SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"KỸ THUẬT NÔNG LÂM KẾT HỢP NHẰM CẢI TẠO ĐẤT ĐỒI
NÚI"
Trang
1
PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan Sơn là huyện miền núi, vùng cao, biên giới, nằm về cực bắc của tỉnh Thanh Hóa.
Huyện có địa hình bán sơn địa với tổng diện tích tự nhiên là 93.017,03 ha. Trong đó diện
tích:
+ Đất nông nghiệp: 82.273,11 ha; chiếm 88,45% diện tích tự nhiên toàn huyện
- Đất sản xuất nông nghiệp: 2.521,16 ha; chiếm 2,71%;
- Đất cho sản xuất lâm nghiệp: 79.682,21 ha; chiếm 85,66%;
+ Đất phi nông nghiệp: 2.688,84 ha; chiếm 2,89%;
+ Đất chưa sử dụng: 8.055,08 ha; 8,66%.
Với hơn 36.636 người sinh sống. Trong đó có 6 xã giáp vùng biên giới và có 4 dân tộc
cùng sinh sống đó là: Thái, H.Mông, Kinh, Mường. Do trình độ dân trí chưa cao, sản xuất
manh mún, đời sống gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển. Tình hình
quản lý sử dụng đất đai trong những năm qua còn nhiều bất cập hiệu quả sử dụng đất
chưa cao ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội và ổn định đời sống nhân
dân trong huyện.
Trong khi đó đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều kiện không thể
thiếu cho hoạt đông sản xuất và đời sống con người. Việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất
đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả lâu dài.Trong thời kỳ công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước việc sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng tránh gây lãng phí hạn chế sự hủy
hoại đất và tránh phá vỡ môi trường sinh thái. Ngành lâm nghiệp có tác dụng rất lớn đối
với nền kinh tế có nhiều mặt không chỉ cung cấp đặc sản rừng mà còn tác dụng giữ đất,
Trang
2
Năm 2010
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
Tổng diện tích tự nhiên 93.017,03 100
1 Tổng diện tích đất nông nghiệp 82.273,11 88,45
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 2.521,16 2,71
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 1.543,40 1,66
- Đất trồng lúa 1.195,10 1,28
- Đất bằng trồng cây hàng năm khác 348,3 0,37
1.1.2 Đất trồng cỏ 0,97 0,00
1.1.3 Đất trồng cây lâu năm 976,79 1,05
- Đất trồng cây ăn quả lâu năm 976,79 1,05
1.2 Đất lâm nghiệp 79.682,21 85,66
1.2.1 Đất rừng sản xuất 48.623,99 52,27
- Rừng tự nhiên 35.091,00 37,73
- Rừng trồng 9.816,73 10,55
- Đất trống 3.716,26 4,00
1.2.2 Đất rừng phòng hộ 31.058,22 33,39
- Rừng tự nhiên 26.869,84 28,89
Trang
4
TT MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT
Năm 2010
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
- Rừng trồng 1.513,46 1,63
- Đất trống 2.674,92 2,88
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 69,74 0,07
cho một hộ gia đình, bố trí trên một phần đồi hay cả quả đồi, cây trồng trên mô hình này
được phân bổ như sau:
* Rừng ở đỉnh và sườn cao, diện tích 1- 2 ha, trồng các loại cây lâm nghiệp như: Mỡ, bồ
đề, bạch đàn, keo để lấy gỗ, giữ nước và ngăn chặn xói mòn, những năm đầu cây lâm
nghiệp còn nhỏ ta có thể trồng xen các cay hoa màu ngắn ngày như dứa, đỗ, lạc để tận
dụng,cải tạo đất, đồng thời chăm sóc và ngăn chặn cỏ dại cho cây trồng chính.
* Diện tích 0,5 – 1 ha ở sườn đồi để làm nương ta có thể trồng lúa nước theo phương thức
ruộng bực thang, có đào rãnh và đắp bờ đất ngang đốc để giữ nước. Nhiều nơi đã trồng
xen đỗ lạc giữa các hàng cây hoặc các băng cây cốt khí hay cây gỗ, rộng 1 – 2m cách
nhau 10 -15m ngang dốc để giữ nước, làm phân xanh hoặc lấy gỗ củi.
