnh
thường bị phân huỷ yếm khí gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đất gây
ô nhiễm môi trường đất và suy giảm chất lượng nước ngầm. Chất lượng nước
ngầm tại các làng nghề chế biến NSTP phần lớn đều có dấu hiệu ô nhiễm với
hàm lượng COD, TS, NH
4
+
trong nước giếng cao. Nước giếng của làng Tân Độ
và Ninh Vân còn nhiễm vi khuẩn Colifom, đặc biệt nước giếng của làng nghề
sản xuất nước mắm Hải Thanh (Thanh Hoá) đã bị ô nhiễm nghiêm trọng (COD =
186 mg/l), người dân trong làng phải mua nước ngọt ở nơi khác để sử dụng.

phương một phần xỉ than được dùng làm vật liệu xây dựng, san lấp đường đi,
đóng gạch… phần còn lại thải không đúng quy định vào môi tường, điều này sẽ
ảnh hưởng đến môi trường. [8]
- Hiện trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề sản xuất vật liệu xây
dựng và khai thác đá
Các làng sản xuất vật liệu xây dựng ở nước ta hiện nay, công nghệ sản xuất
còn thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp, lao động giản đơn là chủ yếu, sản xuất vật liệu
tiêu thụ một lượng rất lớn nhiên liệu là than và củi.
Ở các làng này mức độ ô nhiễm không khí là nghiêm trọng nhất. Bụi phát
sinh từ các quá trình khai thác, gia công nguyên liệu , vận chuyển vào lò, ra lò và
bốc dỡ sản phẩm, hoạt động giao thông là rất lớn. Khói độc và sức nóng toả ra từ
các lò nung, tiếng ồn do hoạt động giao thông làm cho môi trường không khí bị
ô nhiễm nặng ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ người dân, cây cối và hoa màu.
Đề tài KC 08-09 đã tiến hành khảo sát tại một số làng nghề điển hình và
đã cho thấy hàng năm các làng nghề thải ra môi trường một số lượng lớn các
chất gây ô nhiễm không khí. Nồng độ bụi ở các khu vực khai thác chế biến đá ở
Tràng Thạch - Đà Nẵng thường xuyên vượt TCCP từ 3-5 lần và tiếng ồn thường
xuyên ở mức cao từ 80 – 95dBA.

Tại làng Hương Vĩ (Bắc Giang) là nơi có 320 lò nung vôi hoạt động, hàm
lượng khói, bụi tại đây cao hơn tới 12,7 lần TCCP, khí NO
2
, CO
2
cao hơn TCCP
0,4 lần, hầu hết nguồn nước sinh hoạt đều không đạt TCCP, do hoạt động của
các phương tiện giao thông chuyên chở ở đây cũng gây ta tiếng ồn khó chịu.
Ở khu lò gạch Khai Thái (Hà Tây) nồng độ bụi vượt TCCP từ 3 – 5 lần
SO
2

Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai hàng năm thải ra khoảng 455000 m
3

nước thải; hàm lượng COD 120 mg/l (vượt TCCP 1,2 lần); BOD
5
68 mg/l (vượt
TCCP 1,3 lần). [1]
- Hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề dệt nhuộm
Cũng như các làng nghề chế biến NSTP, vấn đề ô nhiễm môi trường nước
là vấn đề lớn nhất đối với các làng nghề dệt nhuộm. Đây là ngành sử dụng nhiều
nước, nhiều hoá chất, thuốc nhuộm. Thông thường khoảng 30% thuốc nhuộm và
85-90% hoá chất còn lại trong nước thải vì vậy nước thải có pH, COD, TS,
BOD, độ màu rất cao.[1]
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ
Trong cơ cấu làng nghề nói chung, làng nghề thủ công mỹ nghệ chiếm một
vị trí quan trọng. Hoạt động của các làng này không chỉ tạo ra những giá trị về
mặt kinh tế xã hội, mà còn tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần sâu sắc. Tuy
nhiên, hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường ở một số làng nghề thủ công mỹ
nghệ đang là vấn đề hết sức bức xúc, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường
nước và không khí.
Đối với môi trường nước, loại hình gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
nhất là các làng nghề sơn mài và chạm bạc. Lượng nước tiêu thụ tuy không lớn,
nhưng có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao. Làng nghề sơn mài Hạ Thái (Hà
Tây), nơi có 60% số hộ làm nghề sơn mài truyền thống, hàm lượng COD, BOD
5

và SS đo được tại các điểm trong làng đều cao hơn TCCP từ 1,8 - 3,5 lần. Làng
nghề chạm bạc Đồng Xâm - Thái Bình hàm lượng một số chỉ tiêu đo được trong
n ước th ải nh ư sau: CN
-

