Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí xây dựng môi trường nông thôn mới tại xã Hưng Đạo - thành phố Cao Bằng - tỉnh Cao Bằng - Pdf 27

i

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐÀM QUANG CHIẾN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN TIÊU CHÍ XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI XÃ HƢNG ĐẠO - THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG Chuyên ngành : Khoa học môi trƣờng
Mã số : 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
iii

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại xã Hưng Đạo, thành phố Cao
Bằng, tỉnh Cao Bằng, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình. Để có
được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ
chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè. Tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý đào
tạo khoa sau đại học cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã tận tụy dạy dỗ tôi
trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS
Lƣơng Văn Hinh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cấp ủy chính quyền cán bộ các
ban, ngành xã và bà con nhân dân xã Hưng Đạo nơi tôi nghiên cứu đề tài, đã tạo
mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập.
Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng
như là hạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khỏi sai sót. Tôi rất mong

1.2.3. Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới trên dịa bàn tỉnh
Cao Bằng 22
1.2.4 Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới trên địa bàn
Thành phố Cao Bằng 25
Chƣơng 2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.1.4 Nội dung nghiên cứu 29
2.2. Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu 30
2.2.2. Phương pháp thống kê xử lý số liệu 30
2.2.3. Phương pháp so sánh, đánh giá 31
2.2.4. Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu 31
2.2.5.Lấy mẫu và phân tích: 31
v

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.2.5.2. Phân tích các chỉ tiêu 31
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng 35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 35
3.1.1.1. Vị trí địa lý 35
3.1.1.2. Địa hình, địa chất 36
3.1.1.3 Khí hậu 36
3.1.1.5. Các nguồn tài nguyên 37
3.1.2. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội 42
3.2. Đánh giá hiện trạng môi trường xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng theo mô
hình Động lực – Áp lực – Trạng thái – Tác động – Đáp ứng (DPSIR) 44

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NTM : Nông thôn mới
BCĐ : Ban chỉ đạo
HTX : Hợp tác xã
CN-TCN : Công nghiệp – Thủ công nghiệp
vii

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Dân số và sự phân bố dân cư 47
Bảng 3.2: Số liệu điều tra trình độ dân trí tại khu vực nghiên cứu 48
Bảng 3.3: Ý kiến về cải thiện điều kiện môi trường 48
Bảng 3.4: Nhận thức của người dân về vấn đề môi trường 49
Bảng 3.5: Những loại phân bón được các hộ gia đình sử dụng 55
Bảng 3.6: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm xả nước thải của Công ty
Cổ phần sản xuất vật liệu xây dựng Cao Bằng 61
Bảng 3.7: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm cấp nước cho Công ty Cổ
phần Sản xuất vật liệu xây dựng Cao Bằng 62
Bảng 3.8: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm xả nước thải của Công ty
cổ phần Gốm Nam Phong 63
Bảng 3.9: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm cấp nước cho Công ty
cổ phần Gốm Nam Phong 64
Bảng 3.10: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm cấp nước sản xuất cho
Công ty TNHH một thành viên Thủy Nông Cao Bằng 65
Bảng 3.11: Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong xã 66
Bảng 3.12: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng loại công thải 66
Bảng 3.13: Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 67
Bảng 3.14: Các hình thức đổ rác thải sinh hoạt của xã 68

Nông nghiệp, nông thôn là khu vực có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở lực lượng quan
trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an
ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường
sinh thái.
Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III từ tháng 10 năm 2010, là trung tâm
phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh Cao Bằng. Nằm ở vị trí gần như giữa trung
tâm địa lý của tỉnh Cao Bằng, với diện tích là 10.762,81 ha và dân số 67.411 người
(năm 2011), thành phố Cao Bằng đang trên đà phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã
hội. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế xã hội của tỉnh
đang có những bước phát triển nhanh chóng, đời sống nhân dân không ngừng được
nâng cao, đồng thời các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng tăng lên rất nhiều trong
những năm gần đây.
Xã Hưng Đạo nằm cách trung tâm thành phố Cao Bằng 10 km về phía Đông
Nam theo đường tỉnh lộ 203. Trên địa bàn xã có các trục đường giao thông lớn như:
đường Hồ Chí Minh (đang trong quá trình xây dựng), QL3, QL34 và tỉnh lộ 203
chạy qua, vì vậy việc giao lưu đi lại giữa xã với thành phố Cao Bằng và các xã lân
cận đều thuận lợi. Đồng thời, do nằm trong vùng thời tiết thuận lợi nên Hưng Đạo
cũng có nhiều điều kiện để phát triên nông-lâm nghiệp mang tính sản xuất hàng hóa cao
như phát triển trồng cây thuốc lá và các loại cây ăn quả như Thanh Long, cam, mận cho
giá trị kinh tế cao.
Việc xây dựng nông thôn mới xã Hưng Đạo nhằm đánh giá rõ các điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đưa ra định hướng phát triển về không gian, về
mạng lưới dân cư, về hạ tầng kỹ thuật, xã hội nhằm khai thác tiềm năng thế
mạnh về trồng sản xuất thuốc lá, cây ăn quả và thương mại dịch vụ của địa
phương.
Hơn nữa nông nghiệp, nông thôn là khu vực có vị trí chiến lược trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở, lực
2


