SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY THÔNG QUA
ĐỔI MỚI KIỂM TRA MIỆNG TRONG CÁC TIẾT
DẠY CHƯƠNG 1 SINH HỌC 12 CƠ BẢN"
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong những năm qua, việc thực hiện đổi mới ngành giáo dục nói
chung, giáo dục phổ thông nói riêng chúng ta đã thu được những kết
quả đáng khích lệ. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại cần
tiếp tục đổi mới, bổ sung. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW
Đảng khóa VIII đã chỉ rõ con đường đổi mới giáo dục - đào tạo phải
bằng “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục
lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của
người học”.
Điều đó đặt ra yêu cầu cho việc dạy học cần phải tăng cường nhiều hơn
nữa việc đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học,
cần phải nghiên cứu và triển khai việc áp dụng các phương pháp dạy
học hiện đại để bồi dưỡng cho HS sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng
lực tự giải quyết vấn đề.
Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới
phương pháp giảng dạy thì vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu
hết sức quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập. Đổi mới
phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá là hai hoạt động có
liên quan chặt chẽ với nhau. Đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực đổi
mới phương pháp dạy học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đào
tạo. Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm nhiều khâu, nhiều nội dung,
nhiều công đoạn trong đó việc đổi mới kiểm tra miệng là khâu hết sức
quan trọng vì đây là một hoạt động diễn ra thường xuyên liên tục. Kiểm
tra miệng không chỉ là kiểm tra ở đầu giờ mỗi tiết học mà cũng có thể
diễn ra xuyên suốt trong một tiết học. Nếu giáo viên lơ là không thực
hiện tốt việc kiểm tra miệng thì quá trình tiếp thu kiến thức của học
cách kiểm tra đó giới hạn trong các bài dạy ở chương I “Cơ chế di
truyền và biến dị” sinh học 12 cơ bản. Kết quả của đề tài sẽ góp phần
làm phong phú hơn các cách kiểm tra miệng trong các tiết học Sinh học
ở trường THPT, giúp các em chủ động hơn trong học tập, tích luỹ kiến
thức, rèn luyện kỹ năng đồng thời tạo không khí sinh động trong các
giờ học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà
trường hiện nay.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều
chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất
lượng học tập của học sinh. Kiểm tra thường xuyên giúp cho giáo viên
điều chỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà môn học đề
ra đồng thời sẽ giúp cho học sinh hình thành được động cơ, thái độ học
tập đúng đắn từ đó tích lũy được kiến thức, kỹ năng cần thiết.
Kết hợp với kiểm tra thường xuyên nên dành một phần điểm vào kiểm
tra miệng để gắn liền quyền lợi và trách nhiệm cho học sinh. Bởi vì nếu
giáo viên không kiểm tra miệng thường xuyên học sinh sẽ nhanh chóng
lãng quên việc chuẩn bị bài gây khó khăn trong quá trình giảng dạy của
giáo viên và quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh. Do đó, việc kiểm
tra miệng thường xuyên hơn sẽ giúp học sinh hình thành thói quen
trong việc học bài cũ và chuẩn bị bài mới rất có ích cho giáo viên và
học sinh trong quá trình thực hiện tiết dạy.
Việc đổi mới kiểm tra miệng ngay tại lớp không những giúp
không khí học tập sinh động mà còn giúp học sinh tránh được lối học
vẹt, học thụ động, học đối phó từ đó phát huy được tính tích cực, chủ
động của học sinh và đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Thực trạng chung
Qua thực tế giảng dạy, học tập và rút kinh nghiệm, tôi nhận thấy
các em rất ít xung phong lên bảng, không chịu hoạt động trong việc chủ
động tiếp thu bài mới, việc các em trả lời câu hỏi kiểm tra bài cũ hầu
như điểm rất thấp. Nhiều học sinh học đối phó bằng cách học bài cũ
xung phong lên bảng một hôm để lấy điểm cao sau đó không bao giờ
xung phong lên bảng nữa.