Trang
6
* Ở chân đồi với diện tích từ 0,2– 0,3 ha, nơi thấp nhất, gần thung lũng, gần đường đi lại,
bà con trồng các loại cam, chanh, bưởi, táo,ổi, quyết… và các cây có giá trị hàng hoá
khác ở quanh nhà. Đối với hình thức canh tác trên đất đã bị bạc màu, thoái hoá, một số
giải pháp kỹ thuật nhằm chống xói mòn, tăng năng suất cây trồng sau đây thường được
áp dụng như sau:
Giải pháp kỹ thuật Mô tả
1. Cải tạo đất nơi có địa hình dốc
Hàng rào cây xanh Các loài cây họ đậu, cốt khí, đậu
triều,
Làm rãnh chống xói mòn Chủ yếu dựa vào kinh nghiệm
truyền thống
Tạo ruộng bậc thang khoảng cách
nhỏ
Dựa vào kinh nghiệm của địa
phương
Cây che phủ (lưu niên) Trồng cây ăn quả lưu niên (Nhãn,
ải, xoài )
Trồng xen vụ cây lương thực Ngô, đậu, lạc .
Diện tích đất đai ở khu vực vùng núi cao này chủ yếu là 2 nhóm đất: (1) Đất nâu vàng,
loại đất này có màu phổ biến là nâu vàng, thành phần cơ giới nặng, tầng đất trung bình và
dày thoát nước tốt, hình thát phẫu diện tương đối đồng nhất, cấu trúc khá tốt và bền. Tuy
nhiên một số nơi đất đã bị rửa trôi xói mòn, thoái hoá do sử dụng không hợp lý đất trở
nên khô cằn, nghèo dinh dưỡng. Loại đất này thường thích hợp với cây lâm nghiệp, cây
ăn quả, cây công nghiệp.(2) Đất mùn vàng đỏ trên núi, loại đất này nằm ở vùng núi cao.
Trang
8
Do địa hình cao dốc hiểm trở nên đất thường bị xói mòn mạnh, mặt khác do quá trình
phong hoá yếu nên đa số đất có phẫu diện không dày. Đất có phản ứng chua vừa đến ít
chua, hàm lượng mùn cao. Đất mùn vàng đỏ trên núi thích hợp cho áp dụng các phương
thức nông lâm kết hợpnhư sau:
Áp dụng các kỹ thuật luân canh tốt như: Luân canh cây lương thực, cây hoa màu họ đậu.
Canh tác và trồng các loại hoa màu dọc theo các đường đồng mức để chống xói mòn, giữ
đất và giữ nước. Sử dụng toàn bộ chất hữu cơ dư thừa có sẵn (các phẩm vật dư thừa sau
thu hoạch, phân động vật) để bón cho đất, chất hữu cơ có tác dụng cải tạo đất làm cho đất
tơi xốp và tăng độ phì của đất.
Đa dạng hoá cây trồng bao gồm cả trồng cây lâu năm. Cây lâu năm có giá trị phòng hộ
đặc biệt trên đất dốc. Cây ăn quả và cây công nghiệp có thể được trồng thành các vườn
nhỏ hoặc xen lẫn cây nông nghiệp, trồng rừng và bảo vệ rừng ở khu vực cao nhất của
trang trại. Các khu rừng này vừa có tác dụng bảo vệ đất và nước đồng thời cho sản phẩm
gỗ, củi phục vụ sinh hoạt. Bảo vệ đất trong giai đoạn bỏ hoá. Sử dụng các chất liệu che
phủ mặt đất bảo vệ đất khỏi phơi ra nắng gắt, bị bào mòn do gió và mưa.
Nuôi gia súc nhốt trong chuồng hay buộc tại chỗ. Vì chăn thả tự do có thể là nguyên
nhân gây ra xói mòn ở vùng cao. Đồng thời bà con không kiểm soát được bệnh dịch của
gia xúc, gia cẩm,và các vật nuôi dẽ bị chết rét về mùa đông.
