1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT ĐINH CHƯƠNG DƯƠNG
*******************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY THÔNG QUA ĐỔI
MỚI KIỂM TRA MIỆNG TRONG CÁC TIẾT DẠY
CHƯƠNG I SINH HỌC 12 CƠ BẢN
Người thực hiện : Đỗ Thị Sáng
Tổ : Hoá – Sinh
Trường : THPT Đinh Chương Dương
SKKN môn: Sinh học
Tháng 4- 2012
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
Phần I: Đặt vấn đề 1
Phần II. Gải quyết vấn đề 2
I.Cơ sở lý luận 2
II Cơ sở thực tiễn 3
III. Giải pháp tổ chức thực hiện 4
1. Chuẩn bị của giáo viên 4
2. Chuẩn bị của học sinh 5
3. Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra miệng 6
4 Các cách kiểm tra miệng 7 – 15
IV. Kết quả nghiên cứu 15
Phần III. Kết luận và kiến nghị 16
I. Kết luận 16
II. Kiến nghị 17
Tài liệu tham khảo 18
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong chương trình Sinh học 12 THPT, di truyền học là một phần nội
dung quan trọng, đặc biệt chương I “Cơ chế di truyền và biến dị” có nhiều nội
dung vừa dài vừa khó. Tuy nhiên thời lượng dành cho phần này lại rất ngắn.
Việc chủ động hoạt động tích cực của học sinh cũng gặp khó khăn nếu giáo viên
không có phương pháp dẫn dắt học sinh học tập phù hợp. Nếu sử dụng phương
pháp cũ là giảng giải minh hoạ học sinh nhớ máy móc kiến thức, ít nghiên cứu
sách giáo khoa, kiến thức thụ động rời rạc không có hệ thống. Khi giáo viên nêu
những câu hỏi thì học sinh trả lời nhưng chỉ có một vài học sinh được hoạt động
vì thời gian có hạn, còn hầu hết học sinh khác ngồi nghe câu trả lời của bạn, của
giáo viên, vì vậy học sinh ít được hoạt động, không được rèn luyện kĩ năng,
không có điều kiện bộc lộ kĩ năng hoạt động của bản thân. Giáo viên chỉ đánh
giá thông qua gọi kiểm tra chỉ ở một số học sinh hay trả lời câu hỏi. Do đó, đa số
học sinh tiếp thu kiến thức dưới dạng chấp nhận, không biết vận dụng kiến thức
vào việc giải bài tập và thực tế. Giáo viên dễ gặp phải tình trang cháy giáo án,
học sinh tiếp thu kiến thức không chọn vẹn.
3
Trước thực tế đó, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “ Nâng cao hiệu
quả giờ dạy thông qua đổi mới kiểm tra miệng trong các tiết dạy chương I
Sinh học 12 cơ bản”. Dựa trên những thành tựu của các tác giả đi trước, qua
thực tế giảng dạy bộ môn sinh học, trong đề tài này tôi chỉ đưa ra một số cách
kiểm tra miệng, xây dựng một số ví dụ cho các cách kiểm tra đó giới hạn trong
các bài dạy ở chương I “Cơ chế di truyền và biến dị” sinh học 12 cơ bản. Kết quả
của đề tài sẽ góp phần làm phong phú hơn các cách kiểm tra miệng trong các tiết
học Sinh học ở trường THPT, giúp các em chủ động hơn trong học tập, tích luỹ
kiến thức, rèn luyện kỹ năng đồng thời tạo không khí sinh động trong các giờ
học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện
nay.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh
thường chỉ đưa ra những câu hỏi phát vấn trao đổi với học sinh mà ít khi xem đó
là một hình thức kiểm tra miệng rất tích cực, do vậy thường không cho điểm để
khuyến khích học sinh. Dẫn đến tình trạng học sinh rất ngại xung phong lên
bảng, trả lời câu hỏi, lâu dần học sinh sẽ lười trả lời câu hỏi và nhác nghiên cứu
tài liệu mới, kiến thức cơ bản không được khắc sâu nên khi áp dụng vào kiểm tra
các em sẽ mau quên, kết quả làm bài thấp.
2. Đối với giáo viên
Đa số giáo viên trong trường nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công
việc giảng dạy và giáo dục học sinh. Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm giảng
dạy và chuyên môn nâng cao trình độ chuyên môn và kĩ năng sư phạm. Tuy
nhiên, nhiều giáo viên trẻ kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, đa số giáo viên
thiếu kinh nghiệm trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực, có thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao.