Các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất ở các làng nghề đã và đang
gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, làm suy thoái môi trường và tác
động trực tiếp đến sức khoẻ của người nhân dân.
Có thể tóm tắt một số bệnh tật điển hình đối với dân cư làng nghề như sau:
+ Bệnh điếc nghề nghiệp
+ Bệnh tai - mũi - họng nghề nghiệp
+ Bệnh hô hấp nghề nghiệp
+ Bệnh ngoài da nghề nghiệp
+ Bệnh mắt nghề nghiệp
+ Bệnh thần kinh nghề nghiệp
Các làng nghề khác nhau, các triệu chứng bệnh nghề nghiệp và tỷ lệ số
người mắc bệnh nghề nghiệp thường rất khác nhau. Ở các làng nghề cơ khí, đúc,
sản xuất nguyên, vật liệu,… do sử dụng lượng than lớn nên tỷ lệ người mắc các
bệnh phổi, phế quản cao; làng nghề tẩy nhuộm vải sợi, mạ kim loại sử dụng
nhiều hoá chất độc hại, kim loại nặng thì tỷ lệ người bị bệnh ung thư cao, tuổi
thọ giảm; làng nghề gây ô nhiễm nguồn nước như chế biến lương thực, mây tre

đan, chế biến gỗ thì tỷ lệ người mắc các bệnh ngoài da, bệnh mắt hột, bệnh phụ
khoa tăng; làng nghề gây tiếng ồn lớn thì tỷ lệ người mắc bệnh thần kinh, bệnh
não cao, tuổi thọ giảm.
Theo kết quả điều tra của Bộ y tế năm 2003 tại 30 cơ sở làng nghề thuộc 3
tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định phổ biến là mỹ nghệ, mây tre đan, dệt
may, chế biến LTTP và VLXD, bệnh tật trong các hộ gia đình làng nghề là đau
lưng, đau cột sống, đau bụng, hội chứng dạ dày, viêm phế quản, viêm phổi, viêm
da, dị ứng, đau mắt,… Các nguy cơ mà người lao động tiếp xúc tại làng nghề ở
Bắc Ninh: 95% tiếp xúc với bụi, 85,9% với nóng, 59,65% với hoá chất, 58,9%
tai nạn.Tại làng nghề đúc nhôm, chì, kẽm Văn Môn, bệnh hô hấp (44,4%) bệnh
da liễu (13,45) trong tổng số người điều tra.
Theo số liệu của Trạm Y tế xã Chỉ Đạo ( Văn Lâm - Hưng Yên), nơi có
làng nghề tái chế chì Đông Mai, thì tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm

trọng hơn.[6]
- Công nghệ sản xuất và thiết bị
Các loại công nghệ và các thiết bị được sử dụng tại các làng nghề hiện nay
phần lớn ở trình độ thủ công, lạc hậu, chắp vá, tay nghề thấp. Theo điều tra của
Viện khoa học và Công nghệ môi trường thì hiện nay hầu hết các thiết bị để sản
xuất của các làng nghề đều được chế tạo từ những năm 1950 - 1960 và chủ yếu
đều được mua lại từ các doanh nghiệp đã thanh lí. Ví dụ tại làng nghề Vạn Phúc,
gần 100% là máy sản xuất và chế tạo tại Việt Nam từ những năm 1950 vẫn còn
tồn tại đến ngày nay.
Công nghệ sản xuất nêu trên không chỉ làm hạn chế năng suất chất lượng
sản phẩm của các cơ sở ngành nghề mà còn trực tiếp gây ra các hệ quả xấu về
môi trường. Hiệu suất sử dụng nhiên liệu không cao, trung bình khoảng 60% (
50% đối với ngành nghề chế biến NSTP, 60% đối với ngành tái chế chất thải,
80% đối với ngành dệt nhuộm và may mặc, 90% đối với ngành thủ công mỹ

nghệ xuất khẩu). Các loại vật liệu không được tận dụng, điển hình là ở các làng
nghề chế biến lương thực thực phẩm, bã thải rắn sau sản xuất vẫn chứa một
lượng lớn tinh bột, vừa gây lãng phí vật liệu, vừa gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng do thải ra một lượng lớn các chất hữu cơ.[4]
- Vốn đầu tư
Một mặt, do sản xuất tự phát nên không có kế hoạch lâu dài khó khăn
trong việc huy động tài chính và vốn đầu tư từ các nguồn lớn (Quỹ tín dụng,
ngân hàng.Mặt khác, tình trạng thiếu vốn đầu tư vẫn còn tồn tại khá phổ biến. Số
hộ thiếu vốn hoặc có nhu cầu vay vốn ở nhiều xã nghề, làng nghề chiếm tới 60 -
70%. Tuy nhiên, khả năng, nhu cầu và điều kiện về tài chính, vốn đầu tư của các
hộ là rất khác nhau giữa các loại hình ngành nghề giữa các xã nghề, làng nghề. Ở
các làng nghề phát triển nhu cầu vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của các hộ
ngành nghề kiêm nông nghiệp thường khoảng 25-30 triệu đồng. Còn ở các làng
nghề làm đồ mây tre, đan lát, chế biến nhỏ thực phẩm, thêu ren, dệt chiếu
cói,…nhu cầu về vốn đầu tư là 5 triệu đồng/ 1 hộ. Do vậy, không chủ động sản

không, hoặc là chỉ gián tiếp liên quan tới môi trường làng nghề. Bên cạnh sự
thiếu hụt về chính sách quản lí vĩ mô chuyên biệt về bảo vệ môi trường đối với
làng nghề là sự thiếu hụt các quy định cụ thể về bảo vệ môi trường làng nghề
trong các chính sách quản lí hiện hành đối với nghề phi nông nghiệp ở nông
thôn.
Bộ máy quản lí môi trường làng nghề với nhân lực còn mỏng, trình độ
quản lí chuyên môn của cán bộ quản lí còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất, trang
thiết bị còn thiếu, sự phối hợp và trao đổi thông tin không kịp thời, công tác
thanh tra kiểm tra chưa triệt để, do vậy hiệu quả thực thi công tác quản lí chưa
cao chưa cao.[7]