trường tại xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đánh giá các tác động môi trường đối với đời sống, kinh tế và xã hội tại xã
Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Đề xuất các giải pháp về môi trường trong đạt tiêu chí về môi trường trong
nông thôn mới trên địa bàn xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đây là cơ sở khoa học có thể áp dụng cho việc xây dựng mô hình xây dựng
nông thôn mới.
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công
tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người dân về
bảo vệ môi trường.
- Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục
nhận thác của người dân về môi trường.
- Xác định thực trạng môi trường nông thôn tại xã Hưng Đạo, thành phố Cao
Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đưa các giải pháp bảo vệ môi trường cho địa phương nói riêng và khu vực
nông thôn của tỉnh Cao Bằng nói chung.

4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Có ý kiến dùng chỉ tiêu trình độ phát triển kết cấu hạ tầng để phân biệt thành
thịvà nông thôn.
Có ý kiến dùng chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hoá, tiếp cận thị trường để
phân biệt thành thị và nông thôn (điều này còn phụ thuộc vào cơ chế kinh tế của
mỗi nước).
Có ý kiến cho rằng vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đó làm nông nghiệp
là chủ yếu (nó phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế của vùng).
Qua một số ý kiến trên nếu dùng chỉ tiêu riêng lẻ thì chỉ thể hiện từng mặt
của vùng nông thôn mà chưa thể hiện vùng nông thôn một cách đầy đủ.
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái
niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau:
Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông
dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển
hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn.
 Phát triển nông thôn
Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra quan niệm về phát triển
nông thôn là: phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện
đời sống kinh tế - xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các
vùng nông thôn. Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với
những người nghèo nhất trong sốnhững người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng
nông thôn. [14].
Theo Uma Lele trong "Kế hoạch phát triển nông thôn ở châu Phi" thì phát
triển nông thôn được định nghĩa là sự cải thiện mức sống của số lớn dân chúng có
thu nhập thấp đang cư trú ở các vùng nông thôn và tự lực thực hiện quá trình phát
triển của họ.
Theo Nandasema Ratnapana (Ấn Độ) thì phát triển nông thôn không thể là
một hoạt động cục bộ, rời rạc và thiếu quyết lâm. Nó phải là một hoạt động của

mọi mặt”.
- Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh
quốc phòng, gồm có 11 nội dung, trong đó nội dung thứ 9 nói về cấp nước sạch và vệ
sinh môi trường nông thôn.
7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế,
công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện
môi trường sinh thái trên địa bàn xã. Đến năm 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến
năm 2020 có 80% số xã đạt chuẩn. [12].
+ Nội dung:
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn;
- Nội dung 2: Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn
xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước
trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải
tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây
xanh ở các công trình công cộng .
- Mô hình DPSIR
* Khái niệm về mô hình DPSIR: Do tổ chức Môi trường Châu Âu (EEA) xây
dựng vào năm 1999, được viết tắt của 5 từ anh ngữ [9]:
- Driving Forces (D), có nghĩa là lực. Lực điều khiển (Dự án EIR dịch là
động lực), lực điều khiển có tình khái quát nào đang tác động lên môi trường
của địa bàn đang được xem xét, ví dụ: Sự gia tăng dân số, công nghiệp hoá, đô
thị thị hoá.
- Pressure (P), có nghĩa là áp lực. Áp lực lên nhân tố môi trường. Ví

