SKKN: một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra, đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn toán thpt - Pdf 24

SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
A.MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài.
Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại đại hội Đảng
lần XI đã khẳng định rằng chúng ta cần phải "Đổi mới căn bản, toàn diện
nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý
giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào
tạo….” điều đó khẳng định việc đổi mới giáo dục là nhiệm vụ vừa cấp
thiết vừa lâu dài đối với đất nước ta nói chung, ngành GD – ĐT nói riêng.
Để đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH thì việc đổi mới kiểm tra – đánh giá
(KT- ĐG) là một yêu cầu cần thiết, quan trọng và đó cũng là nhiệm vụ của
mỗi giáo viên. Đánh giá được tầm quan trọng của việc đổi mới KT - ĐG của
các cấp học nói chung, của cấp THPT nói riêng bộ GD và ĐT đã tổ chức
nhiều hội thảo, chuyên đề về đổi mới kiểm tra, đánh giá đồng thời đã phát
hành nhiều tài liệu, các công văn hướng dẫn thực hiện. Là một giáo viên
trẻ, với trách nhiệm và tâm huyết của mình tôi đã sớm ý thức được ý nghĩa
của việc đổi mới phương pháp dạy học cùng với việc tiếp thu các kiến thức
từ các chuyên đề do sở GD và ĐT Thanh Hóa tổ chức, nghiên cứu các tài
liệu liên quan để áp dụng vào thực tiễn dạy học, đó chính là lí do thứ nhất
để tôi chọn đề tài nghiên cứu này.
Qua kinh nghiệm dạy học tôi nhận thấy rằng việc kiểm tra, đánh giá
học sinh còn nhiều bất cập như: Ở một số lớp, một số bộ môn việc kiểm tra
ở lớp chưa thực sự nghiêm túc tình trạng học sinh không tự giác, thiếu
trung thực khi làm bài kiểm tra vẫn diễn ra. Việc biên soạn đề kiểm tra chưa
được đầu tư thỏa đáng và có chiều sâu ở một số giáo viên…Những bất cập
này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả đánh giá năng lực học tập của học
sinh. Đánh giá thiếu khách quan, không chính xác năng lực học tập của học
sinh sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hành vi, thái độ học tập của học sinh,
ảnh hưởng đến niềm tin của học sinh trong học tập và quan trọng hơn ảnh

trường THPT Hà Tông Huân – Yên Định)
IV.Giới hạn của đề tài:
Đề tài tập chung vào các phương pháp, biện pháp cụ thể về đổi mới
kiểm tra đánh giá áp dụng trong dạy học môn Toán THPT nói riêng, trong
dạy học nói chung.
V.Nhiệm vụ của đề tài:
Đề tài sẽ trả lời cho các câu hỏi khoa học:

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
1. Hình thức đổi mới KT ĐG nào phù hợp trong dạy học nói chung,
dạy học môn Toán THPT nói riêng?
2. Kiểm tra như thế nào giúp giáo viên đánh giá đúng năng lực học
môn Toán của học sinh?
3. Kết quả thực nghiệm của đề tài như thế nào?

VI.Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiên
cứu người viết đã sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp đó là:
+Nghiên cứu các loại tài liệu sư phạm, tâm lí có liên quan đến đề tài.
+Phương pháp quan sát (công việc dạy và học của giáo viên và HS).
+Phương pháp điều tra (nghiên cứu chương trình, đối tượng học sinh,
…).
+ Phương pháp phân tích.
+Phương pháp đàm thoại phỏng vấn (lấy ý kiến của giáo viên và HS
thông qua trao đổi trực tiếp).
+Phương pháp thực nghiệm ( thống kê có đánh giá kết quả theo từng

2.Cơ sở giáo dục học:
Trong từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem
xét thực chất, thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là
soát xét lại công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá,
nhận xét. Còn theo Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện,
những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra
với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc
thực tế để đánh giá và nhận xét.
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập
và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục.
Căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp
và hành động trong giáo dục tiếp theo. Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá
trình thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh. Đánh giá
có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính.
Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh có thể xem
là hai mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm
cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra.
Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh giá.
3. Cơ sở thực tiễn:
Đánh giá chất lượng học tập các môn học của học sinh thực chất là
xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục của môn học đó. Bao
gồm:Kiến thức, kỹ năng, thái độ.

