1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Với khoảng 67% dân số cả nước, nông thôn Việt Nam đang trên con
đường đổi mới và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH
của đất nước. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
được triển khai đã đem lại những thay đổi đáng kể về đời sống, hạ tầng kỹ
thuật cũng như cảnh quan môi trường nhiều vùng nông thôn. Tuy nhiên, cùng
với sự phát triển KT-XH mạnh mẽ là những nguy cơ không nhỏ về ô nhiễm
môi trường.[3].
Môi trường nông thôn đang chịu những sức ép ngay từ chính các hoạt
động sản xuất và sinh hoạt của nông thôn, đồng thời còn chịu tác động từ hoạt
động của các KCN, CCN và khu vực đô thị lân cận. Đó chính là nguy cơ ô
nhiễm môi trường từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và chế biến thủy hải
sản, chế biến nông sản thực phẩm, phát triển làng nghề và sản xuất công
nghiệp. Ở một số vùng nông thôn, môi trường nước hoặc môi trường không
khí đã bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt việc quản lý CTR nông thôn chưa thực sự
được coi trọng, đã và đang là vấn đề bức xúc.[3].
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân và
nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến
năm 2020. Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số
491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về nông
thôn mới. Trong đó tiêu chí số 17 là tiêu chí môi trường. Mục tiêu chung của
tiêu chí này là nâng cao chất lượng môi trường sống ở khu vực nông thôn.
Lâu nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng hầu như chỉ phản ánh về ô
nhiễm môi trường ở các khu đô thị, khu công nghiệp…Song tình trạng ô
nhiễm môi trường ở nông thôn lại đang ở mức báo động. Ðây chính là
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến môi
trường trên địa bàn xã Thông Nguyên.
- Tác động của môi trường đến đời sống, kinh tế và xã hội của người
dân tại xã Thông Nguyên.
- Đưa ra giải pháp cụ thể, phù hợp với địa phương để thực hiện đạt các
chỉ tiêu về tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới xã Thông
Nguyên.
3. Ý nghĩa
3.1. Ý nghĩa khoa học
+ Đây là cơ sở khoa học có thể áp dụng trong thực hiện kế hoạch xây
dựng nông thôn mới.
+ Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực thế.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
+ Xác định thực trạng môi trường nông thôn tại xã Thông Nguyên
huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang
+ Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền
giáo dục nhận thức của người dân về môi trường.
+ Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng kế hoạch thực
hiện tiêu chí môi trường trong công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn xã Thông Nguyên và nhân rộng ra các xã còn lại trong Huyện.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Các khái niệm liên quan
Môi trường
quan điểm khác nhau.
Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra khái niệm: Phát triển nông thôn là
một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của một bộ
phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Nó đòi hỏi phải mở
rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong
sốnhững người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng nông thôn. [7].
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền
vững về môi trường. Với điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến
lược kinh tế xã hội của Chính phủ: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải
thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường,
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ
trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” [7].
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị
và an ninh quốc phòng, mục tiêu chung của chương trình là: Xây dựng nông
thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc
văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ
thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường.
Theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ
tướng Chính phủ, xây dựng nông thôn mới nhằm thực hiện 19 tiêu chí bao
gồm: 1: Quy hoạch, 2: Giao thông, 3: Thủy lợi, 4: Điện, 5: Trường học, 6: Cơ
sở vật chất văn hóa, 7: Chợ, 8: Bưu điện, 9: Nhà ở dân cư, 10: Thu nhập, 11:
6
Tỷ lệ hộ nghèo, 12: Cơ cấu lao động, 13: Hình thức tổ chức sản xuất, 14:
Giáo dục, 15: Y tế, 16: Văn hóa, 17: Môi trường, 18: Hệ thống tổ chức chính
trị xã hội vững mạnh, 19: An ninh, trật tự xã hội. 19 tiêu chí này được chia
sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn
Quốc gia
85%
70%
17.2. Các cơ sở SX-KD đạt tiêu
chuẩn về môi trường
Đạt
Đạt
17.3. Không có các hoạt động suy
giảm môi trường và có các hoạt động
phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Nội dung tiêu chí
17.4. Nghĩa trang được xây dựng theo
quy hoạch
- Response (R), có nghĩa là đáp ứng. Con người có những hoạt động gì
để đáp ứng nhằm khắc phục các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích
cực nêu trên.