trường, cam kết bảo vệ môi trường;
+ Căn cứ Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-
CP, ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá tác động môi
trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;
+ Nghị định 59/2007/ NĐ - CP ngày 09/04/2007 về quản lí chất thải rắn;
+ Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc ban hành Tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu;
+ Căn cứ quyết định số 17/2001/ QĐ - BXD ngày 07/08/2001 của Bộ Xây
Dựng định mức dự toán chuyên nghành vệ sinh môi trường - công tác thu gom vận
chuyển, xử lí rác;
+ Quyết định số 22/2006 QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về việc áp dụng TCVN về môi trường;
9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Quy định số 367-BVTV/QĐ về việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật
sử dụng ở Việt Nam do Cục Bảo vệ thực vật ban hành;
+ Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn;
+ Căn cứ Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của
Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết
số 26- NQ/TW xác định nhiệm vụ xây dựng “ Chương trình mục tiêu Quốc gia về
xây dựng nông thôn mới”;
+ Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
+ Căn cứ Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 2/2/2010 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;

+ Căn cứ Thông tư số 17/2010/TT-BXD ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Bộ
Xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dụng và quy hoạch
đô thị;
+ Căn cứ Quyết định số 1125/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2012 của
UBND tỉnh Cao Bằng về việc phê duyệt định mức chi phí lập quy hoạch xây dựng
xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Một số đặc điểm về hiện trạng môi trường trên thế giới
Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn về môi
trường: khí hậu biến đổi, nhiệt độ quả đất đang nóng lên, mực nước biển đang dâng lên,
sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các hệ sinh thái như rừng, đất ngập
nước đang bị co hẹp lại và phân cách nhau, tốc độ mất mát các loài ngày càng gia
tăng, ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề, dân số tăng nhanh, sức ép của công
nghiệp hóa và thương mại toàn cầu ngày càng lớn (Jennifer, 2010). Tất cả những thay
đổi đó đang ảnh hưởng rõ ràng đến công cuộc phát triển của tất cả các nước trên thế
giới và cả nước ta.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế trên thế giới ngày nay, không những đang dẫn
đến nhiều vấn về môi trường khó giải quyết, mà còn nẩy sinh nhiều vấn đề về chính trị
và xã hội đáng lo ngại, tranh dành tài nguyên thiên nhiên giữa các nước và giữa các
vùng, sự cách biệt giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước ngày càng xa, chiến
tranh sắc tộc, phe phái, lối sống sa đọa đang có nguy cơ phát triển.
11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chúng ta, cả thế giới, đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường, nhưng
cấp bách nhất là:
+ Rừng – “lá phổi của Trái đất” – đang bị phá hủy do hoạt động của loài
người;
+ Đa dạng sinh học đang giảm sút hàng ngày;


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

 Mất mát đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là tài nguyên vô giá kể từ khi xuất hiện trên Trái đất cách
đây khoảng 4 tỷ năm, các dạng sống tiếp tục phát triển và tiến hóa không ngừng để
tạo nên thế giới sinh vật rất đa dạng.
Từ khi cuộc sống trên Trái đất phồn thịnh, hành tinh của chúng ta có số lượng
loài hết sức đa dạng. Vào khoảng 250 triệu năm trước đây, trên Trái đất ước tính chỉ
có khoảng 250.000 loài sinh vật, nhưng từ khi các sinh vật chuyển được từ môi
trường biển cả lên môi trường đất liền, thì số loài tăng lên rất nhanh và hiện nay đã
có ít nhất khoảng vài ba triệu loài đang sinh sống trên Trái đất.
Có bao nhiêu loài đã bị tuyệt chủng trong những năm qua? Theo nghiên cứu
của các nhà khoa học thì ước tính đã có khoảng 40% số loài đã mất đi trong khoảng
từ 1970 đến 2000. Riêng các loài ở nước ngọt đã mất đi khoảng 50%.Vì thế cho
nên, việc bảo tồn đa dạng sinh học là hết sức quan trong trong công cuộc xóa đói
giảm nghèo mà chúng ta đang đeo đuổi trong sự phát triển xã hội ở nước ta. [30].
 Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần
Trái đất là một hành tinh xanh, có nhiều nước, nhưng 95,5% lượng nước có
trên Trái đất là nước biển và đại dương. Lượng nước ngọt mà loài người có thể sử
dụng được chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngọt có trên Trái đất. Cuộc sống
của tất cả chúng ta và nhiều loài sinh vật khác phụ thuộc vào lượng nước ít ỏi đó.
Lượng nước quý giá đó đang bị suy thoái một cách nhanh chóng do các hoạt động
của con người và con người đang phải vật lộn với sự thiếu hụt nước ngọt tại nhiều
vùng trên thế giới.
Các hoạt động của con người đã làm giảm sút một cách đáng kể số lượng và
chất lượng nguồn nước ngọt của thế giới. Các hoạt động thiếu quy hoạch hợp lý như
ngăn sông, đắp đập, chuyển đổi đất ngập nước, phá rừng, thải các chất thải sinh hoạt
và công nghiệp ngày càng nhiều, đến mức thiên nhiên không thể phân hủy kịp, đã
và đang gây ô nhiễm đất, nước, không khí. Trong lúc đó, nhu cầu ngày càng tăng