Được sự ủng hộ, tạo điều kiện của Ban giám hiệu, của tổ chuyên môn,
đồng nghiệp, học sinh và phụ huynh.
Dễ dàng tiếp cận phương pháp dạy học mới, tài liệu, thông tin, số liệu
hữu ích trong dạy học thông qua kho tài nguyên trên mạng Internet
2. Khó khăn:
Việc thực hiện đối mới KT – ĐG ở các trường nói chung, các bộ môn
trong trường nói riêng chưa đồng bộ, quyết liệt dẫn đến khó khăn cho giáo
viên khi thay đổi hình thức, phương pháp KT – ĐG.
Thói quen đối phó, không tự giác trong các giờ kiểm tra của nhiều học
sinh được hình thành từ trước nên khó thay đổi trong một thời gian ngắn.
Đối với môn Toán THPT hàm lượng kiến thức rộng, có liên quan nhiều
đến kiến thức đã học ở các cấp học, lớp học trước nên thời gian dành cho
kiểm tra trong PPCT chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm tra.
Việc nắm bắt kết quả tự KT – ĐG của học sinh khó bởi giáo viên không
dễ có được số liệu thật sự chính xác từ học sinh do tâm lý đối phó, thiếu tự
giác vẫn tồn tại và không dễ thay đổi ở nhiều học sinh.
III: Các giải pháp giải quyết vấn đề:
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu các giải pháp cụ thể để thực hiện đề tài.
Thông qua quá trình thực tiễn dạy học môn Toán THPT tôi đã đúc rút và
thực hiện có hiệu quả cá nhóm giải pháp sau:
1.Giải pháp 1: Kiểm tra ban đầu để đánh giá, phân loại học sinh.
Kiểm tra ban đầu (ngay từ những buổi học đầu tiên của năm học)
không nằm trong PPCC nên không bắt buộc và cũng không dễ để thực

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
hiện. Bản thân tôi nghĩ rằng việc kiểm tra ban đầu để đánh giá phân loại học


SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
Trong kiểm tra tôi quán triệt học sinh thực hiện nghiêm túc, tự giác theo
đúng quy chế thi. Việc chấm bài, nhận xét bài làm, trả bài và thu thập số liệu
được thực hiện cẩn thận, khách quan ngay sau khi kiểm tra.
* Các bước tiến hành đánh giá:
Bước 1: Thu thập số liệu, tổng hợp số liệu ( đo lường).
Ở bước này tôi tổng hợp kết quả kiểm tra và lập bảng so sánh với kết
quả năm học trước, từ đó bước đầu đánh giá, phân loại học sinh.
Minh chứng 1: Bảng số liệu tổng hợp kết quả kiểm tra đầu năm.
Lớp Sĩ
s

Kết quả học tập môn Toán năm
học 2009 - 2010
Kết quả kiểm tra môn Toán
đầu năm học 2010 - 2011
Giỏi Khá TB Yếu,
Kém
Giỏi Khá TB Yếu,
Kém
S
L
% S
L
% SL % S
L
% S
L

6
4 8.
7
8 17.
4
24 52.
1
1
0
21.
8
2 4.
3
613.
1
18 39.
1
2
0
43.5
Bước 2: Sử lí số liệu ban đầu (Lượng giá kết quả kiểm tra).
+Các lớp đều có tỉ lệ học sinh đạt điểm Yếu, Kém tăng hơn so với
điểm TB môn cả năm, ngược lại tỉ lệ học sinh đạt điểm Khá, Giỏi giảm.
Bước 3: Đánh giá sau khi kiểm tra, thống kê và sử lí số liệu.
+ Việc thực hiện kiểm tra được tổ chức nghiêm túc ở cả ba lớp. Tuy
học sinh tự giác làm bài xong nhiều em vẫn có thái độ xem nhẹ, thậm chí
coi thường ý nghĩa của việc kiểm tra đầu năm.
+ Các lớp 11 (11 A5, 11 A6) nhiều học sinh ít ôn tập, củng cố kiến
thức trong hè. Một số học sinh đạt kết quả kém, không nắm được các kiến
thức cơ bản, trọng tâm trong chương trình toán lớp 10.