3. Lợi ích từ các hệ thống nông lâm kết hợp.
3.1 Các lợi ích từ nông lâm kết hợp
Trong thực tiễn sản xuất cũng như nhiều công trình nghiên cứu trung và dài hạn ở nhiều
nơi trên thế giới đã cho thấy nông lâm kết hợp là một phương thức sử dụng tài nguyên
3.3.1. Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên đất và nước
Qua nhiều năm nghiên cứu nông lâm kết hợp phối hợp với các kết quả nghiên cứu về sinh
thái học, nông nghiệp, lâm nghiệp và khoa học đất đã cho thấy các hệ thống nông lâm kết
hợp nếu được thiết kế và quản lý thích hợp sẽ có khả năng giảm dòng chảy bề mặt và xói
mòn đất duy trì độ mùn và cải thiện lý tính của đất và phát huy chu trình tuần hoàn dinh
dưỡng, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây trồng và vật nuôi. Nhờ vậy làm gia
tăng độ phì của đất, tăng hiệu quả sử dụng đất và giảm sức ép của dân số gia tăng lên tài
nguyên đất (Young, 1997).
Bên cạnh đó, trong các hệ thống nông lâm kết hợp do hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng
của cây trồng cao nên làm giảm nhu cầu bón phân hóa học, vì thế giảm nguy cơ ô nhiễm
các nguồn nước ngầm (Young, 1997).
3.3.2. Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học.
Nông lâm kết hợp cung cấp một phần lâm sản cho nông hộ, đồng thời nông lâm kết hợp
có thể làm giảm tốc độ khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên. Mặt khác, nông lâm kết hợp là
phương thức tận dụng đất có hiệu quả nên làm giảm nhu cầu mở rộng đất nông nghiệp
bằng khai hoang rừng. Chính vì vậy mà canh tác nông lâm kết hợp sẽ làm giảm sức ép
của con người vào rừng tự nhiên, giảm tốc độ phá rừng (Young,1997). Các hộ nông dân
qua canh tác theo phương thức này sẽ dần dần nhận thức được vai trò của cây thân gỗ
trong việc bảo vệ đất, nước và sẽ có đổi mới về kiến thức, thái độ có lợi cho công tác bảo
tồn tài nguyên rừng.
Việc phối hợp các loài cây thân gỗ vào nông trại đã tận dụng không gian của hệ thống
trong sản xuất làm tăng tính đa dạng sinh học ở phạm vi nông trại và cảnh quan.
Chính vì các lợi ích trên mà nông lâm kết hợp thường được chú trọng phát triển trong
công tác quản lý vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên
Trang
11
3.3.3. Nông lâm kết hợp và việc làm giảm hiệu ứng nhà kính.
Rất nhiều nhà nghiên cứu gợi ý rằng sự phát triển nông lâm kết hợp trên qui mô lớn có
thể làm giảm khí CO
2
Trang
12
Huyện có vị trí địa lý chiến lược quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của
khu vực miền núi và tỉnh Thanh Hóa;
Là vùng đầu nguồn của hệ thống sông Mã, có ý nghĩa rất lớn về vị trí phòng hộ, tạo
nguồn sinh thủy dự trữ nguồn nước, giảm tác động thiên tai và bảo vệ môi trường, tạo
cân bằng hệ sinh thái đối với cả tỉnh;
Trên địa bàn huyện có mạng lưới giao thông đường bộ đi qua như Quốc lộ 217, là tuyến
đường nối với đường 1A, cắt đường Hồ Chí Minh qua các trung tâm phát triển của các
huyện với nước bạn Lào. Là yếu tố thuận lợi cho việc giao lưu hợp tác và phát triển;
Gồm 6 xã giáp biên giới với 64 km đường biên với nước bạn Lào; có cửa khẩu quốc tế
Na Mèo và cửa khẩu tiểu ngạch Tam Thanh - Sầm Tớ, thuận lợi cho phát triển kinh tế
vùng biên, giao thương với nước bạn Lào, xây dựng biên giới hòa bình, hợp tác hữu nghị.
2. Địa hình địa mạo
Là huyện vùng cao, địa hình hiểm trở, diện tích bề mặt bị chia cắt mạnh bởi sông Luồng
và sông Lò, có các dãy núi cao kéo dài thành dải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam như:
Pù Mằn - Sơn Hà cao 1247m; Pa Panh - Sơn Điện - Sơn Lư, cao 1146-1346m; hướng núi
thấp dần từ tây sang đông, trên 91% diện tích là đồi núi, với độ dốc cụ thể như sau:
- Đất có độ dốc cấp I (< 3
o
): 4,48ha; chiếm gần 0,005% diện tích tự nhiên;
- Có độ dốc cấp II (4-8
o
): 214,86 ha; chiếm 0,23%;
- Có Độ dốc cấp III (9-15
o)
: 2.285,21 ha; chiếm 2,46%;
- Có độ dốc cấp IV, V,VI(> 15
o
): 90.512,48 ha; chiếm 97,31%.
bình năm cao, số giờ nắng cao, lượng mưa, ẩm độ lớn thích hợp cho thực vật, cây trồng
sinh trưởng và phát triển.
