Một số kinh nghiệm giảng dạy giúp học viên hệ vừa làm vừa học tại trung tâm GDTX tỉnh nhớ vị trí cuả các loại tính từ tiếng anh - Pdf 24

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong ngữ pháp tiếng Anh, tính từ là một trong những từ loại cơ bản. Tính từ
tiếng Anh có các dạng thức như: dạng thường (positive adjectives), dạng so sánh
hơn/ so sánh tương đối (comparative adjectives) và so sánh nhất/ so sánh tuyệt đối
(superlative adjectives). Việc học tính từ tiếng Anh rất quan trọng đặc biệt là nhớ vị
trí tính từ trong cụm từ và trong câu bởi chúng được sử dụng trong các cuộc hội
thoại hàng ngày. Càng luyện tập chúng nhiều, người học càng tiến gần đến việc làm
chủ tiếng Anh, ngôn ngữ mà mình đang học.
Ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Tỉnh, học viên ở trình độ rất khác nhau:
một số đã được học tiếng Anh ở trường phổ thông, một số chưa được học hoặc học
quá lâu không còn nhớ gì về tiếng Anh nữa. Nhưng nhìn chung, trình độ của các học
viên không cao, khả năng tiếp thu môn ngoại ngữ còn chậm. Bên cạnh đó, theo lịch
học của mình, học viên phải học liên tục cả sáng và chiều, khối lượng kiến thức phải
nhớ quá nhiều, không có thời gian luyện tập. Điều đó có ảnh hưởng ít nhiều đến kết
quả học của học viên và gây cho học viên không ít khó khăn trong việc học bộ môn
Tiếng Anh nói chung và việc học ngữ pháp về vị trí của tính từ trong cụm từ và
trong câu nói riêng. Với mong muốn được chia sẻ với các đồng nghiệp những kinh
nghiệm tích lũy được trong những năm gần đây tôi quyết định chọn đề tài: "Một số
kinh nghiệm giảng dạy giúp học viên hệ vừa làm vừa học tại trung tâm GDTX
tỉnh nhớ vị trí cuả các loại Tính từ tiếng Anh". Tôi mong các đồng nghiệp của
mình sẽ tìm được điều gì đó hữu ích khi đọc đề tài này.
1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận
Xuất phát từ cơ sở lý luận của quá trình dạy học và phương pháp dạy học tích
cực, cũng như ở các môn học khác, phương pháp giảng dạy Tiếng Anh trong thời kỳ
đổi mới là phải lấy người học làm trung tâm, luôn phát huy tính sáng tạo, vai trò chủ
động học tập của học viên. Với phương pháp này , giáo viên dạy những gì học viên
cần, học viên thiếu. Dựa theo năng lực của học viên, giáo viên sử dụng những
phương pháp giảng dạy thích hợp phát huy tính tự học, tính sáng tạo của học viên
nhằm đưa giờ giảng của mình có hiệu quả nhất. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người