động cơ chạy dầu đã được sử dụng một cách rộng rãi, đã trở thành cơ sở của xã hội
ngày nay.
Tuy nhiên, ngày nay, tất cả các nước, đang phải đối đầu với một vấn đề là xã
hội lệ thuộc vào chất đốt hóa thạch. Ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên thế giới
chỉ còn sử dụng được trong vòng 40 năm nữa, dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và
than đá là khoảng 120 năm. Nếu chúng ta vẫn bị lệ thuộc vào chất đốt hóa thạch, thì
chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng cao và sẽ phải đối
đầu với sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên này trong thời gian
không lâu.
14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

 Tiêu thụ năng lượng ngày càng gia tăng
Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi người quan
tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện tích rộng và dân số
lớn, đang là những nước đang phát triển nhanh tại châu Á. Đặc biệt là Trung Quốc,
có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang tăng sức tiêu thụ nguồn năng
lượng này một cách nhanh chóng.
Ở Trung Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này, từ 961 triệu tấn
(tương đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần
gấp đôi trong khoảng 10 năm. Tất nhiên, lượng CO
2
thải ra cũng tăng lên bằng gần
1/2 lượng 13 thải của Mỹ năm 2000, và đến nay, Trung Quốc đã trở thành nước thải
lượng khí CO
2
lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ năm 2007.
 Hạn hán bất thường tại những vùng sản xuất lương thực lớn
Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng thêm, nó còn mang theo

tăng dân số là 1,7%/năm. Tình trạng quá đông dân số loài người trên Trái đất đã đạt
trung bình khoảng 33 người trên km2 trên đất liền (kể cả sa mạc và các vùng cực).
Với dân số như vậy, loài người đang ngày càng gây sức ép mạnh lên vùng đất có
khả năng nông nghiệp để sản xuất lương thực và cả lên những hệ sinh thái tự nhiên
khác.
 Tình hình nông thôn ở một số nước trên thế giới
* Nước Hàn Quốc:
Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa,
đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ. Trong khi đi thị sát
tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung Hy nhận
ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách
tự cứu lấy mình. Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ
nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn.
Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaulundong” được
đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970. “Saemaul” theo nghĩa
tiếng Hàn là “Sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong” có nghĩa là một
phong trào và cụm từ “Saemaulundong” có nghĩa là phong trào đổi mới cộng đồng.
Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên “Saemaulundong” được hiểu là “Phong trào
đổi mới nông thôn”. Sự ra đời kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông
thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những
kết quả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước. Tới năm
16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có
thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng
trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương
đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537
USD). Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ

nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình
sao cho linh hoạt hơn.
Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận
bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày
càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn. Sự
thật, ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông
nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều
doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại. Kinh doanh nông nghiệp
bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ
các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty
đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật
liệu cho nông dân sử dụng. Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ
XX đã tạo ra ít trang trại hơn nhưng các trang trại có quy mô lớn hơn nhiều. Đôi khi
được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử
dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn. Vào năm 1940, có 6 triệu
trang trại và trung bình mỗi trang trại khoảng 67 hecta. Đến cuối thập kỷ 1990, chỉ
có khoảng 2,2 triệu trang trại nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 hecta.
Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh từ
12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập kỷ 1990 dù cho
dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi. Vào năm 1900, một nửa lực lượng lao động là
nông dân nhưng đến cuối thế kỷ này chỉ còn 2% lao động trong các trang trại. Và
gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần
thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang
trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình. Chi phí đầu tư vốn cao, cho đất đai và trang
thiết bị khiến cho việc dành toàn bộ thời gian làm việc trên trang trại là cực kỳ khó
khăn cho hầu hết mọi người.[1]
* Nước Trung Quốc
Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng. Trung Quốc
đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn. Đến năm 2009, thu nhập bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status