Điểm số là số liệu không thể thiếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Các môn học nói chung, môn toán nói riêng đều có các điểm kiểm tra
miệng, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra học kỳ…. Hệ số
của mỗi con điểm đều được quy định rất khoa học và chặt chẽ. Chính vì thế
nếu điểm số của học sinh không phản ánh thực chất năng lực của học sinh

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
đó sẽ dẫn đến việc đánh giá học sinh không đúng. Kinh nghiệm qua một số
năm trực tiếp giảng dạy và qua quan sát, điều tra thực trạng giáo dục tôi
nhận thấy một số khuyết điểm dẫn đến việc cho điểm học sinh không phản
ánh đúng năng lực của học sinh như sau:
+ Điểm kiểm tra miệng: Giáo viên thường gọi học sinh lên bảng kiểm
tra bài cũ. Do yêu cầu về thời lượng tiết học nên số học sinh được kiểm tra
bài cũ không nhiều. Kết quả kiểm tra bài cũ được tính một điểm kiểm tra
miệng, môn Toán thường được lấy 1 điểm KT miệng/ HS/ Học kỳ. Vì thế có
nhiều học sinh khi được KT miệng và đạt điểm số cao hoặc vài điểm kém
thường ít được kiểm tra trong các lần khác điều này dẫn đến tình trạng học
sinh đối phó với việc kiểm tra miệng của giáo viên, nếu đã được tính điểm
sẽ có tâm lý chủ quan hoặc bi quan dẫn đến thiếu động lực trong việc học
bài cũ. Nếu vẫn tiếp tục theo hình thức trên theo tôi sẽ dẫn đến tình trạng
điểm KT miệng chỉ phản ánh kết quả nhất thời của học sinh đồng thời sẽ
làm học sinh nảy sinh tâm lý đối phó và thiếu tự giác học bài cũ.
+ Điểm kiểm tra thường xuyên (KTTX), kiểm tra định kỳ (KTĐK):
Thường chỉ được tính điểm thông qua các bài kiểm tra. Như vậy nếu một
học sinh rất tích cực xây dựng bài, tích cực học và làm bài tập xong nếu kết
quả bài kiểm tra viết không tốt sẽ ảnh hưởng đến điểm TB môn của học

Minh chứng 2:
Bảng số liệu thống kê kết quả kiểm tra điểm miệng lớp 11 A5, 11
A6 năm học 2010 – 2011.
Lớ
p
(SS
)
Học kỳ 1 Học kỳ 2
* Giỏi Khá TB Yếu,
Kém
* Giỏi Khá TB Yếu,
Kém
SL % SL % SL % SL % S
L
% S
L
% S
L
% SL %
11A
5
(52)
1 12 23.
1
16 30.
8
12 23.
1
12 23.
1

8 17.
4
6 13 2 2
6
28.
2
2
8
30.
4
2
4
26.
1
14 15.2
Ghi chú: cột (*) = Số điểm kiểm tra miệng/ HS/ HK

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
Qua bảng số liệu tổng hợp được tôi nhận xét, đánh giá như sau:
+ Phần trăm điểm KT miệng Khá, Giỏi ở học kỳ 2 thấp hơn ngược lại %
điểm TB, Yếu – Kém cao hơn học kỳ 1. Tuy nhiên điểm số học kỳ 2 phản
ánh trung thực và toàn diện hơn bởi học sinh quan tâm nhiều hơn đến việc
học bài cũ, đến việc ôn tập kiến thức trọng tâm đã được học trong cả học
kỳ.
+ Những học sinh đạt được 1 điểm KT miệng cao vẫn tích cực học bài
cũ, ít tâm lý chủ quan. Học sinh đạt 1 điểm KT miệng thấp tích cực hơn