Mô hình DPSIR nói lên rằng để hiểu tình trạng, môi trường tại một địa
bàn, có thể là trên toàn cầu, tại một quốc gia, một tỉnh hay một địa phương ta
phải biết.
8
* Theo Thông tư Số 08/2010/TT-BTNMT ngày 18 tháng 03 năm 2010
của Bộ Tài nguyên và Môi trường được định nghĩa như sau: Mô hình DPSIR
là mô hình mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động lực - D (phát triển kinh tế xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường) - Áp lực – P (các
nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường) - Hiện trạng - S
(hiện trạng chất lượng môi trường) - Tác động - I (tác động của ô nhiễm môi
trường đối với sức khoẻ cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và
môi trường sinh thái) - Đáp ứng - R (các giải pháp bảo vệ môi trường). [5].
1.1.2. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua
ngày 23/6/2014 và có hiệu lực từ 01/1/2015;
- Căn cứ Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ
về việc quy định chi tiết một số điều của luật bảo vệ môi trường;
- Căn cứ Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ
quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược,
đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Căn cứ Thông tư Số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28 tháng 5 năm 2015
của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết
đề án bảo vệ môi trường đơn giản;
- Thông tư số 55/2014/TT-BNNPTNT ngày 31/12/2014 hướng dẫn
triển khai một số hoạt động bảo vệ môi trường trong Chương trình mục tiêu
điểm, Indonesia 45 điểm,... Còn theo kết quả nghiên cứu khác vừa qua tại
Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất
lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe.
Mới đây, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và
Columbia của Mỹ thực hiện báo cáo thường niên khảo sát ở 132 quốc gia. Kết
quả nghiên cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam
đứng thứ 123/132 quốc gia khảo sát; về ảnh hưởng của môi trường đến sức
10
khỏe đứng vị trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80. Tính
theo chỉ số chung EPI, Việt Nam xếp thứ 79. Đó là những đánh giá chung,
còn nếu xem xét cụ thể trên từng khía cạnh thì sẽ càng thấy rõ hơn bức tranh
chung của môi trường Việt Nam hiện nay.
Rừng tiếp tục bị thu hẹp
Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích
tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm
29%), đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%). Độ che phủ
của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng rừng ở các vùng
còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp. Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng
nguyên sinh. Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá
để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ
mới trồng bù được hơn 700 ha.
Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng
sinh học vào nhóm cao nhất thế giới. Với các điều tra đã công bố, Việt Nam
có 21.000 loài động vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu,
quý hiếm. Tổ chức vi sinh vật học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít
loài vi sinh vật mới đối với thế giới.
không cho phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại
không bảo đảm an toàn hàng hải. Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó
vẫn đang được neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp”
thành phế liệu mà việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại
làm ô nhiễm môi trường sống.
Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa
Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ
biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải. Bài học
“xương máu” này đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có
12
khả năng lặp lại nếu những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung
Quốc được đưa về lắp đặt ở Việt Nam.
Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy,
nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng
gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao. Trong đó, lo ngại
nhất là chất thải từ chăn nuôi. Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi,
tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%),
với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm. Theo tính
toán của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn), lượng phân thải của bò khoảng 10 - 15 kg/con/ngày, trâu là
15 - 20 kg/con/ngày, lợn là 2,5 - 3,5 kg/con/ngày và gia cầm là 90
gr/con/ngày. Như vậy, tính ra tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của
nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm.
Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự. Việc đẩy
mạnh các biện pháp thâm canh, tăng năng suất tại các vùng nuôi tôm tập
trung, trong đó chủ yếu là tôm sú đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước. Cùng
với đó, tình trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt
(80%). Kết quả quan trắc của các cơ quan chuyên môn cho thấy nồng độ bụi ở
khu vực Cẩm Phả vượt từ 3 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép, gần 0,3 mg/m3 trong
24 giờ (gồm bụi lơ lửng, bụi Pb, Hg, SiO2, khí thải CO, CO2, NO2). Mỏ Đèo
Nai phải xử lý lượng đổ thải chất cao thành núi trong mấy chục năm qua. Mỏ
Cọc Sáu với biển nước thải sâu 200m chứa 5 triệu m3có nồng độ a-xít cao và
độ PH 4 - 4,5mgđl/l sẽ phải tìm công nghệ phù hợp để xử lý.
Trong ba năm, hoạt động khai thác sắt, ti-tan khiến các khu vực, rừng
ven biển từ Nghệ An, Quảng Bình, Ninh Thuận, Bình Thuận,… bị tàn phá
nghiêm trọng. Rừng mất đi và dân làng biển đang phải đối mặt bão, lũ, gió cát.
Ô nhiễm không khí
14
Việt Nam cũng đang bị coi là nước có ô nhiễm không khí cao tới mức
báo động. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không
khí khu vực ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CO tăng 1,44 lần và
bụi PM10 (tức bụi có kích thước bé hơn 10μ) tăng 1,07 lần. Kênh rạch ở khu
vực nội thành bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh ở mức độ cao. Phần lớn nước thải
sinh hoạt chỉ mới được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại gia đình. Nhiều nhà máy,
cơ sở sản xuất chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có trang bị thì
không vận hành thường xuyên.
1.2.2. Môi trường nông thôn ở Việt Nam
Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn
do Bộ y tế và tổ chức UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/03/2008 cho
thấy VSMT và vệ sinh cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình,
11,7% trường học, 36,6 trạm y tế xã 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến
xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế (Quyết định 08/2005/QĐBYT); Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp 7,8%
khu chợ nông thôn; 11,7% dân cư nông thôn; 14,2% trạm y tế xã; 16,1%
UBND xã; 26,4% trường học có tiếp cận sử dụng nước máy; Ngoài ra, kiến
thức của người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn rất hạn chế, thái độ của
18
3
Bắc Trung Bộ & Duyên Hải miền Trung
4
Đông Nam Bộ
21
5
Đồng bằng sông Hồng
33
6
Đồng bằng sông Cửu Long
39
36 – 36
(Nguồn: Lê Văn Khoa, Hoàng Xuân Cơ (2004), Chuyên đề Nông thôn
Việt Nam, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội.)[6]
Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn
Việt Nam đang phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào. Ở vùng
ra một sự ô nhiễm đáng kể đối với vệ sinh môi trường [14].
Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất
thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện nay, cả nước có
khoảng 1450 làng nghề, phân bố trên 58 tỉnh thành và đông đúc nhất ở đồng
bằng sông Hồng, vốn là cái nuôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472
làng nghề các loại tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Tây (nay thuộc Hà
Nội), Thái Bình, Bắc Ninh…Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ
sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ sản xuất lạc hậu chiếm phần lớn (trên
70%). Do đó đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác
động xấu đến môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ của người dân làng
nghề.[6].
Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là
than. Do đó lượng bụi và các lượng khí CO, CO 2, SO2 và NO2 thải ra trong
quá trình sản xuất trong làng nghề khá cao. Theo kết quả điều tra tại các làng
nghề sản xuất gạch đỏ (ở Khai Tái, Hà Tây), sản xuất vôi (ở Xuân Quan –
Hưng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 6000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò đã
17
sinh ra nhiều loại bụi như CO, CO 2, SO2, NOx và nhiều loại thải khác gây
nguy hại tới sức khoẻ của người dân trong khu vực và làm ảnh hưởng hoa
màu, sản lượng cây trồng của nhiều vùng lân cận. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân gây các vụ xung đột, khiếu kiện như ở Thái Bình, Bắc
Ninh, Hưng Yên…[6].