- Cộng đồng dân cư tại các làng nghề
Sự ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đang diễn ra ngày một gia tăng
đã ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt hàng ngày và sức khoẻ của cộng đồng dân
cư tại các làng nghề. Nhiều người đã nhận thức rõ điều này và đã có những hoạt
động cụ thể nhằm ngăn ngừa sự ô nhiễm môi trường làng nghề nhưng còn gặp
nhiều khó khăn cụ thể là:
+ Thiếu những bằng chứng để chứng minh sự ô nhiễm môi trường làng
nghề, do họ không có phương tiện, kinh phí để thu thập các tài liệu minh chứng
cho sự phát thải không đảm bảo tiêu chuẩn cho phép của các cơ sở sản xuất.
+ Có sự nể nang về các mối quan hệ họ hàng, làng xã…
+ Một số người có trình độ thấp chưa cảm nhận được sự nguy hại của ô
nhiễm môi trường, nên họ xem việc ô nhiễm môi trường là chuyện bình thường
và không có phản ứng gì.
+ Mức thu nhập thấp của các hộ gia đình tại các làng nghề, nên hàng ngày
họ phải lo làm ăn kiếm sống, không có thời gian để tố cáo các hành vi vi phạm
về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất.
+ Việc tố giác các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản
xuất của công dân nên chính quyền các cấp và cơ quan quản lí môi trường địa
phương cũng chưa được giải quyết kịp thời và triệt để do nhiều lí do đã nói ở

nông thôn đảm bảo phát triển bền vững, giữ gìn tốt vệ sinh môi trường nông
thôn. Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tiêu thụ và sử dụng các sản
phẩm từ nguồn nguyên liệu tự nhiên trong nước nhằm hạn chế một phần tác hại
đến môi trường của các sản phẩm, chất thải, hoá chất, nhựa công nghiệp.

UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm quy hoạch chi
tiết phát triển làng nghề, chỉ đạo huyện xây dựng các cụm tiểu thủ công nghiệp
quy mô nhỏ để tạo mặt bằng cho các cơ sở ngành nghề nông thôn phát triển đảm
bảo vệ sinh môi trường.
Chỉ thị số 200/1994/CT-TTg ngày 29/04/1994 của Thủ tướng Chính phủ
về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
Quyết định 237/QĐ-TTg ngày 03/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch vệ sinh môi trường
nông thôn và bản chiến lược Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn đến 2020 do Bộ xây dựng và Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn soạn
thảo được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 104/2000/QĐ -
TTg ngày 25/08/2000.
Nghị định 80/2006/NĐ- CP ngày 09/08/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi
trường.
Nghị định 81/2006/NĐ- CP ngày 09/08/2006 của Thủ tướng Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
31 Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt buộc áp dụng, ban hành theo
quyết định số 35/2002/QĐ - BKHCNMT ngày 25/6/2002 của Bộ trưởng Bộ
Khoa học công nghệ và Môi trường.
Ngoài ra còn một số văn bản khác liên quan đến việc cải thiện môi trường
ở các làng nghề như:
Luật Đất đai được ban hành theo sắc lệnh số 24L/CTN ngày 24/07/1993
của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và Luật Đất đai sửa đổi
bổ sung ngày 11/12/1998.

Đồng Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian: 10/01/2010 đến 10/01/2015
3.2. Đối tượng
- Môi trường làng nghề miến dong Việt Cường.
3.3. Nội dung
3.3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
• Đặc điểm điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lí:
- Địa hình:
- Khí hậu:
• Đặc điểm kinh tế, xã hội
- Thực trạng phát triển kinh tế
- Dân số, lao động và việc làm
3.3.2. Quá trình hình thành và phát triển làng nghề miến dong Việt Cường
- Hiện trạng sản xuất miến dong
- Quy mô sản xuất
- Quy trình và công nghệ sản xuất
3.3.3. Những ảnh hưởng của làng nghề tới môi trường
- Nước thải
- Rác thải
- Khí thải
3.3.4. Hiện trạng môi trường

• Hiện trạng môi trường nước
- Nước mặt
- Nước ngầm
• Hiện trạng môi trường đất
• Hiện trạng môi trường không khí
3.3.5. Định hướng quy hoạch môi trường làng nghề miến dong Việt Cường
- Một số dự báo liên quan đến phát triển khu dân cư làng nghề miến dong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status