3. Đối với học sinh
Đối với học sinh công việc học bài cũ và chuẩn bị bài mới là thường
xuyên, liên tục trong cả quá trình học. Tuy nhiên, việc thực hiên công việc này
của đa số học sinh là rất chểnh mảng, điều này thể hiện ở việc các em rất ít xung
phong lên bảng, không chịu hoạt động trong việc chủ động tiếp thu bài mới, việc
các em trả lời câu hỏi kiểm tra bài cũ hầu như điểm rất thấp. Nhiều học sinh học
đối phó bằng cách học bài cũ xung phong lên bảng một hôm để lấy điểm cao sau
đó không bao giờ xung phong lên bảng nữa.
Trong các đề thi kiểm tra học kỳ (do Sở giáo dục hoặc trường ra) hoặc đề
thi tốt nghiệp (do Bộ giáo dục ra) bằng hình thức trắc nghiệm 100% nên nhiều
học sinh đã lơ là trong việc học bài cũ và thực hành các kỹ năng giải bài tập mà
chỉ trông mong vào sự may rủi trong việc làm bài trắc nghiệm.
Mặt khác, đa số học sinh trường tôi ở nông thôn, do hoàn cảnh gia đình
nên nhiều học sinh phải phụ giúp cha mẹ nên không có nhiều thời gian học tập,
tài liệu tham khảo hạn chế, kiến thức về bộ môn bị hổng nhiều nên nhiều em
chưa thật sự yêu thích bộ môn này. Điều này dẫn đến ý thức tự giác học tập của
nhiều em chưa cao. Nhiều em thụ động không học bài cũ, không chuẩn bị bài
tri thức đã có, vận dụng phương pháp tư duy lôgic để giải quyết vấn đề. Như
vậy, câu hỏi mà giáo viên đưa ra phải làm sao giải quyết được thực chất của vấn
đề đã nêu, đồng thời phải phù hợp với mức độ tối thiểu kiến thức và kỹ năng mà
học sinh đã thu nhận được trong quá trình học tập. Câu hỏi đặt ra cho học sinh
phải chính xác, rõ để học sinh không hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến
việc trả lời lạc đề.
6
- Giáo viên có thể phải thiết kế lại các yêu cầu, bài tập trong sách giáo
khoa hay ra các bài tập tương tự để tránh việc các em sử dụng các đáp án trong
sách “Hướng dẫn học tốt” nhằm đối phó với giáo viên.
Mặc dù câu hỏi và cách giải quyết vấn đề đã được giáo viên chuẩn bị
trước, nhưng tùy theo tình hình học tập của học sinh trong buổi học, trong tiết
học mà giáo viên có thể thay đổi câu hỏi và cách giải quyết vấn đề cho phù hợp.
Trong giờ học, các câu trả lời của học sinh có thể không trả lời được nội dung tri
thức mà bài học đòi hỏi. Do vậy giáo viên phải chuẩn bị câu hỏi phụ hoặc chủ
động giảng giải cho học sinh hiểu được vấn đề.
- Cột điểm Miệng trong sổ điểm cá nhân được chia thành 2 cột : M1 và M2.
Cột M1 sẽ ghi điểm cho học sinh trực tiếp lên bảng để trả lời hoặc làm bài tập.
Cột M2 được ghi điểm cho học sinh ngồi dưới lớp để trả lời hoặc làm bài tập.
Điểm miệng chính thức của học sinh là điểm trung bình cộng của M1 và M2
Lớp 12A
2
( HKI / 2011 -2012)
Số
TT
Họ và tên học sinh
M
M1 M2
1 Nguyễn Trọng Anh 8
- Thái độ và cách đối xử của giáo viên với học sinh có ý nghĩa to lớn trong
khi kiểm tra miệng. Giáo viên cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt
động của học sinh và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của học
sinh. Sự hiểu biết của giáo viên về cá tính học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm sư
phạm trong nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình
độ kiến thức và kỹ năng của học sinh được kiểm tra.
- Trong quá trình học sinh đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu
không có lí do gì cần thiết giáo viên cũng không nên ngắt lời của học sinh. Cùng
là một sai sót nhưng giáo viên phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào
thì nên đợi học sinh trả lời xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được
nhiều học sinh: trong lúc gọi một số học sinh lên bảng thì giáo viên ra cho các
học sinh ở dưới lớp câu hỏi khác sau đó sẽ thu vở nháp của một số em để chấm.