đánh giá tương đối chính xác năng lực, thái độ học tập của học sinh. Để
thực hiện tốt đòi hỏi giáo viên phải thu thập, cập nhật số liệu thường xuyên,
kịp thời. Thông qua cả quá trình dạy học để có biện pháp khích lệ, động
viên, hướng dẫn, bồi dưỡng, phụ đạo cho từng đối tượng học sinh. Trong
việc kiểm tra này nếu không sử lí khéo léo, phù hợp giáo viên rất dễ gây áp
lực cho học sinh nhất là học sinh có lực học từ TB trở xuống.
3. Giải pháp 3: Đổi mới công tác biên soạn các đề ôn tập, đề kiểm tra.
Thực hiện kiểm tra và đánh giá kết quả.
3.1. Đổi mới công tác biên soạn các đề ôn tập, đề kiểm tra:
Việc chuẩn bị và biên soạn các đề ôn tập, đề kiểm tra là rất quan trọng
đối với giáo viên, bởi đây là một công cụ hiệu quả nhất và thường được sử
dụng nhất trong việc kiểm tra kết quả học tập của học sinh sau khi học xong
một chủ đề, một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình. Nên nếu
giáo viên không xác định rõ các mục tiêu dạy học về kiến thức, kỹ năng,
không xác định rõ hình thức kiểm tra ( trắc nghiệm, tự luận hay kết hợp
giữa trắc nghiệm và tự luận), không xây dựng ma trận mục tiêu giáo dục và
mức độ nhận thức theo chuẩn kiến thức, không xây dựng được ma trận đề
kiểm tra thì đề kiểm sẽ khó đảm bảo được các yêu cầu giáo dục đặt ra.
Đánh giá được điều đó cùng với việc được tiếp thu các chuyên đề về đổi
mới kiểm tra, đánh giá của Sở GD và ĐT tôi đã thực hiện công tác chuẩn bị
và biên soạn các đề kiểm tra theo các bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu giáo dục của đề kiểm tra bằng cách thiết lập
ma trận.
Trước khi tiếp thu chuyên đề về “ biên soạn đề kiểm tra, xây dựng câu
hỏi và bài tập” do sở GD và ĐT tổ chức ở bước này tôi chưa nắm được
cách thiết lập ma trận về mục tiêu giáo dục, mức độ nhận thức đồng thời
cũng chưa hiểu hết ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này. Trước đây ở
bước này tôi thường thực hiện bằng cách liệt kê mục tiêu kiểm tra chính, có

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -

15 2 30
2. Cực trị của hàm số 15 2 30
3. GTLN, GTNN của hàm số. 25 3 75
3. Tiệm cận của đồ thị hàm
số.
5 1 5
5. Khảo sát đồ thị hàm số.
Giao điểm của hai đồ thị. Sự
tiếp xúc giữa hai đường cong
40 4 160
100% 300
Minh chứng 4: Ma trận mục tiêu giáo dục và mức độ nhận thức theo
chuẩn kiến thức, kĩ năng lớp 12, môn Toán – chương trình cơ bản, chủ
đề phương pháp tọa độ trong không gian.
Chủ đề hoặc mạch kiến thức,
kỹ năng
Mức cơ bản,
trọng tâm của
KT KN
Trọng số
(Mức độ nhận
thức của
Chuẩn KT KN)
Tổng
điểm

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,

Giỏi Khá TB Yếu,
Kém
Giỏi Khá TB Yếu,
kém
S
L
% S
L
% S
L
% S
L
% S
L
% S
L
% S
L
% S
L
%
11A5 52 3 5.
8
7 13.
5
3
0
57.
7
1

+ Về việc tổ chức kiểm tra: Thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế xong ở
lớp 11A5 tình trạng trao đổi bài vẫn còn diễn ra, tình trạng này hầu như
không diễn ra ở lớp 11 A6.
+ Độ chênh lệch so với kết quả kiểm tra ban đầu ở lớp 11 A5 nhiều hơn
so với lớp 11 A6.
Mặc dù kết quả kiểm tra ở lớp 11 A5 tốt hơn lớp 11 A6 (số học sinh đạt
điểm từ TB trở lên cao hơn) xong qua so sánh và đánh giá trên tôi vẫn nhận
được kết quả thực nghiệm đó là: Hình thức kiểm tra kết hợp giữa tự luận và
TNKQ bao quát được nội dung câu hỏi cần kiểm tra hơn, phân loại khá
chính xác học sinh, hạn chế việc trao đổi bài của học sinh trong thời gian
kiểm tra, thu được kết quả chính xác và trung thực hơn.
Bước 3: Thiết lập ma trận đề kiểm tra.
Đây là một khâu rất quan trọng và cần thiết trong biên soạn đề kiểm tra.
Việc thiết lập ma trận đề kiểm tra đã được các cấp quản lí giáo dục, các
thầy cô giáo đánh giá là một trong những hình thức đổi mới kiểm tra đánh
giá, đổi mới giáo dục cần thiết và hữu ích. Ma trận đề kiểm tra có thể xem
như một tấm bản đồ quý của các nhà địa lý học. Nếu không thiết lập ma
trận hoặc không coi trọng vấn đề này giáo viên rất dễ biên soạn một đề
kiểm tra bị lạc chủ đề (giống như người đi đường bị lạc lối khi không có bản
đồ vậy), không có ma trận đề sẽ được biên soạn một cách chủ quan, định
tính và rất khó để phân loại học sinh, rất khó để bao quát chương trình, rất
khó để thể hiện được mức độ trọng tâm kiến thức.
Đánh giá được vai trò và ý nghĩa đó tôi đã rất nghiêm túc và thực hiện
đúng quy trình thiết lập ma trận cho đề kiểm tra. Năm học 2010 – 2011 tôi