Trang
14
Nhưng bất lợi của thời tiết là luợng mưa phân bố không đều, tập trung vào mùa mưa nên
dễ gây ra hiện tượng lũ quét, lũ ống, sạt lở đất, đá lăn. Mùa đông ít mưa, khô hanh, rét
đậm, có xuất hiện sương giá và dễ gây nên hạn hán, cháy rừng. Mùa hè có gió Tây Nam
khô nóng, giông tố, mưa đá, bão, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.
4. Thủy văn
Hệ thống sông suối của Quan Sơn được phân bố như sau. Sông Luồng bắt nguồn từ Lào
chảy qua các xã Na Mèo, Mường Mìn, Sơn Thủy chảy ra Nam Động huyện Quan Hóa.
Sông Lò Bắt nguồn từ Lào chảy qua các xã Tam Thanh, Tam lư, Sơn Lư,Thị Trấn, Trung
Thượng, Trung Tiến, Trung Hạ, Trung Xuân, đổ về sông Mã và nhiều suối khác chảy về
sông Lò, sông Luồng. Sông suối dốc, tốc độ dòng chảy lớn về mùa mưa lũ, là nguy cơ
gây lũ quét, lũ ống, sạt lở đất 2 bên bờ sông, suối ảnh hưởng trực tiếp đến nhà ở và hoa
mầu của nhân dân
Tuy nhiên Các xã phân bố ở vùng cao đã được quan tâm làm bể chứa nước nhưng hiện
nay nước cấp sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cũng
như sản xuất của nhân dân
5. Các nguồn tài nguyên
5.1. Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 93.017,03 ha, bao gồm những loại đất sau:
+ Đất nông nghiệp: 82.273,11 ha; chiếm 88,45% diện tích tự nhiên toàn huyện
- Đất sản xuất nông nghiệp: 2.521,16 ha; chiếm 2,71%;
- Đất cho sản xuất lâm nghiệp: 79.682,21 ha; chiếm 85,66%;
+ Đất phi nông nghiệp: 2.688,84 ha; chiếm 2,89%;
Trang
15
+ Đất chưa sử dụng: 8.055,08 ha; 8,66%.
Đất chưa sử dụng hiện nay là 8.055,08 ha (chiếm 8,66% DTTN) có thể khai thác
phục vụ đời sống và góp phần chống xí mòn đất rất tốt Trong tương lai cần chú ý tăng
diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ rừng tăng độ che phủ rừng trong toàn huyện đảm bảo
cân bằng sinh thái và bảo vệ tài nguyên đất, chống xói mòn, bảo vệ sự đa dạng sinh học
và điều hòa nguồn nước.
Bên cạnh đó rừng và sản xuất ngành lâm nghiệp là thế mạnh của huyện Quan Sơn được
thể hiện trong các Nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh tế của huyện.
Theo kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng tại Quyết định 2755/2007/QĐ-UBND ngày
12-9-2007 của UBND tỉnh Thanh Hóa; Quyết định 346/QĐ-UBND ngày 26/01/2011 của
UBDN tỉnh Thanh Hoá
Diện tích đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp đến là 79.682,21 ha chiếm 85,66% tổng
diện tích tự nhiên toàn huyện; trong đó rừng phòng hộ 31.058,22 ha; rừng sản xuất
48.623,99 ha.
Trữ lượng rừng ước tính có khoảng 2,3 triệu m
3
gỗ; 60 triệu cây luồng; 170
triệu cây tre nứa. Rừng giàu và rừng trung bình phân bố ở các dãy núi cao dọc biên
giới với Lào, xa đường giao thông và khu dân cư, chủ yếu là rừng phòng hộ đầu
nguồn.