- Khi tổ chức kiểm tra thì giáo viên phải giải quyết các khó khăn lớn sau
đây: khi một hay vài học sinh được chỉ định lên bảng thì các học sinh khác trong
lớp cần phải làm gì và làm như thế nào. Giáo viên gọi nhiều em cùng một lúc,
đưa ra yêu cầu khác nhau phù hợp với trình độ của mỗi học sinh sau đó đặt các
câu hỏi cho cả lớp sau khi các học sinh này hoàn thành xong nhiệm vụ của mình
như sau: “ Bạn trả lời như vậy có đúng không?”, “Các em có đồng ý với câu trả
lời đó của bạn không?”, “ Có điểm nào sai hoặc thiếu không ?”… Ngoài những
câu cơ bản, giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi phụ trong quá trình kiểm tra
miệng. Nhờ những câu hỏi bổ sung đó mà giáo viên có thể hình dung được chất
lượng kiến thức của học sinh.
4. Các cách kiểm tra miệng:
Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong
các tiết dạy. Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu,
tạo không khí sinh động trong lớp học và giúp học sinh học tập có hiệu quả hơn.
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kỹ
năng mà giáo viên có thể áp dụng các cách kiểm tra miệng khác nhau.
8
HS 4: có thể trả lời câu hỏi bổ sung của giáo viên đưa ra.
Sau khi học sinh trả lời xong, giáo viên nhận xét, bổ sung để khắc sâu kiến
thức cho học sinh, đồng thời cho điểm. Học sinh trả lời nhanh và hoàn chỉnh
nhất được cho điểm vào cột M1. Các học sinh khác được cho điểm vào cột M2.
Đây là hình thức kiểm tra đơn giản nhất, dễ thực hiện, có thể áp dụng cho
việc kiểm tra bài cũ hoặc củng cố bài. Với cách này học sinh sẽ bớt đi tâm lý lo
sợ, e ngại khi kiểm tra miệng và có được nhiều sự lựa chọn hơn.
Cách 2:
9
Cách thực hiện : Gọi học sinh để trả lời một câu hỏi mà các em đã được học
và củng cố rất kỹ trong tiết trước (5 điểm), câu thứ hai do một bạn (đang ngồi
dưới lớp) hỏi em một câu trong bài đã học ở tiết trước để em trả lời (2 điểm), câu
thứ 3 do chính em học sinh này hỏi một bạn khác (đang ngồi dưới lớp) (3 điểm).
Số điểm mà em học sinh này đạt được sẽ được ghi vào cột M1, số điểm mà 2 học
sinh khác do đặt câu hỏi đúng hoặc trả lời đúng sẽ được ghi vào cột M2. Sau một
thời gian quen dần cần nâng cao yêu cầu câu hỏi của học sinh đặt ra cho bạn
mình.
Ví dụ: Kiểm tra bài cũ kiến thức phần quá trình nhân đôi AND:
Câu hỏi: Trình bày diên biến của qua trình nhân đôi ADN?
HS: Trả lời
HS khác trong lớp đặt câu hỏi bổ sung:
Vì sao trên mỗi chạc chữ Y, một mạch được tổng hợp liên tục còn mạch kia
được tổng hợp ngắt quãng?
HS đó có thể ra câu hỏi cho một học sinh khác trong lớp:
Nguyên tắc bổ sung, nguyên tác bán bảo tồn là gì?
Lưu ý: Khi thực hiên cách kiểm này giáo viên cần phải linh hoạt gợi ý cho học
sinh đặt câu hỏi cho phù hợp với nội dung cần kiểm tra, để không bị lạc đề và đỡ
tốn thời gian vào bài mới.