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.


1
2. Cực trị của
hàm số.
1
0,2
5
1
0,
25
1
1,
5
3

2
3. Đường tiệm
cận của hàm số.
1
0,
25
1
0,
25
2
0,
5
4. GTLN, GTNN
của hàm số.
1

5
4
Tổng số 5
1,
25
7
4,
75
5

4
17
1
0
Minh chứng 7: Ma trận đề kiểm tra 1 tiết – Chương III : Phương
pháp tọa độ trong không gian– Hình học 12 – cơ bản.
Nội dung
– Chủ đề
Mức độ Tổng
số
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
TNKQ TL TNKQ TL TNKQ TL
Hệ tọa độ trong
không gian
1
0,
4
1

1

2
Phương trình
đường thẳng
1
0,
4
1
0
,4
1
0
,4
1

1
5
3,
2
Tổng 4

2,2
6

4,2
6

3,6
16
1
0

, véc

bav


+−=
2
có tọa độ là:
A. (5; -8; 3) B. (5; 8; -3) C. (3; 4; 0) D. (-3; 4; 0)
Câu 3: Trong không gian Oxyz cho véc tơ
jiv


35
+−=
có tọa độ là:
A. (0; -5; 3) B. (-5; 3; 0) C. (3; 0; -5) D. (-5; 0; 3)
Câu 4: Trong không gian Oxyz cho A (-1; 2; -3) và B(3; -2; -5) phương
trình mặt cầu nhận AB làm đường kính là:
A.
3)4()1(
222
=+++− zyx
B.
9)4()1(
222
=+++− zyx
C.
3)4()1(
222



+−=
−=
+−=
tz
ty
tx
62
23
22
B.





−=
+=
−−=
tz
ty
tx
31
2
1
C.







+=
−−=
+=
tz
ty
tx
32
45
21
và (d’):





+−=
−=
+−=
'23
'21
'2
tz
ty
tx
Vị trí tương đối giữa (d) và (d’) là:
A. Song song B. Trùng nhau
C. Cắt nhau D. Chéo nhau

2
1
7
1


=
+
=

− zyx
C.
5
2
2
1
7
1 −
=
+
=

− zyx
D.
5
2
2
1
7
1

1
1
2
1 −
=

+
=
+ zyx
a. Chứng tỏ (d) và (d’) chéo nhau.
b. Viết phương trình mặt phẳng (P) chứa (d) và song song với (d’)./.
(Ghi chú: Phần TNKQ các đáp án in đậm là đáp án đúng)

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
Bước 5: Xây dựng hướng dẫn chấm ( đáp án) và biểu điểm.
Sau khi biên soạn đề kiểm tra tôi xây dựng đáp án và biểu điểm đảm bảo
các yêu cầu: Nội dung khoa học và chính xác, trình bày cụ thể, chi tiết
nhưng ngắn gọn, phù hợp với ma trận đề kiểm tra. Tổng số điểm bài kiểm
tra được quy tính theo thang điểm 10.
Bước 6: Xem lại việc biên soạn đề kiểm tra, chỉnh sửa, bổ sung đề
kiểm tra.
Đây là một khâu cần thiết trong biên soạn đề kiểm tra. Nếu không kiểm
tra lại giáo viên thường dễ mắc các lỗi sau:
+ Đề hoặc đáp án có sai sót.
+ Số lượng câu hỏi và mức độ câu hỏi không phù hợp với mục tiêu
chuẩn kiến thức kỹ năng, không khớp với ma trận đề kiểm tra đã lập.