cũng đưa vào trong phần lý thuyết của mình. Giáo viên cũng đưa các trường hợp
ngoại lệ vào bài tập để học viên nhớ lâu hơn, bằng cách đó giáo viên có thể giúp học
viên nắm được bài kỹ hơn. (Phần ngữ liệu này thường được đưa trước cho học viên
để học viên có thể chuẩn bị trước ở nhà.)
2. Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, học viên hay mắc những lỗi về vị trí của
tính từ trong câu và cũng thường nhầm lẫn giữa cách sử dụng dạng so sánh hơn và
so sánh nhất của tính từ. Một bộ phận học viên lại nhớ một cách máy móc. Họ nhầm
tưởng cứ sau mạo từ "the" là phải dùng dạng so sánh nhất . Để giúp học viên sửa
những lỗi này, giáo viên phải nhấn mạnh đến cách sử dụng các dạng thức của tính từ
thông qua những ví dụ cụ thể.
3. Đối với tình trạng lớp quá đông, học viên không được sửa lỗi có thể lặp lại
chính những lỗi đó vào những lần sau, giáo viên cho học viên làm bài tập theo nhóm
để những học viên học khá, hiểu bài hơn sẽ giúp những học viên kém hơn phát hiện
và sửa lỗi của mình. Giáo viên chỉ quan sát, thu thập những lỗi cơ bản của các học
viên trong lớp để sửa. Thỉnh thoảng giáo viên có thể đưa ra những bài tập tìm lỗi sai
và sửa lỗi để học viên làm và từ đó họ sẽ không mắc những lỗi tương tự như vậy
nữa. Học từ lỗi của mình và lỗi của người khác là một cách học rất có hiệu quả.
3
IV. Cách thức tổ chức thực hiện
1. Để chuẩn bị cho bài giảng của mình trên lớp thật tốt, tôi thường soạn trước
phần lý thuyết để giúp học viên hiểu sơ qua về phần học sắp được tiếp thu và cũng
làm tài liệu để học viên xem lại ở nhà. Ở phần lý thuyết, tôi cố gắng soạn một cách
cụ thể , rõ ràng với những ví dụ đơn giản để học viên dễ hiểu, dễ nhớ.
Tính từ có thể làm tính từ (attributive use) hoặc bổ ngữ (predicate use).
a. Làm tính từ
– Khi làm tính từ,, tính từ tiếng Anh thường đứng trước danh từ.
Ví dụ: It is a hot day.
This is a new car.
Nam will become a good worker.
– Những trường hợp đặc biệt:

6. The corn waved in the wind (ripe, golden)
7. Vietnam is a country (rich and beautiful)
8. I found him still in his bed (asleep)
9. Aren’t these oranges (delicious)?
10. Is she a girl (pretty)?
2.Do ảnh hưởng của tiến mẹ đẻ, học viên thường mắc lỗi trong việc xác định vị trí
của tính từ trong câu. Ở tiếng Việt, tính từ thường đứng sau danh từ, đại từ mà nó bổ
nghĩa dù tính từ đó làm vị ngữ hay định ngữ trong câu.Ví dụ: Bông hoa này đẹp.
Bông hoa đẹp kia là hoa cẩm chướng.
Cô ấy đẹp quá.
Trong tiếng Anh, khi tính từ bổ nghĩa cho danh từ trong ngữ danh từ, tính từ luôn
đứng trước danh từ theo thứ tự nhất định như sau:
1. Determiners/limiting xác định từ/giới hạn (a, an, her, five, many, some,
several, five)
5
2. Opinion/judgment (ý kiến/phê phán) (ugly, pretty, smart, cheap)
3. Size (bề lớn) (big, fat, thin, gigantic, tall, large)
4. Shape (hình thể) (circular, square, fat, tall, short)
5. Age (tuổi) (new, modern, old, young, 10 years old)
6. Color (mầu sắc) (yellow, green, pink, white)
7. Origin (nguồn gốc) (American, English, Asian, Italian (shoes) Chinese)
8. Material (chất liệu) (cotton, wood, plastic, glass, gold)
9. Purpose (mục đích) (sleeping bag, computer table, football field)
=> Ðể cho dễ nhớ thứ tự của 9 phân loại, hãy nhớ ba vần Dos-sha-Comp:
DOSShACOMP là những chữ đầu viết tắt của 9 phân loại tính từ kể trên.
Ví dụ:
- We live in the big, white and red house at the end of the street (Chúng tôi ở một
ngôi nhà lớn sơn mầu trắng và đỏ ở cuối phố)
Trên thực tế, người ta thường dùng hai hay ba tính từ. A delicious green apple; a
large woolen suit; a beautiful small modern house; a nice new car (xe mới đẹp); a

trên lớp vào lần tới.
Exercise: Find and correct mistakes.
1. This is a blue nice big hat
2. I like the Japanese black jacket
3 .This is a poet famous
4. I want to buy a house new with a garden large
5. I don’t know how to generate this blue big machine