Trong các đề thi kiểm tra học kỳ (do Sở giáo dục hoặc trường ra) hoặc
đề thi tốt nghiệp (do Bộ giáo dục ra) bằng hình thức trắc nghiệm 100%
nên nhiều học sinh đã lơ là trong việc học bài cũ và thực hành các kỹ
năng giải bài tập mà chỉ trông mong vào sự may rủi trong việc làm bài
trắc nghiệm.
Mặt khác, đa số học sinh trường tôi ở nông thôn, do hoàn cảnh
gia đình nên nhiều học sinh phải phụ giúp cha mẹ nên không có nhiều
thời gian học tập, tài liệu tham khảo hạn chế, kiến thức về bộ môn bị
hổng nhiều nên nhiều em chưa thật sự yêu thích bộ môn này. Điều này
dẫn đến ý thức tự giác học tập của nhiều em chưa cao. Nhiều em thụ
động không học bài cũ, không chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Để đối
phó với giáo viên các em thường dùng sách “Học tốt Sinh học”, hoặc
“Sách giải bài tập” mà không chịu khó học bài cũ, nghiên cứu bài mới
hay thực hành các kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Tất cả những yếu tố trên làm cho học sinh lười nhác, thụ động trong
học tập, chất lượng dạy và học không cao.
III.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Như trên đã nói việc kiểm tra để lấy điểm miệng không chỉ thực
hiện vào đầu của mỗi tiết học mà tùy theo từng kỹ năng, kiến thức có
thể thực hiện vào đầu, giữa hay cuối của tiết học. Muốn thực hiện được
việc kiểm tra miệng đạt kết quả thì cần có những nội dung sau:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Để nâng cao hiệu quả giờ day thông qua việc đổi mới phương
pháp kiểm tra miệng, công tác chuẩn bị của giáo viên rất quan trọng,
đặc biệt là chuẩn bị bài soạn. Bài soạn không phải là khuôn mẫu để
vấn đề cho phù hợp. Trong giờ học, các câu trả lời của học sinh có thể
không trả lời được nội dung tri thức mà bài học đòi hỏi. Do vậy giáo
viên phải chuẩn bị câu hỏi phụ hoặc chủ động giảng giải cho học sinh
hiểu được vấn đề.
- Cột điểm Miệng trong sổ điểm cá nhân được chia thành 2 cột :
M1 và M2.
Cột M1 sẽ ghi điểm cho học sinh trực tiếp lên bảng để trả lời hoặc làm
bài tập. Cột M2 được ghi điểm cho học sinh ngồi dưới lớp để trả lời
hoặc làm bài tập. Điểm miệng chính thức của học sinh là điểm trung
bình cộng của M1 và M2
Lớp 12A
2
( HKI / 2011 -2012)
Số
TT
Họ và tên học sinh
M
M1 M2
1 Nguyễn Trọng Anh 8
2 Phạm Văn Anh 3
3 Lê Thế Anh 6 7
4 Nguyễn Thị Bình 8 9
5 Nghuyễn Đình Cường 9, 9 8
6 Vũ Văn Chung 5
7 Nguyễn Văn Dậu 7
8 Phạm Văn Diện 2 7
9 Đỗ Thị Dung 7 7
10 Đinh Thị Dung 9
…
sinh. Cùng là một sai sót nhưng giáo viên phải biết sai sót nào nên sửa
ngay và sai sót nào thì nên đợi học sinh trả lời xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được
nhiều học sinh: trong lúc gọi một số học sinh lên bảng thì giáo viên ra
cho các học sinh ở dưới lớp câu hỏi khác sau đó sẽ thu vở nháp của một
số em để chấm.