Bước 2: Tiến hành kiểm tra: Khi học sinh làm bài kiểm tra tôi quán triệt
để học sinh nghiêm túc làm bài theo đúng quy chế ( không sử dụng tài liệu,
không trao đổi bài, nhìn bài……)
Bước 3: Chấm điểm, nhận xét bài làm của học sinh ngay sau khi kiểm
tra.
Bước 4: Trả bài kiểm tra: Được thực hiện ngày sau khi chữa bài kiểm
tra.
* Về đánh giá kết quả kiểm tra:
Bước 1: Thu thập số liệu ( Bước đo lường).
Sau khi chấm bài tôi lập bảng số liệu thống kê. Thông thường tôi sử
dụng phần mềm Excel có lập sẳn bảng mẫu. Việc sử dụng phần mềm Excel
với bảng mẫu lập sẵn giúp tôi tiết kiệm được thời gian, bởi sau khi chấm bài
chỉ cần cập nhật số liệu vào bảng mẫu, phần mềm sẽ tự động thống kê
những thông tin cần thiết giúp tôi sử lí số liệu.
Minh họa 10. Bảng mẫu
Lớp STT Họ và
tên
Điểm
Bài KT …
lần 1
Xếp
loại
%
Khá
,
Giỏi
%
TB
%
Yếu

Theo tôi việc phát các phiếu thăm dò nếu được thực hiện tốt sẽ là một
kênh thông tin quan trọng để giáo viên nắm bắt khả năng tự KT – ĐG của
học sinh, đồng thời có thông tin ngược để đánh giá đề kiểm tra. Việc làm
này muốn hiệu quả cần thực hiện nhiều lần, có thống kê, tổng hợp số liệu

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -Em tự đánh giá kết quả bài thi của mình đạt bao nhiêu
điểm? Trả lời:……….
Theo em yêu cầu về kiến thức đề kiểm tra ở mức nào?
A. Rất khó B. Khó C. Bình thường D. Dễ
Theo em nội dung đề kiểm tra như thế nào?
A. Phù hợp chương trình học
B. Không phù hợp nội dung chương trình học
C. Một số câu không phù hợp.
SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.
và quan trọng phải tạo cho học sinh thói quen trả lời trung thực theo quan
điểm của mình.
Bước 4: Quyết định:
Từ việc nhận xét đánh giá kết quả qua sử lí thông tin tôi đề ra các biện
pháp, kế hoạch cụ thể trong việc dạy học đối tượng học sinh, lớp học sinh
đã kiểm tra trong thời gian tới.
Trong quá trình dạy học môn Toán THPT năm học 2010 – 2011, tôi đã
tiến hành đổi mới KT – ĐG bằng cách lồng ghép, kết hợp để đồng thời thực
hiện theo 3 nhóm giải pháp trên và đã thu được một số những kết quả tích
cực. Kết quả đó chính là động lực để tôi tiếp tục nghiên cứu, thực hiện đề
tài.
IV. Kết quả thực nghiệm của đề tài.

% S
L
% SL % S
L
%
11A5 5
2
2 3.
8
6 11.
6
32 61.
5
1
2
23.
1
3 5.8 8 13.
4
32 61
.5
9 17.
3
11A6 5 3 6 8 16 25 50 1 28 3 6 1 20 28 56 9 18

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -SKKN năm học 2010 - 2011 : Một số hình thức hiệu quả đổi mới kiểm tra,
đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT.

kỳ 2 năm học 2010 - 2011
Giỏi Khá TB Yếu,
Kém
Giỏi Khá TB Yếu,
Kém
S
L
% S
L
% SL % S
L
% S
L
% S
L
% SL % S
L
%
11A5 5
2
3 5.
8
8 13.
4
32 61.
5
9 17.
3
4 7.7 9 17.
3

2. Kết quả thực nghiệm qua điều qua, thăm dò.
3.

GV: Trịnh Trọng Trung - Trường THPT Hà Tông Huân - 2 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status