ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRIỆU THỊ NGỌC QUỲNH Tên đề tài
"ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN CÂY KHOAI TÂY TẠI XÃ BÌNH LONG,
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Niên khóa : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Hiền Thương
Thái Nguyên, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị
Hiền Thương, Bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh tế và PTNT, Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các ban ngành đoàn thể, các
nhân viên cán bộ và nhân dân xã Bình Long, huyện Võ Nhai đã giúp đỡ em
trong suốt quá trình em về địa phương để nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn tất cả các tập thể, cá nhân, bạn
bè và người thân đã quan tâm giúp đỡ, động viên và khích lệ em trong quá
trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Thái Nguyên, Ngày tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Triệu Thị Ngọc Quỳnh
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của châu Âu 14
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của châu Á 14
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của Việt Nam. 15
Bảng 2.1: Diện tích đất trồng khoai tây của xã Bình Long năm 2013 18
Bảng 3.11. So sánh chi phí giữa khoai tây và ngô của các hộ điều tra 47
trên 1 sào năm 2013 47
Bảng 3.12. So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế của sản xuất cây khoai tây
với cây ngô tính trên 1 sào năm 2013 47
Bảng 3.13. SWOT đánh giá cây khoai tây tại địa bàn xã Bình Long năm
2013 53DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 2.1. Vị trí 3 thôn nghiên cứu 19
Hình 3.1. Bản đồ hành chính xã Bình Long 26
Hình 3.2. So sánh hiệu quả kinh tế của khoai tây và ngô 48
Sơ đồ 3.1: Chuỗi giá trị của khoai tây tại xã Bình Long 39
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ, cụm từ
viết tắt
Giải thích
1 BQ Bình quân
2 BQC Bình quân chung
3 BVTV Bảo vệ thực vật
4 CC Cơ cấu
1.3. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.3.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới 14
1.2.2. Tình hình sản xuất khoai tây ở Việt Nam 15
1.3.3. Tình hình sản xuất khoai tây ở huyện Võ Nhai, Thái nguyên 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 17
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 17
2.2. Nội dung nghiên cứu 17
2.3. Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 17
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 18
2.3.3. Phương pháp tổng hợp thông tin 22
2.3.4. Phương pháp phân tích thông tin 22
2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 23
2.4.1. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kết quả sản xuất của hộ 23
2.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của khoai tây 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 26
3.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Bình Long 33
3.1.3 Đánh giá thuận lợi, khó khăn về điều kiện TN, KT, XH của xã 34
3.2. Thực trạng sản xuất khoai tây trên địa bàn xã Bình Long 35
3.2.1. So sánh diện tích của cây khoai tây với một số cây trồng khác tại
địa bàn xã Bình Long 35
3.2.2. Diện tích trồng khoai tây phân theo xóm trong xã 36
3.2.3. Tình hình sản xuất khoai tây chung tại xã Bình Long. 37
3.2.4. Tình hình tiêu thụ 38
3.2.4.1. Kênh tiêu thụ khoai tây của xã Bình Long 38
tế cho người dân. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi người trồng cây phải thay đổi
kỹ thuật trồng trọt sao cho phù hợp. Muốn làm được điều đó cần chú ý đến các
yếu tố về cây giống, phân bón, chăn sóc quản lý, điều kiện tự nhiên.