- Khi tổ chức kiểm tra thì giáo viên phải giải quyết các khó khăn lớn
sau đây: khi một hay vài học sinh được chỉ định lên bảng thì các học
sinh khác trong lớp cần phải làm gì và làm như thế nào. Giáo viên gọi
nhiều em cùng một lúc, đưa ra yêu cầu khác nhau phù hợp với trình độ
của mỗi học sinh sau đó đặt các câu hỏi cho cả lớp sau khi các học
sinh này hoàn thành xong nhiệm vụ của mình như sau: “ Bạn trả lời
như vậy có đúng không?”, “Các em có đồng ý với câu trả lời đó của
bạn không?”, “ Có điểm nào sai hoặc thiếu không ?”… Ngoài những
câu cơ bản, giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi phụ trong quá trình
kiểm tra miệng. Nhờ những câu hỏi bổ sung đó mà giáo viên có thể
hình dung được chất lượng kiến thức của học sinh.
4. Các cách kiểm tra miệng:
Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên
tục trong các tiết dạy. Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự
nhàm chán đơn điệu, tạo không khí sinh động trong lớp học và giúp
học sinh học tập có hiệu quả hơn.
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến
thức, kỹ năng mà giáo viên có thể áp dụng các cách kiểm tra miệng
khác nhau.
4.1. Đối với kiểm tra đầu tiết dạy
a. Cách kiểm tra truyền thống:
Gọi 1 hoặc 2 học sinh lên bảng trả lời câu hỏi bài cũ, hoặc giáo viên
nêu câu hỏi sau đó lấy tinh thần xung phong của học sinh. Cách kiểm
tra này hiệu quả không cao vì:
Sau khi học sinh trả lời xong, giáo viên nhận xét, bổ sung để khắc sâu
kiến thức cho học sinh, đồng thời cho điểm. Học sinh trả lời nhanh và
hoàn chỉnh nhất được cho điểm vào cột M1. Các học sinh khác được
cho điểm vào cột M2.
Đây là hình thức kiểm tra đơn giản nhất, dễ thực hiện, có thể áp dụng
cho việc kiểm tra bài cũ hoặc củng cố bài. Với cách này học sinh sẽ bớt
đi tâm lý lo sợ, e ngại khi kiểm tra miệng và có được nhiều sự lựa chọn
hơn.
Cách 2:
Cách thực hiện : Gọi học sinh để trả lời một câu hỏi mà các em đã
được học và củng cố rất kỹ trong tiết trước (5 điểm), câu thứ hai do một
bạn (đang ngồi dưới lớp) hỏi em một câu trong bài đã học ở tiết trước
để em trả lời (2 điểm), câu thứ 3 do chính em học sinh này hỏi một bạn
khác (đang ngồi dưới lớp) (3 điểm). Số điểm mà em học sinh này đạt
được sẽ được ghi vào cột M1, số điểm mà 2 học sinh khác do đặt câu
hỏi đúng hoặc trả lời đúng sẽ được ghi vào cột M2. Sau một thời gian
quen dần cần nâng cao yêu cầu câu hỏi của học sinh đặt ra cho bạn
mình.
Ví dụ: Kiểm tra bài cũ kiến thức phần quá trình nhân đôi AND:
Câu hỏi: Trình bày diên biến của qua trình nhân đôi ADN?
HS: Trả lời
HS khác trong lớp đặt câu hỏi bổ sung:
Vì sao trên mỗi chạc chữ Y, một mạch được tổng hợp liên tục còn
mạch kia được tổng hợp ngắt quãng?
HS đó có thể ra câu hỏi cho một học sinh khác trong lớp:
Nguyên tắc bổ sung, nguyên tác bán bảo tồn là gì?
Lưu ý: Khi thực hiên cách kiểm này giáo viên cần phải linh hoạt gợi ý
cho học sinh đặt câu hỏi cho phù hợp với nội dung cần kiểm tra, để
không bị lạc đề và đỡ tốn thời gian vào bài mới.