Cách chữa này rất có hiệu qủa vì nếu giáo viên chỉ chữa lỗi vào bài tập của
học viên thì chỉ có học viên đó biết và sửa lỗi, còn những em khác không được
chấm sẽ không biết cách sửa lỗi của bạn và có thể họ lặp lại những lỗi đó vào lần
khác.
7
Ngoài ra để học viên làm quen với các dạng bài tập có thể gặp trong thi học
phần, tôi cho các em làm thêm các dạng bài tập sau:
Exercise 1: Choose the best answer.
1. This food tastes ……………… .
A. delicious B. careful C. deliciously D. carefully
2. He is ………… student.
A. a good B. a better C. a best D. the best
3 ………………… is nice.
A. Small car my B.My car small C.Small my car D.My small car
4. After taking some medicines, you will feel ………… .
A. well B. better C. good D. A & B
Exercise 2: Find mistakes and correct them.
1. It is a house big.
……………………………………………………………………………….
2. My secretary is very beautifully.
……………………………………………………………………………….
3. This soup tasted terribly.

bằng cách soạn bài trước cho học viên dưới dạng tư liệu để học viên có thể tự
nghiên cứu trước ở nhà. Trên lớp tôi chỉ trả lời những thắc mắc của học viên về ngữ
liệu và cho học viên luyện thêm những bài tập tổng hợp.Tôi cũng thay đổi cách sửa
lỗi cho học viên theo hướng tích cực, tạo cho các em tâm lý học thoải mái hơn. Do
được luyện ngữ liệu nhiều và cách sửa lỗi của giáo viên phù hợp hơn nên mặc dù
trình độ đầu vào của K3A và K4 không cao nhưng kết quả thi học phần của các em
là khá tốt: 10% TB, 80% khá, 10% giỏi.
Học viên của lớp văn bằng 2 tiếng Anh là những giáo viên tiếng Pháp có trình
độ, tiếp thu kiến thức nhanh, nhiệt tình, say mê học tập. Họ nắm ngữ liệu rất nhanh
và gần như rất ít mắc lỗi khi làm bài tập. Kết quả của học viên lớp này rất cao: 40%
khá, 60% giỏi.
Sau đó, tôi được phân công giảng dạy tiếng Anh cho học viên các lớp liên kết.
Với các lớp liên kết đầu tiên, tôi cũng dạy giống như các lớp tại chức chuyên
9
nghành. Nhưng kết quả thi học phần không như ý muốn vì đối với học viên hệ liên
kết họ chỉ cần nắm những kiến thức cơ bản của tiếng Anh, không sử dụng những
kiến thức chuyên sâu nên ở những lớp liên kết sau đó , tôi đã rút ngắn nội dung dạy
của mình lại, chỉ truyền đạt cho học viên những ngữ liệu các em cần. Sự thay đổi
trong nội dung và thủ thuật của tôi đã có kết quả khả quan hơn 20% - 40% TB và
60% -80% khá.
Trong quá trình tích lũy kinh nghiệm, tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp
của các đồng nghiệp trong Trung tâm cũng như nhận được sự chỉ dẫn góp ý của các
giảng viên, giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy ở các trường. Những ý
kiến góp ý ấy là những tư liệu quý báu góp thêm vào để những thủ thật, phương
pháp giảng dạy của tôi ngày càng hoàn thiện hơn.
II. Kiến nghị, đề xuất
Vì thời gian và phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm hẹp nên kinh nghiệm này
chỉ áp dụng cho hệ tại chức tiếng Anh tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên Tỉnh,
hơn nữa kinh nghiệm này chỉ được áp dụng ở ba khóa hệ tại chức tiếng Anh và một
số lớp tại chức hệ liên kết nên tôi cũng xin đề xuất tiếp tục áp dụng kinh nghiệm này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status