Cách kiểm tra để tự học sinh đặt câu hỏi này không chỉ áp dụng cho kiểm
tra miệng mà còn có thể áp dụng với cả khi kiểm tra củng cố cuối bài. Để phát
A. 7. B. 14. C. 35. D. 21.
3. Ở cà độc dược 2n = 24. Số dạng đột biến thể ba được phát hiện ở loài này là
A. 12. B. 24. C. 25. D. 23.
4. Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên mỗi cặp tương
đồng được gọi là
A. thể ba. B. thể ba kép. C. thể bốn D. thể tứ bội
5. Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên 1 cặp tương đồng
được gọi là
A. thể ba. B. thể ba kép. C. thể bốn. D. thể tứ bội
5. Ở người, một số bệnh di truyền do đột biến lệch bội được phát hiện là
A. ung thư máu, Tơcnơ, Claiphentơ. B. Claiphentơ, Đao, Tơcnơ.
C. Claiphentơ, máu khó đông, Đao. D. siêu nữ, Tơcnơ, ung thư máu.
6. Rối loạn phân li của nhiễm sắc thể ở kì sau trong phân bào là cơ chế làm phát
sinh đột biến
A. lệch bội. B. đa bội. C. cấu trúc NST. D. số lượng NST.
7. Sự không phân ly của một cặp nhiễm sắc thể tương đồng ở tế bào sinh dưỡng
sẽ
A. dẫn tới trong cơ thể có dòng tế bào bình thường và dòng mang đột biến.
B. dẫn tới tất cả các tế bào của cơ thể đều mang đột biến.
C. chỉ có cơ quan sinh dục mang đột biến.
D. chỉ các tế bào sinh dưỡng mang đột biến.
8. Ở cà chua 2n = 24. Khi quan sát tiêu bản của 1 tế bào sinh dưỡng ở loài này
người ta đếm được 22 nhiễm sắc thể ở trạng thái chưa nhân đôi. Bộ nhiễm sắc
thể trong tế bào này có kí hiệu là
A. 2n – 2 B. 2n – 1 – 1 C. 2n – 2 + 4 D. A, B đúng.
9. Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên 2 cặp tương đồng
được gọi là
A. thể ba. B. thể ba kép. C. thể bốn. D. thể tứ bội
10. Phép lai AAaa x AAaa tạo kiểu gen AAaa ở thế hệ sau với tỉ lệ
11
huy được tính tích cực của học sinh.
b. Cách kiểm tra phát huy tính tích cực của học sinh:
Mặc dù theo cách dạy truyền thống có rất nhiều phương pháp rất tích cực
như vấn đáp, nêu vấn đề… Nhưng sinh học là môn học có rất nhiều tiết học
mang tính đặc thù riêng, không thể áp dụng một phương pháp giảng dạy cố hữu
nào. Để bài giảng thêm phong phú, tiết học sôi nổi, phát huy được tính tích cực
12
của học sinh, học sinh trở thành trung tâm của giờ học, tuỳ theo đặc trưng của
từng tiết học có thể áp dụng cách này hay cách khác hoặc áp dụng kết hợp nhiều
phương pháp khác nhau, tiết học mới có hiệu quả. Đặc biệt, việc kết hợp kiểm
tra miệng trong tiết học tôi đã áp dụng mang lại hiệu quả rất cao, có thể phát huy
tính tích cực của học sinh, các em có thể chủ động tiếp thu kiến thức, mạnh rạn
hơn trong việc trả lời các câu hỏi, thể hiện sự hiểu biết của bản thân, bộc lộ khả
năng của chính mình. Dưới đây là một số cách kết hợp kiểm tra miệng trong các
tiết dạy mà tôi đã thực hiện:
b.1. Trong tiết học lí thuyết:
* Đối với cá nhân:
Cách 1:
Cách thực hiện : Sau khi giáo viên nêu nội dung cần nghiên cứu, yêu cầu
học sinh nghiên cứu kĩ nội dung đó. Sau đó giáo viên gọi một học sinh đặt một
câu hỏi về vấn đề đó cho một bạn bất kì trong lớp trả lời, các học sinh khác chú ý
theo dõi, nhận xét câu hỏi và câu trả lời của 2 bạn, giáo viên nhận xét, bổ sung
thống nhất nội dung của vấn đề và cho điểm 2 học sinh vào cột M2.
Lưu ý: Với cách kiểm tra này, sẽ khó thực hiện khi đối tượng học sinh có
học lực yếu, kém. Do vậy, nội dung học sinh nghiên cứu cần được giới hạn cụ
thể, phù hợp với từng đối tượng học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh
chuẩn bị bài mới trước ở nhà bằng cách lập dàn ý cho bài mới bằng hệ thống câu
hỏi và tự trả lời.
Ví dụ: Khi dạy bài Đột biến gen, giáo viên có thể cho học sinh tự nghiên
cứu nội dung phần I.2. Các dạng đột biến gen trong thời gian 3 phút, sau đó một
+ Giai đoạn kéo dài chuỗi pôlipeptit:
- Các axit amin kế tiếp nhau được vận chuyển vào ribôxom như thế nào?
- Nguyên tắc bổ sung được thể hiện như thế nào?