Bình Long là một huyện miền núi, người dân sống chủ yếu dựa vào
nông nghiệp, và là vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp với một số loại cây
trồng như mía, ngô, lúa, khoai tây… So với các loại cây trồng khác thì khoai
tây là loại cây trồng đang dần phát triển mạnh, sở dĩ cây khoai tây có được vị
trí đó nhờ các ưu điểm sau: Trước hết cây khoai tây rất phù hợp với điều kiện
đất đai, thời tiết, khí hậu, nhiệt độ… của huyện; cây khoai tây là loại cây rau
ngắn ngày nhanh cho thu hoạch; ngoài những ưu điểm trên cây khoai tây còn
có một số ưu điểm khác như dễ trồng, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh…
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở xã Bình Long huyện Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên, để có những cơ sở khoa học hiểu biết phát triển cây khoai tây
có hiệu quả đem lại giá trị kinh tế và phương hướng phát triển cây khoai tây
trong những năm tới. Chính vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá hiệu quả kinh tế và đề xuất giải pháp phát triển cây khoai tây tại xã
Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. 2
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân sản xuất khoai tây
tại xã Bình Long. Trên cơ sở đó xã đưa ra một số định hướng, giải pháp chủ
yếu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế của cây khoai tây trên địa
bàn để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người nông dân góp phần đáp
ứng nhu cầu của người nông dân đồng thời góp phần thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế của địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích cở sở lý luận và thực tiễn liên quan đến hiệu quả kinh tế cây
- Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
- Chương 4: Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cây khoai tây.
Kết luận. 4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được hiểu theo nhiều cách khác nhau, một số khái
niệm về hiệu quả kinh tế được đưa ra như sau:
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất, mặt lượng của
các hoạt động kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan
của nền sản xuất xã hội do nhu cầu cuộc sống tăng, nhu cầu công tác quản lý,
tổ chức. Là một phạm trù xã hội với những đặc trưng phức tạp nên đánh giá
hiệu quả kinh tế là vấn đề hết sức khó khăn và mang tính chất phức tạo. Mục
tiêu của các nhà sản xuất và quản lý là với một lượng dự trữ tài nguyên nhất
định, tạo ra được khối lượng sản xuất hàng hóa nhiều nhất, hay nói cách khác
là ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm như thế nào để có chi phí tài
nguyên lao động thấp nhất. Điều đó cho ta thấy hiệu quả kinh tế liên quan trực
nhất và trong nhiều năm có thể rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa
chữa lớn nên việc tính toán khấu hao và phân bổ chi phí để xác định các chỉ
tiêu hiệu quả có tính chất tương đối.
Do sự biến động không ngừng của cả thị trường nên việc xác định chi
phí cố định là không chính xác mà chỉ có tính tương đối.
Một số yếu tố đầu vào rất khó lượng hóa như: Thông tin, tuyên truyền,
cơ sở hạ tầng nên không thể tính toán được một cách chính xác.
+ Đối với yếu tố đầu ra
Phần lớn những kết quả sản xuất đầu ra có thể lượng hóa được một
cách cụ thể nhưng cũng có những yếu tố không thể lượng hóa được như: Bảo vệ
môi trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm.
Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó lại
không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất. Mục đích cuối cùng của sản
xuất xã hội là đáp ứng yêu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội. Vì vậy,
nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá mà
còn thông qua đó tìm ra các giải pháp để phát triển một cách tốt hơn.[ 4]
Vậy bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và
phát triển kinh tế xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mọi thành
viên trong xã hội. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao
6
động và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của
vấn đề hiệu quả kinh tế gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất
xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và tiết kiệm thời gian làm việc.
1.1.2. Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng nguồn
nhân lực, vật lực để đạt được kết quả cao nhất hay nói cách khác kiệu quả
kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của một hoạt động kinh tế.
Nâng cao chất lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường lợi dụng các nguồn
lực có sẵn trong một hoạt động kinh tế, đây là đòi hỏi khách quan của một nền
còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội của con người.
Những kết quả đạt được đó là: nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giải
quyết vấn đề việc làm, góp phần ổn định chính trị xã hội, trật tự an ninh, xây
dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống tinh thần và văn
hóa cho người dân tức là đã đạt hiệu quả về mặt xã hội.
Đặc biệt về sản xuất nông nghiệp, ngoài những hiệu quả chung về kinh
tế, xã hội, còn có hiệu quả rất lớn về môi trường mà ngành kinh tế khác không
thể có được. Cũng có thể một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá
nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu
đến lợi ích và hiệu quả chung. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả cần phân loại
chúng để có kết luận chính xác.
Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân biệt thành 3 phạm trù:
hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội. Ba phạm trù này
khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh
quan hệ so sánh tương đối mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối và
chưa xem đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và
đại lượng tuyệt đối.
Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả
kinh tế đạt được và lượng chi phí bỏ ra thì hiệu quả xã hội là mối tương quan
so sánh giữa kết quả xã hội và tổng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả về kinh tế, xã hội thể hiện mối tương quan giữa các kết quả
đạt được tổng hợp trong lĩnh vực kinh tế, xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt
được các kết quả đó. Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế có thể phân loại
chúng theo các tiêu thức nhất định từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu
của các loại hiệu quả kinh tế.
8
(Solanaceace)là cây ở thể tứ bội (Tetraploid), (có khả năng sinh trưởng phát
triển tốt và cho năng suất cao.
9
1.2.1.2. Giá trị dinh dưỡng của khoai tây
Ở nhiều nước trên thế giới, khoai tây được coi là một trong năm loài cây
lương thực quan trọng: lúa mỳ, lúa nước, ngô, đại mạch và khoai tây. So với
nhiều loài cây trồng khác, khoai tây có thành phần hoá học quý và khả năng
sử dụng đa dạng. Củ khoai tây chứa trung bình khoảng 25% chất khô, trong
đó 80-85% tinh bột, 3% protein, có nhiều vitamin: A, B1, B6, PP… và nhiều
nhất là vitamin C (20-200mg/100gam khối lượng tươi).
Ngoài ra, còn có các chất khoáng quan trọng, chủ yếu là kali, thứ đến là
canxi, photpho, magie. Theo Beukema, Vander Zaag (1979), cứ 1 kg khoai
tây cho 840 calo. Nếu tính theo sự cân bằng protein/calo, sự phân bố và tỉ lệ
axit amin quan trọng trong các loại thức ăn chính thì khoai tây chỉ kém trứng.
Sử dụng 100 g khoai tây có thể đảm bảo ít nhất 8% nhu cầu protein, 3% năng
lượng, 10% sắt, 10% vitamin B1 và 20-25% nhu cầu vitamin C cho 1 người
trong 1 ngày đêm.[12]
Vì vậy, theo đánh giá của Vander Zaag (1976), trong số các cây trồng
của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như lúa, ngô, đậu tượng… thì khoai tây
cho năng suất năng lượng, năng suất protein và sinh lợi cao nhất.[21]
1.2.2. Đặc điểm kỹ thuật của cây khoai tây
1.2.2.1. Về nhân tố về điều kiện tự nhiên
Nhiệt độ là yếu tố khí tượng đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp
đến sinh trưởng phát triển của cây khoai tây. Ở thời kỳ sinh trưởng dinh
dưỡng cây khoai tây có thể thích ứng với biên độ nhiệt từ 100
0
C - 250
0
C, rộng
a. Kỹ thuật trồng
Bổ củ:
- Trồng bằng củ giống to sẽ có năng suất cao hơn so với củ nhỏ, trong
trường hợp giống to, cỡ đường kính củ trên 45mm tương đường với trên 50
gam thì có thể bổ đôi hoặc bổ làm 3 để tiết kiệm giống. Khoai tây giống sau
khi bổ phải để nơi thoáng mát, rải đều, phủ tải ẩm lên trên để giữ ẩm, tránh để
đống quá cao dễ bị thối.
- Dùng dao sắc và lưỡi mỏng để cắt, mỗi lần cắt phải nhúng vào cồn 96%
hoặc xà phòng đậm đặc để ngăn chặn sự xâm nhập của nấm, làm cho củ bị thối.
- Bổ dọc củ, mỗi miếng khoai bổ phải có 2-3 mầm, bổ xong chấm vết
cắt ngay vào xi măng khô và gạt phần xi măng thừa đi không nên để xi măng
bán nhiều vào mặt cắt của củ vì sẽ hút nước của làm củ dễ bị héo. Nếu đất
trồng đủ độ ẩm và phân chuồng hoai thì sau bổ 12 h là có thể trồng, nếu đất
ướt quá hoặc quá khô thì có thể kéo dài 5-7 ngày mới trồng.