Trang
17
Hệ thực vật rừng phong phú, đa dạng; các loài gỗ quý như Sến, Táu mật, Dổi, De, Vàng
Tâm đang suy giảm nhanh do khai thác chọn gỗ tốt. Họ tre nứa có rừng Luồng trồng,
Nứa, Vầu, Giang tự nhiên. Rừng trồng chủ yếu là rừng Luồng, trữ lượng không cao do
khai thác mạnh hàng năm. Luồng là nguồn nguyên liệu cho sản xuất bột giấy trong Dự án
vùng nguyên liệu giấy của nhà máy giấy Châu Lộc đang thi công. Do khai thác nhiều
năm rừng Luồng đang bị thoái hóa, cần được cải tạo, trồng lại, bảo vệ và tổ chức khai
thác sử dụng hợp lý có hiệu quả.
5.4. Tài nguyên động vật hoang dã
Trên địa bàn còn nhiều loài thú hoang dã như: lợn rừng, nai, hổ, khỉ, gấu, gà lôi Đây là
nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá có ý nghĩa lớn về môi trường - sinh thái, khoa học
2
, đoạn chảy qua huyện dài 48km.
Sông Lò tổng chiều dài sông là: 74,5 km, diện tích lưu vực 792 km
2
. Đoạn chảy trên địa
bàn huyện dài trên 38 km.
Hệ thống sông suối của Quan Sơn có nhiều tiềm năng cho xây dựng các hồ, đập phục vụ
tưới thuỷ lợi; có nhiều vị trí có thể xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ, bổ sung
điện năng cho lưới điện Quốc gia và phục vụ phát triển sản xuất như: Na Mèo (trên sông
Luồng); Trung Thượng, Tam Lư, Trung Xuân (trên sông Lò)
5.7.Môi trường cảnh quan
Môi trường Quan Sơn về hiện trạng chưa bị ô nhiễm, tuy nhiên với tốc độ phát triển như
hiện nay công tác bảo vệ môi trường cần phải được trú trọng nhất là các khu trung tâm
Trang
19
như trung tâm huyện lỵ, cửa khẩu Na Mèo, đường tiểu nghạch Tam Thanh chợ Na Mèo
phải có chi tiết cụ thể về cơ sở hạ tầng để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội thì vấn đề bảo vệ môi trường cải tạo đất là hết
sức cần thiết. Tạo mô hình canh tác chống xói mòn, rửa trôi đất thâm canh tăng vụ và
luân canh để tăng hệ số sử dụng đất, hạn chế sử dụng các chất gây ô nhiễm đất, bảo vệ
môi trường đất. Bố trí cây trồng hợp lý, khai thác có hiệu quả quý đất, bảo vệ tốt diện tích
rừng hiện có, đẩy mạnh việc trồng rừng, phủ xanh các diện tích đồi núi chưa hay có thảm
thực vật mỏng cần được bảo vệ đồng thời khoanh nuôi tái sinh rừng. Đối với các chất thải
cần được xử lý trước khi đưa ra môi trường. Đối với các khu dân cư, khu đô thị cần có
diện tích đất trồng cây xanh, trồng rừng tạo phong cảnh, tôn tạo và giữ gìn cảnh quan môi
trường xanh, sạch, đẹp.
6. Điều kiện kinh tế xã hội
Huyện Quan Sơn có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp gần như cuộc sống
của người dân phụ thuộc vào cây vầu, nứa, luông. Người dân nơi này mới biết khai thác
trứ chưa biết khoanh nuôi và bảo về rừng.
huyện Quan Sơn.
Dựa vào thực trạng việc khai thác và sử dụng đất đồi hiện tại của huyện Quan Sơn với
những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong những năm tới, cũng như khả năng về lao động và
vốn đầu tư là cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp phục hồi khả năng cải tạo đất đồi
Trang
21
đem lại hiệu quả kinh tế kết hợp bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai và môi trường làm tăng
diện tích đất sản xuất.
2.1. Các nguyên nhân dẫn đến suy thoái đất
2.1.1. Thoái hóa đất do các yếu tố tự nhiên
Quan Sơn là một huyện miền núi nên có địa hình đa phần là đồi, núi nên có độ dốc lớn,
phần lớn người dân canh tác trên đất dốc. Khi thay đổi về khí hậu, sinh thái, đặc biệt là
thảm thực vật dễ dẫn đến hiện tượng xói mòn trượt lở, rửa trôi là suy thoái hóa học, mất
chất dinh dưỡng và chất hữu cơ. Những năm gần đây huyện Quan Sơn luôn phải hứng
chịu thời tiết khắc nghiệt như: hạn hán kéo dài, lúc có mưa thì mua to kéo dài dẫn đến sạt
lở, lũ quét xảy ra gây cuốn trôi nhà cửa hoa màu, rửa trôi lớp đất mặt canh tác.