Ô nhiễm môi trường đất: Chủ yếu tập trung tại các làng nghề tái chế
kim loại. Kết quả nghiên cứu của đề tài KC.08.06 cho thấy một số mẫu đất ở
làng nghề tái chế thuộc xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cho thấy
hàm lượng Cu2+ đạt từ 43,68 - 69,68 ppm. Hàm lượng các kim loại nặng cũng
rất cao, vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.[6].
* Chất thải rắn nông thôn
tấn/năm
21.500
179.000
CTR nông thôn
tấn/năm
6.400.000
9.078.000
CTR làng nghề
tấn/năm
774.000
1.023.000
Năm 2008
(Nguồn: Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam năm 2004; Viện Quy hoạch
Đô thị - Nông thôn, Bộ Xây dựng, 2010)[4]
18
19
trong 20 năm kể từ năm 1979 - 1999, phong trào OVOP "Mỗi làng, một sản
phẩm" của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản phẩm bình dị và đơn
giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre... được sản xuất với chất lượng và
giá bán rất cao.
Theo TS. Hi-ra-mát-su, gần 30 năm hình thành và phát triển, sự thành
công của phong trào OVOP đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên đất
nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, đáng chú ý là các quốc gia ở Châu
Á và Châu Phi tìm hiểu và áp dụng. Một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như: Thái lan, Philippin... tận dụng được nguồn lực địa phương, phát
huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, đã thu được
những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình
nhờ áp dụng kinh nghiệm của phong trào OVOP của Nhật Bản.[12].
* Ở Hàn Quốc
Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa,
đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ. Trong khi đi
thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung
Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không
nghĩ cách tự cứu lấy mình. Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợptác và
giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn.
Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaulundong”
được đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970. “Saemaul”
theo nghĩa tiếng Hàn là “Sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong”
có nghĩa là một phong trào và cụm từ “Saemaulundong” có nghĩa là phong
trào đổi mới cộng đồng. Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên
“Saemaulundong” được hiểu là “Phong trào đổi mới nông thôn”. Sự ra đời
kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ
trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết quả khả quan đạt
được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước. Tới năm 1974, chỉ sau 4
21
nghiệp. Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên. Xây dựng một cơ chế để
công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn. Sự phân phối thu nhập
quốc dân sẽ được điều chỉnh để cho việc tiêu thụ thuế và đầu tư ngân sách và
tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn. Hỗ trợ từ
vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục. Phần lớn trái phiếu và vốn ngân sách sẽ
đi về phát triển nông thôn. Đặc biệt đầu tư để cải tiến sản xuất và điều kiện
sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng. Năm 2005
Nhà nước đã chi 297,5 tỷ nguyên cho Tam nông, năm 2006: 339,7 tỷ, và năm
2007: 391,7 tỷ. [17].
Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc.
Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế
kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở
cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ
cấp trực tiếp cho nông dân. Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều
chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh
là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông
dân trồng lương thực.[1].
Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông
nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa. Trong
chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư
hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị
trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn. Cùng đó, Trung Quốc
cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc
biệt là lao động trẻ, ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân.
Trung Quốc còn có chủ trương đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng
các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản. Đồng thời, thúc đẩy
việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp
23
song nút thắt lại nằm ở chỗ hệ thống bãi chứa, xử lý rác thải, nước thải ở
không ít nơi còn thiếu thốn, chưa đồng bộ.
Đến xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, Hà Nội là một trong ít xã điểm xây
dựng NTM của TP Hà Nội về đích khá chậm khi đến nay vẫn chưa cán đích
thành công. Trong số 3 tiêu chí chưa đạt chuẩn của xã có tiêu chí môi trường,
theo đánh giá mới đạt 5,5/10 điểm.