Thời vụ:
Vùng đồng bằng bắc bộ : Có 3 vụ:
+ Vụ đông xuân sớm: Thường ở vùng trung du, trồng vào đầu tháng 10,
thu hoạch vào tháng 12
+ Vụ chính: ở khắp trong vùng, trồng cuối tháng 10, đầu tháng 11, thu
hoạch cuối tháng 1, đầu tháng 2
+ Vụ xuân: Thường ở đồng bằng sông Hồng, trống tháng 12, thu hoạch
đầu tháng 3.
11
Vùng núi miền Bắc:
+ Vùng núi thấp dưới 1000 m: Vụ Đông trồng tháng 10, thu hoạch
tháng 1. Vụ xuân trồng tháng 12, thu hoạch cuối tháng 3
+ Vùng núi cao trên 1000 m: Vụ Thu Đông trồng đầu tháng 10, thu
hoạch tháng 1. Vụ xuân trồng tháng 2, thu hoạch tháng 5.
Vùng bắc trung bộ: Có 1 vụ trồng là vụ Đông trồng đầu tháng 11, thu
12
luống. Khi mang khoai về nếu mầm hơi nhí là có thể trồng ngay được không
cần mầm mọc dài mới đem đi trông. Tuyệt đối khi mang khoai giống về
không được tưới nước lên khoai, muốn mầm mọc nhanh cho khoai vào thúng
phủ tải hoặc rơm rạ hơi ẩm lên trên để nơi khô ráo, thoáng mát tránh độ ẩm
cao khoai dễ bị thôi. Khi trồng không để rơm rạ bị quá ẩm hoặc đất quá khô.
Khi đặt củ tránh đặt trực tiếp vào phân, nhất là phân hóa học vì như vậy củ bị
chết xót vì phần.
Chuẩn bị vật tư, phân bón và cách bón: Cho 1 sào (360m
2
)
- Chuẩn bị: Rơm, rạ mục (thu gom rơm rạ sau khi thu hoạch, trộn vôi
bột 10-15 kg/ sào rơm rạ, sau đó chất thành đống đảm bảo đủ ẩm đẻ rơm rạ
nhanh mục, hoặc có thể xử lý rơm rạ bằng chế phẩm Fitobiomix, sau 30 ngày
thành phân hữu cơ bón tốt cho khoai tây, số lượng rơm rạ 3 - 4 sào rơm rạ/1
sào khoai tây. Nên trồng phân rác, mùn, phân hoai mục.
- Lượng phân:
Phân chuồng loại mục: 1ha là 15 - 20 tấn, 1 sào là 6 - 7 tạ.
Lân supe: 1 ha là 350 – 400 kg, 1 sào là 12 - 15 kg
Kali sunphat: 1 ha là 200 - 250 kg, 1 sào là 10 - 12 kg
- Cách bón:
Bón lót: Rải toàn bộ phân chuồng và lân + 2/3 kali lên trên mặt luống
giữa hai hàng khoai.
Bón thúc lần 1: Sau khi cây mọc cao 15 - 20 cm 1/3 kali.
Bón thúc lần 2: Sau thúc lần 1: 15 - 20 ngày: 1/2 kali.
Tưới nước:
Là một trong những yếu tố quyết định năng suất, và chất lượng
khoai.Trong 60 - 70 ngày đầu khoai rất cần nước, thiếu nước năng suất khoai
giảm, ruộng khoai lúc khô, lúc ẩm làm cho củ bị nứt, giảm chất lượng củ.
thuốc trừ rệp, nhổ bỏ cây bệnh và tiêu hủy tàn dư khi nhô cây bệnh không để
tay tiếp xúc với cây khỏe.
- Bệnh héo xanh: Không trồng khoai tây trên ruộng lúa vụ trước trồng các
cây họ cà, không bón phân chuồng tươi, tránh dùng nước tưới nhiễm khuẩn.