Các quá trình trượt lở, rửa trôi, xói mòn, xói lở gây ra mạnh mẽ, lớp thổ nhưỡng chịu ảnh
hưởng và thay đổi do quá trình này. Đất ở các khu vực bị xói mòn, rửa trôi, hàm lượng
mùn giảm, độ phì nhiêu giảm.
Đặc biệt trong năm 2012 xuất hiện, hiện tượng động đất và đầu năm 2013 ở huyện còn
xuất hiện, hiện tượng mưa đá làm thiệt hại hoa màu của bà con nông dân.
2.1.2. Thoái hóa đất do quá trình xói mòn.
Trong các nguy cơ gây xói mòn đất ở Quan Sơn thì xói mòn do nước là nguy cơ chủ đạo
phổ biến nhất bởi các lý do sau:
+ Lượng mưa lơn, phân bố không đều, tập trung trong năm 70 – 80% trong tháng 6,7,8.
+ Địa hình dốc: Đất có độ dốc > 15
0
gồm 90.512,48 ha; chiếm 97,31% tổng diện tích đất
tự nhiện của huyện.
+ Khả năng chống đỡ kẽm của cây trồng và cây rừng.
ra nhân diện rộng… Vì vậy năng suất sản lượng cây lương thực trên địa bàn huyện ngày
càng tăng.
Chăn nuôi huyện thường xuyên đẩy mạnh công tác chăn nuôi gia súc gia cầm cơ bản đã
đáp ứng nhu cầu sức kéo và nhu cầu thực phẩm cho nhân dân.
Ngoài ra còn có nuôi cá ở các khu vực xã. Công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc,
gia cầm thường xuyên được quan tâm chăm sóc vì vậy đã ngăn chăn kịp thời các nguồn
bệnh dịch như lở mồn long móng ở gia xúc và cúm H5N1 ở gia cầm.
Nhìn chung, trong những năm gần đây phong trào phát triển chăn nuôi tại huyện khá
đồng bộ. Công tác chăm sóc phòng trừ thường xuyên được quan tâm, phun phòng trừ khử
chuồng trại và tiêm phòng theo quy định.
2.2.2. Lâm nghiệp .
Diện tích đất lâm nghiệp của huyện 79.682,21 ha; chiếm 85,66%;diện tích tự nhiên, trước
đây do tình trạng phá rừng làm nương rẫy, khai thác rừng bừa bãi đã làm cho diện tích và
chất lượng rừng trên địa bàn huyện suy giảm rất nhiều, không còn rừng nguyên sinh mà
chỉ còn là những cánh rừng thứ sinh nghèo kiệt và đồi trọc. Thảm thực vật tự nhiên chủ
yếu là các loại cây tái sinh. Ngoài ra còn các thảm thực vật trồng rừng thường là keo lai,
xoan, lát và các loại vầu, nứa,luồng…
Trên diện tích rừng được giao khoán người dân đa phần nuôi bảo vệ, có một số hộ trồng
phủ xanh lỗ trống bằng những loài sinh trưởng nhanh: Xoan, keo… Hoặc trồng luồng….
Với những diện tích đồi trống người dân tiến hành trồng phủ xanh bằng nguồn cây giống
do tỉnh hỗ trợ từ các dự án 327 sao đen, xoan, dự án trồng cây nguyên liệu giấy. Thực
hiện công tác giao đất giao rừng huyện đã tập trung khoanh nuôi bảo vệ tái sinh rừng và
trồng rừng để phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Nhưng đến nay vấn có một số nơi vẫn còn
Trang
24
diện tích đất trống đồi núi trọc. Hàng năm huyện được tỉnh cung cấp từ 600 – 80000 cây
giống lâm nghiệp để nhân dân trồng dặm bổ sung quanh nhằm tăng tốc độ che phủ rừng.
2.2.3. Nhu cầu nông lâm nghiêp và thị trường tiêu thụ
Quan Sơn là một huyện miền núi nên người dân ở đây chủ yếu vấn đang sử dụng nguyên
liệu đốt là gỗ, củi. Vì vậy nhu cầu gỗ phục vụ cho sinh hoạt là tương đối lớn.