- Khi nào ribôxom dịch chuyển trên mARN? Theo chiều nào? mỗi bước dịch
chuyển của ribôxom gồm mấy bộ ba?
+ Giai đoạn kết thúc: Khi nào ribôxom rời khỏi mARN?
Sau đó giáo viên cho học sinh xem đoạn phim minh hoạ. Yêu cầu học sinh thảo
luận trình bày quá trình dịch mã.
Lưu ý: Để phát huy tính tích cực của tất cả các nhóm và các thành viên
trong từng nhóm giáo viên cần: ghi nhận những nhóm thường xuyên có câu trả
lời đúng, hoạt động tích cực, cho điểm vào cột M2. Thường xuyên đổi vai trò
nhóm trưởng của các thành viên trong nhóm, tránh để cho một vài thành viên
luôn trả lời, còn các thành viên khác thì không có chính kiến của mình.
b.2. Trong tiết thực hành:
Cách thực hiện : Đây là một kỹ năng rất quan trọng, nếu thực hiện tốt thì
việc kiểm tra miệng học sinh kỹ năng này sẽ có tác dụng rất lớn đối việc khuyến
khích các em học môn sinh học. Tuy nhiên tùy theo trình độ của các em mà giáo
viên nên có những yêu cầu phù hợp nhằm khuyến khích và động viên các em
thực hành. Trong giờ thực hành tùy theo các nội dung mà tôi sẽ yêu cầu các em
thực hành theo cặp, nhóm hoặc cá nhân. Tôi cũng cho học sinh điểm thực hành
của kỹ năng này. Đối với kỹ năng này tôi chỉ áp dụng những nội dung vừa sức
với các em. Hoặc có thể cho điểm cộng cho các em xung phong thực hành trước
lớp theo cặp hoặc nhóm.
Sau khi hướng dẫn, gợi ý và làm mẫu với một học sinh khá trong lớp, tôi
yêu cầu học sinh thực hành theo cặp, hoặc nhóm học tập. Trong thời gian các em
14
đang thực hành, tôi có thể đi quanh để giúp đỡ các em nếu thấy cần thiết. Sau
khoảng 8- 10 phút tôi gọi một vài cặp hoặc nhóm đứng lên thực hành, báo cáo
kết quả sau đó nhận xét và cho điểm.
Ví dụ: Khi học Bài 7: Thực hành: Quan sát các dạng đột biến số lượng NST
’
GGXATATTTXGXTGGGGXATA…3
’
- Bài 2, chương II: Trong phép lai giữa hai cá thể có kiểu gen sau đây:
AaBbCcDdEe X aaBbccDdee
Tôi thường thay kiểu gen của cặp bố mẹ đem lai:
Ví dụ: AabbCcDdEe X AaBbCcddEe ……………….
b.4. Trong tiết học ôn tập:
Cách thực hiện : Áp lực thời gian trong tiết ôn tập là rất lớn vì vừa phải ôn
phần lí thuyết vừa phải tải phần bài tập nên thời gian dành cho việc kiểm tra học
15
sinh bị hạn chế. Với tiết này sẽ giúp cho học sinh có điều kiện ôn tập lí thuyết,
củng cố và rèn luyện kỹ năng giải bài tập (đây là phần được gặp rất nhiều trong
các đề thi, kiểm tra định kỳ).
Trong tiết này tôi sẽ phát bài tập gồm 10 câu trắc nghiệm khách quan cho cả
lớp làm trong 10 phút, đồng thời gọi 3 học sinh lên bảng, mỗi em làm 1 câu bài
tập tự luận. Sau 10 phút tôi thu bài của 5 em học sinh bất kỳ và giao cho 5 em
khác chấm, 2 em học sinh trên bảng vẫn tiếp tục giải trong khi giáo viên sửa 10
câu trắc nghiệm. Sau đó giáo viên thu lại bài của 5 em được chấm và kiểm tra
lại, ghi điểm vào cột M2. Tiếp tục hướng dẫn cách làm bài tự luận trên bảng và
yêu cầu 3 học sinh chấm chéo cho nhau, giáo viên vừa sửa cho cả lớp vừa quan
sát để cho điểm.