- Bênh mốc sương (Sương mai): Nên phun định kỳ 10 - 15 ngày/lần sau
trồng 45 ngày thuốc chống sương mai bằng thuốc nội hấp như: Ridomil MZ,
Score 250 ND, Alpine. Nếu có vết bệnh điển hình lần phun đầu tiên phải cộng
với thuốc tiếp xúc như Zineb, mancozeb…
- Rệp: Xuất hiện sau trồng 30 - 60 ngày, có thể dung thuốc Pegasus 500
EC hoặc Trebon 10 EC để phun.[17]
14
1.3. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới
Châu Âu có nền sản xuất khoai tây lớn nhất thế giới và đang có xu
hướng giảm nhẹ về diện tích, năng suất và sản lượng khá cao và ít biến động.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của châu Âu
Năm
Diện tích
(Triệu ha)
Năng suất
(Tấn/ha)
Sản lượng
(Triệu tấn)
2010 6,10 17,65 107,67
2011 6,13 21,05 129,04
2012 5,98 19,48 116,49
( Nguồn: Theo FAO 2013)
Năm 2010, cả châu lục trồng được 6,10 triệu ha, nhưng đến năm 2012
chỉ còn 5,98 triệu ha. Năng suất khoai tây ở châu Âu không ngừng được nâng
Nam luôn biến động và phát triển không tương xứng với tiềm năng của nó.
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của Việt Nam
Năm
Diện tích
(Nghìn ha)
Năng suất
(Tấn/ha)
Sản lượng
(Nghìn tấn)
2009 37,00 10,49 388,00
2010 36,68 10,76 394,68
2011 39,00 10,90 425,00
2012 40,00 11,00 440,00
(Nguồn: Theo FAO 2013)
Bên cạnh sự tăng lên về diện tích thì trong giai đoạn gần đây (2009-
2012) năng suất lại có xu hướng biến động thất thường. Trong những năm từ
2009 – 2010 diện tích bị giảm xuống 0,32 nghìn ha khoảng 99,13%. Nhưng
đến năm 2010 – 2011 lại tăng lên đáng kể 2,32 nghìn ha khoảng 106,32%, so
với năm trước thì có sự chuyển biến còn lại năm 2012 đã tăng lên 1 nghìn ha
khoảng 102,56%. Năng suất khoai tây của nước ta chỉ bằng 56,47% năng suất
bình quân châu Âu, bằng 60,18% năng suất bình quân của châu Á. Sự tăng
năng suất và diện tích khoai tây của Việt Nam là chưa đáng kể so với tiềm
năng to lớn của nó. So với các cây trồng vụ đông khác như ngô, lạc, đậu
tương… Thì diện tích khoai tây chỉ chiếm phần nhỏ. Yếu tố quan trọng nhất
ảnh hưởng đến năng suất khoai tây ở Việt Nam là chất lượng giống. Củ giống
kém chất lượng không có khả năng cho năng suất cao đồng thời bị hao hụt lớn
trong quá trình bảo quản làm cho giá thành củ giống tăng, tăng chi phí đầu tư
lên rất nhiều vì đầu tư giống chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng chi phí tiền mặt
cho việc sản xuất khoai tây.
17
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân trồng khoai tây trên địa bàn xã Bình Long, huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian:
+ Thời gian thực hiện từ 16/1/2014 đến 17/05/2014.
+ Số liệu thứ cấp thu thập trong 3 năm từ (2011 – 2013).
+ Số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2013.
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Bình Long,
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bình Long, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Thực trạng sản xuất khoai tây trên địa bàn xã Bình Long, huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên.
- Hoạch toán chi phí hiệu quả kinh tế của cây khoai tây trên địa bàn xã
Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi trồng khoai tây trên địa bàn
xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đưa ra một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
cây khoai tây trên địa bàn xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp được thu thập qua sách báo, qua website, qua các báo
cáo có liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế, qua các