Ông Nguyễn Văn Kiên, Chủ tịch UBND xã Phùng Xá cho biết, các
thôn, xóm đã triển khai quét dọn vệ sinh môi trường vào thứ 6 hàng tuần, rác
thải được chôn lấp tập trung tại hai điểm được quy hoạch đảm bảo môi
trường. Tuy nhiên, theo đề án xã được quy hoạch trạm xử lý nước thải làng
nghề và trạm cấp nước sạch tập trung nhưng đến nay chưa hoàn thành nên xã
vẫn chưa đạt chuẩn NTM. Đây cũng là tình trạng của nhiều xã trên địa bàn Hà
Nội hiện nay. Tại xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội, chất thải vẫn
chưa được thu gom và xử lý theo quy định. Trong khi đó tỷ lệ hộ dân được sử
dụng nước hợp vệ sinh mới đạt 78%. Ông Phạm Đình Phùng - Chủ tịch
UBND xã Bình Minh than thở, việc thu gom và xử lý rác thải trên địa bàn xã
còn rất nhiều bất cập. Người dân còn phơi lông gà, lông vịt trên các tuyến
đường liên thôn, liên xã gây mất mỹ quan môi trường.
Hơn nữa, nước thải từ các hộ giết mổ gia cầm gây ô nhiễm môi trường
trong khu dân cư. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Chương trình 02 huyện
Thanh Oai, toàn huyện mới có 4/21 xã tiêu chí về môi trường, còn lại 17 xã
chưa đạt (chiếm 81%). Hoàn thành tiêu chí môi trường tại các xã thuần nông
đã khó, tại các địa phương có làng nghề vấn đề này càng nan giải hơn nhiều.
Đơn cử huyện Thường Tín hiện có 126 làng nghề, 11 cụm công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp với 84 DN, 415 hộ đang hoạt động sản xuất, kinh doanh. Dù
mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục ngàn lao động, song
một số dự án thành phần trong đề án như xây dựng cụm tiểu thủ công nghiệp,
nhà máy xử lý nước thải tại làng nghề, cụm công nghiệp còn chậm. Hay việc
25
tập trung. Vấn đề nữa là người dân chưa có nước sạch để sử dụng; việc quy
hoạch nghĩa trang tập trung cũng khó khăn bởi quỹ đất không có, và phong
tục tập quán người dân thích chôn ngay trên đất nhà.[18].
Với địa bàn rộng, trong tổng số 31 xã, thị trấn thì có tới hơn một nửa số
xã thuộc diện vùng cao đặc biệt khó khăn, lệ hộ nghèo cao, tập quán sinh hoạt
lạc hậu như: chăn thả, nuôi nhốt gia súc gầm sàn nhà; ăn, ở không hợp vệ
sinh; việc chôn cất người chết; thu gom, xử lý rác thải; nước sạch… vẫn là
vấn đề nan giải đã khiến cho việc xây dựng NTM của huyện gặp không ít khó
khăn. Sau 4 năm triển khai Chương trình, trong số 6 xã điểm của huyện là:
Thượng Bằng La, Tân Thịnh, Đại Lịch, Phù Nham, Thanh Lương, Sơn A đã
đạt từ 10 - 13 tiêu chí nhưng tiêu chí môi trường vẫn chưa đạt.
Tóm lại, có thể thấy việc giữ gìn vệ sinh môi trường tại các địa
phương, nhất là các xã vùng cao hiện đang là một trong những vấn đề khó
khăn. Việc đảm bảo được vấn đề môi trường sẽ là cơ sở để phát triển bền
vững ở mỗi địa phương trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
1.2.5. Tình hình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh
Hà Giang
Ngay từ khi triển khai Chương trình nông thôn mới, theo chỉ đạo của
tỉnh Hà Giang huyện Hoàng Su Phì đã thành lập bộ máy quản lý, chỉ đạo điều
hành thực hiện Chương trình nông thôn mới cụ thể: Thành lập BCĐ, tổ giúp
việc BCĐ và cử 03 cán bộ chuyên trách thuộc phòng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn để theo dõi, tổng hợp Chương trình; Ở cấp xã thành lập BCĐ,
Ban quản lý và bố trí 01 cán bộ Địa chính - xây dựng để theo dõi nông nghiệp
và nông thôn mới; cấp thôn, xóm thành lập Ban phát triển nông thôn. BCĐ
các cấp đều đã phân công các thành viên phụ trách địa bàn cụ thể, để chỉ đạo
thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới theo kế
hoạch hàng năm.