4.3. Đối với kiểm tra miệng cuối tiết học
Đây là khâu rất quan trọng giúp giáo viên có thể đánh giá được khả năng
tiếp thu kiến thức của học sinh trong tiết học. Tuy nhiên, thời gian dành cho khâu
củng cố lại rất ngắn, nhiều khi không còn thời gian. Do vậy không thể yêu cầu
học sinh trả lời nhiều câu hỏi hết toàn bộ nội dung của bài học.
a. Cách củng cố bài truyền thống:
Theo cách dạy truyền thống, giáo viên thường yêu cầu học sinh trả lời các
câu hỏi cuối bài, hoặc chỉ đơn giản là nhắc lại nội dung của bài học. Với cách
kết quả như sau:
* Ở lớp không áp dụng đề tài trên:
+ Tình trạng học sinh nhác học vẫn phổ biến, nhiều em không chuẩn bị bài ở nhà
trước khi đến lớp, các em bị động trong các câu hỏi của giáo viên, không khí tiết
học trầm,……
+ Điểm kiểm tra miệng của các em không cao, có nhiều em bị điểm không (vì
các em lười học bài cũ).
+ Điểm trung bình học kỳ môn của các em thấp hơn.
* Ở lớp áp dụng đề tài trên:
- Sau một kì áp dụng phương pháp mới này, bản thân tôi cũng như học sinh gặp
rất nhiều khó khăn, tuy nhiên bước đầu chúng tôi đẫ làm quen dần với các cách
kiểm tra miệng trên lớp, một số biểu hiên tích cực như:
+ Không khí tiết học trở nên nhẹ nhàng hơn, sôi nổi hơn, các em chủ động hơn
trong việc trả lời câu hỏi, một số học sinh có thể tự tin đặt câu hỏi cho các bạn,
tự tin trình bày những hiểu biết của bản thân về vấn đề học tập, tham gia hoạt
động nhóm sôi nổi và có hiệu quả….
+ Học sinh tích cực học bài cũ và chuẩn bị bài mới trước ở nhà, tích cực nghiên
cứu bài mới trên lớp.
+ Hầu hết học sinh của tôi có điểm kiểm tra miệng cao hơn năm trước, số em bị
điểm kém rất thấp, không có em bị điểm 0.
+ Điểm trung bình môn học kỳ cũng được tăng lên rõ rệt.
* Cụ thể: Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng, và điểm trung bình môn học kì
I năm học 2011 – 2012 giữa lớp đối chứng (không áp dụng đổi mới kiểm tra
miệng) và lớp thực nghiệm (áp dụng các cách đổi mới kiểm tra miệng) như sau:
17
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng học kỳ I năm học 2011-2012
Lớp Tổng số
học sinh
8-10
điểm
-3.4
12A
11
Lớp đối chứng
40 1 3 23 10 3
2.5% 7.5% 57.5% 25% 7.5%
12A
2
Lớp thực nghiệm
42 6 10 21 5 0
14.3% 23.8% 50% 11.9% 0%
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục phải gắn liền với đổi mới kiểm tra
đánh giá trong đó đổi mới kiểm tra miệng là một khâu vô cùng quan trọng và
mang tính cấp bách mà giáo viên phải thực hiện thường xuyên để nâng cao chất
lượng giáo dục và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình
lĩnh hội kiến thức. Rõ ràng qua một năm áp dụng đề tài này, tôi nhận thấy không
khí lớp học đã sinh động hẳn, thái độ học tập của các em mang tính tự giác cao,
các em không còn tư tưởng học chỉ để đối phó. Hơn nữa kết quả học tập của học
sinh cũng được cải thiện đáng kể. Chính điều đó cũng là động lực giúp giáo viên
nhiệt tình, phấn chấn hơn trong các giờ dạy. Thông qua các hình thức kiểm tra
miệng thường xuyên này, giáo viên sẽ phát hiện được khả năng của học sinh
cũng như biết được em nào còn yếu kém để kịp thời giúp đỡ các em bổ sung
kiến thức và kỹ năng. Ngoài ra còn giúp giáo viên điều chỉnh quá trình dạy học
của mình cho phù hợp với trình độ hiểu biết, nhận thức của học sinh.
Tuy nhiên để áp dụng những cải tiến này một cách hiệu quả, đòi hỏi sự
chuẩn bị rất chu đáo của giáo viên. Giáo viên phải thiết kế lại các câu hỏi, trong
sách giáo khoa và ra thêm các dạng bài tập sát với các đề kiểm tra, đề thi. Ngoài
ra giáo viên phải đánh giá thật công bằng, khách quan, thái độ cư xử phải tế nhị,
2. Thái Duy Tuyên – Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới. NXB Giáo
dục 2008.
20