Cách kiểm tra để tự học sinh đặt câu hỏi này không chỉ áp dụng
đồng đều chứa nhiều cặp gen dị hợp. Nếu không xảy ra đột biến gen,
đột biến cấu trúc NST và không xảy ra hoán vị gen, thì loài này có thể
hình thành bao nhiêu loại thể ba khác nhau về bộ NST?
A. 7. B. 14. C. 35. D.
21.
3. Ở cà độc dược 2n = 24. Số dạng đột biến thể ba được phát hiện ở
loài này là
A. 12. B. 24. C. 25. D.
23.
4. Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên mỗi cặp
tương đồng được gọi là
A. thể ba. B. thể ba kép. C. thể bốn D. thể
tứ bội
5. Cơ thể mà tế bào sinh dưỡng đều thừa 2 nhiễm sắc thể trên 1 cặp
tương đồng được gọi là
A. thể ba. B. thể ba kép. C. thể bốn. D. thể
tứ bội
5. Ở người, một số bệnh di truyền do đột biến lệch bội được phát hiện
là
A. ung thư máu, Tơcnơ, Claiphentơ. B. Claiphentơ, Đao,
Tơcnơ.
C. Claiphentơ, máu khó đông, Đao. D. siêu nữ, Tơcnơ, ung
thư máu.
6. Rối loạn phân li của nhiễm sắc thể ở kì sau trong phân bào là cơ chế
làm phát sinh đột biến
A. lệch bội. B. đa bội. C. cấu trúc NST. D. số
lượng NST.
7. Sự không phân ly của một cặp nhiễm sắc thể tương đồng ở tế bào
sinh dưỡng sẽ
A. dẫn tới trong cơ thể có dòng tế bào bình thường và dòng mang
viên cháy giáo án không thể thực hiện được mục tiêu bài dạy của mình.
- Đối với cá nhân: Giáo viên thường chỉ đưa ra những câu hỏi
phát vấn, trao đổi với học sinh mà ít khi xem đó là một hình thức kiểm
tra miệng rất tích cực, không cho điểm khuyến khích học sinh. Học
sinh trả lời câu hỏi lệnh trong sách giáo khoa dựa theo sách hướng dẫn
học tốt. Trong cả tiết học chỉ có một số em chịu khó học xung phong
lên bảng trả lời câu hỏi, còn lại đa số không chủ động khi bị giáo viên
gọi trả lời thì giống như bị bắt cóc lên bảng nên câu trả lời lúng túng,
không chính xác, gây mất thời gian của tiết học.
- Đối với nhóm: Thường chỉ có một vài học sinh trong nhóm tập
trung làm việc, làm đại diện báo cáo kết quả hoạt động của nhóm, các
em khác không làm gì hoặc thụ động trả lời theo bạn mà không có
chính kiến của chính mình. Kết quả hoạt động nhóm ít khi được giáo
viên cho điểm do vậy không phát huy được hoạt động nhóm, sức mạnh
tập thể học tập, nhiều em trở nên lười nhác và thụ động trong tiếp thu
kiến thức.
- Với những cách kiểm tra tổ chức hoạt động học tập như trên
không phát huy được tính tích cực của học sinh.
b. Cách kiểm tra phát huy tính tích cực của học sinh:
Mặc dù theo cách dạy truyền thống có rất nhiều phương pháp rất
tích cực như vấn đáp, nêu vấn đề… Nhưng sinh học là môn học có rất
nhiều tiết học mang tính đặc thù riêng, không thể áp dụng một phương
pháp giảng dạy cố hữu nào. Để bài giảng thêm phong phú, tiết học sôi
nổi, phát huy được tính tích cực của học sinh, học sinh trở thành trung
tâm của giờ học, tuỳ theo đặc trưng của từng tiết học có thể áp dụng
cách này hay cách khác hoặc áp dụng kết hợp nhiều phương pháp khác
nhau, tiết học mới có hiệu quả. Đặc biệt, việc kết hợp kiểm tra miệng
trong tiết học tôi đã áp dụng mang lại hiệu quả rất cao, có thể phát huy
tính tích cực của học sinh, các em có thể chủ động tiếp thu kiến thức,
mạnh rạn hơn trong việc trả lời các câu hỏi, thể hiện sự hiểu biết của
học sinh nghiên cứu mục II. Đột biến cấu trúc NST và trả lời câu hỏi:
Phân biệt các dạng đột biến cấu trúc NST theo các nội dung: khái
niệm, hệ quả, hậu quả và ứng dụng?
- Với cách kiểm tra này, yêu cầu tất cả học sinh đều phải làm việc, bất
cứ em nào cũng được đánh giá thành quả học tập của mình bằng con
điểm cụ thể trong từng tiết học. Để được điểm cao, học sinh phải
nghiên cứu tài liệu, bài mới trước ở nhà, hoặc ít nhất các em cũng phải
chú ý, tích cực học tập trong tiết học.
* Đối với nhóm:
Cách thực hiện : Sau khi đọc câu hỏi hoặc phát phiếu học tập, giáo viên
yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm, hoàn thành nội dung yêu cầu
trong thời gian nhất định. Giáo viên gọi nhóm học sinh nào làm nhanh
nhất cử đại diện nhóm lên bảng sữa bài. Đồng thời giáo viên thu bài
làm của một vài nhóm khác bất kì để chấm điểm. Cuối cùng giáo viên
gọi học sinh ở các nhóm khác nhận xét bổ sung và cho điểm bài làm
của bạn trên bảng, giáo viên là người nhận xét cuối cùng và cho điểm
các cá nhân và nhóm.
Ví dụ : Khi dạy quá trình dịch mã trong bài Phiên mã và dịch mã:
Giáo viên có thể định hướng cho học sinh bằng hệ thống câu hỏi như
sau:
+ Giai đoạn mở đầu: 2 tiểu phần của ribôxom gắn vào mARN như thế
nào?
+ Giai đoạn kéo dài chuỗi pôlipeptit:
- Các axit amin kế tiếp nhau được vận chuyển vào ribôxom như
thế nào?
- Nguyên tắc bổ sung được thể hiện như thế nào?
- Khi nào ribôxom dịch chuyển trên mARN? Theo chiều nào? mỗi
bước dịch chuyển của ribôxom gồm mấy bộ ba?
+ Giai đoạn kết thúc: Khi nào ribôxom rời khỏi mARN?
Sau đó giáo viên cho học sinh xem đoạn phim minh hoạ. Yêu cầu học
số lượng NST trong từng cặp tương đồng trên tiêu bản.
Sau đó để dễ quan sát hơn, tôi cho học sinh quan sát qua máy
chiếu projector, học sinh tập xác định các cặp NST tương đồng trên
bản ảnh chụp bộ NST người và tập nhận biết các dạng đột biến NST
trên ảnh chụp.
Trong các tiết thực hành với nội dung khác nhau có thể tiến hành
theo những cách khác nhau. Tuy nhiên, kết hợp kiểm tra miệng trong
tiết thực hành như trên sẽ khuyến khích được các em hứng thú học môn
sinh học đồng thời rèn luyện cho các em có được các kĩ năng áp dụng
kiến thức vào thực tiễn đời sống và sản xuất ở gia đình và địa phuơng.
b.3. Trong tiết Bài tập:
Cách thực hiện : Đây là kỹ năng khó vì kiến thức của các em còn
hạn chế, mặt khác trong các tiết lí thuyết nội dung rất nhiều nên thời
gian để hướng dẫn học sinh hình thành các công thức tổng quát là rất ít.
Tôi thường thiết kế lại một số bài tập trong sách giáo khoa (để tránh
tình trạng học sinh dùng sách hướng dẫn để trả lời) đồng thời ra thêm