DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT
THPT
Trung học phổ thông
THCS
Trung học cơ sở
SGK
Sách giáo khoa
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
ĐLTNĐC
Địa lí tự nhiên đại cƣơng
ĐLKTXHĐC
Địa lí kinh tế xã hội đại cƣơng
VD
Ví dụ
KT
Kiểm tra
ĐG
Đánh giá
KTĐG
Kiểm tra đánh giá
HS
Học sinh
GV
Giáo viên
CNTT
Công nghệ thông tin
7. Bố cục của đề tài 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI
MỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 10 THPT (Ban cơ bản) 9
1.1. Cơ sở lý luận 9
1.1.1. Khái niệm kiểm tra, đánh giá 9
1.1.2. Quan niệm về kiểm tra đánh giá trong dạy học Địa lý ở trƣờng THPT 10
1.1.3. Chức năng, vai trò và ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá 11
1.1.4. Yêu cầu kiểm tra, đánh giá 13
1.1.5. Các hình thức tổ chức kiểm tra, đánh giá 15
1.2. Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1. Thực trạng của hoạt đông kiểm tra đánh giá kết quả trong dạy học Địa lý
lớp 10 THPT hiện nay 22 2.2.2. Đặc điểm, cấu trúc, nội dung và phân phối chƣơng trình SGK Địa Lý lớp 10
THPT (ban cơ bản) 23
2.2.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 10 THPT 25
CHƢƠNG 2: ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 10 THPT (Ban
cơ bản) 27
2.1. Một số yêu cầu mang tính nguyên tắc khi đổi mới kiểm tra, đánh giá 27
2.1.1. Đảm bảo tính thƣờng xuyên và tính hệ thống 27
2.1.2. Phải đảm bảo độ tin cậy, khách quan về kiểm tra, đánh giá 27
2.1.3. Đảm bảo tính giá trị 28
2.1.4. Đảm bảo tính toàn diện 29
2.2. Định hƣớng đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn
Địa Lí 30
2.2.1. Nhận dạng dấu hiệu đổi mới KTĐG thúc đẩy đổi mới PPDH 30
2.2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá 31
Bảng 3.3. Bảng thống kê điểm kiểm tra của lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng với đề kiểm tra 15 phút
55 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
Tên
Trang
1
Biểu đồ 3.2. so sánh kết quả kiểm tra với đề kiểm tra
45 phút của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
54
2
Biểu đồ 3.3. so sánh kết quả kiểm tra với đề kiểm tra
15 phút của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
55 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng lớn, cách mạng
khoa học - công nghệ và cuộc cách mạng xã hội. Những cuộc cách mạng này đang
phát triển nhƣ vũ bão với tốc độ nhanh chƣa từng có trong lịch sử loài ngƣời, thúc
đẩy nhiều lĩnh vực có những bƣớc tiến mạnh mẽ đang mở ra những triển vọng hết
sức lớn lao khi loài ngƣời bƣớc vào thế kỉ XXI.
thi của các em mà không chú ý tới nhu cầu của thực tiễn đặt ra. Mặt khác việc
kiểm tra đánh giá hiện nay còn mang tính chất áp đặt mà không khuyến khích
đƣợc tính sáng tạo chủ động của các em trong quá trình học tập mà các em tích
luỹ đƣợc. Chính cách giáo dục và cách kiểm tra đánh giá của một số trƣờng này
đang làm cho học sinh của họ thiếu đi tính sáng tạo, yếu đi kĩ năng mềm, kĩ năng
sống và khả năng áp dụng kiến thức từ sách vở vào cuộc sống.
Trong chƣơng trình môn Địa Lý ở bậc THPT, chƣơng trình Địa Lý lớp 10
(Ban cơ bản) hiện nay là một chƣơng trình có nội dung và lƣợng kiến thức khó,
lớn cả về mặt ĐLTNĐC và ĐLKTXHĐC. Vì vậy, để tạo ra đƣợc hứng thú học tập
cho học sinh, nâng cao đƣợc chất lƣợng dạy học. Vậy việc đổi mới hoạt động
kiểm tra, đánh giá là một việc làm mang tính cấp thiết hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên nên em đã lựa chọn đề tài “Đổi mới hoạt
động kiểm tra, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Địa Lý lớp 10
THPT (Ban cơ bản)” làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mọi hoạt động giáo dục đều bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và kết thúc
bằng đánh giá. Đánh giá có liên qua chặt chẽ với kiểm tra, dựa vào kết quả của
kiểm tra và là kết quả của kiểm tra. Do đó kiểm tra, đánh giá thƣờng đi liền với
nhau, kiểm tra là để đánh giá và đánh giá phải dùng vào kiểm tra
Cùng với sự ra đời của lý luận dạy học, lý luận kiểm tra, đánh giá là một
phạm trù đƣợc các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn về giáo dục rất quan tâm
vì nó có chức năng quan trọng trong hoạt động giáo dục.
2.1. Trên thế giới
Thời kì tiền tƣ bản chủ nghĩa (thế kỉ XV - XVIII) lần đầu tiên trong lịch sử
giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Comensky đã đặt nền móng cho lí
3
luận dạy học ở nhà trƣờng và xây dựng thành một hệ thống vấn đề trong tác phẩm
“Lí luận dạy học vĩ đại”, trong đó có nêu ý nghĩa, vai trò của kiểm tra, đánh giá
2.2. Ở Việt Nam
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu và kiểm tra, đánh giá tri thức học sinh
của một số nƣớc trên thế giới, ở nƣớc ta đã có một số công trình nghiên cứu và
nhiều bài viết chuyên ngành, các kỷ yếu khoa học trong các cuộc hội thảo cấp
quốc gia bàn về kiểm tra, đánh giá chất lƣợng học tập của học sinh.
Các tác giả Lê Khánh Bằng, Hà Thị Đức, Trần Bá Hoành, Đặng Vũ Hoạt với
các bài viết xoay quanh thực trạng và giả pháp kiểm tra, đánh giá trong giáo dục
của nƣớc ta trong vài thập kỉ gần đây nhƣ: “Một số vấn đề kiểm tra , đánh giá tri
thức của học sinh” ; “ Đánh giá trong giáo dục” ; “Kiểm tra, đánh giá tri thức của
học sinh trong lịch sử giáo dục của nhà trƣờng” ; “Cơ sở lí luận của việc đánh giá
chất lƣợng học tập của học sinh phổ thông”. Trong đó các tác giả Đặng Vũ Hoạt
với bài viết của mình đã trình bày những vấn đề lí luận cơ bản về kiểm tra, đánh
giá tri thức kĩ năng, kĩ xảo của học sinh. Với tƣ cách là ngƣời nghiên cứu sâu về lí
luận dạy học, tác giả đã trình bày những vấn đề về vị trí, chức năng và các quan
điểm kiểm tra đánh giá tri thức của học sinh dƣới góc độ lí luận dạy học hiện nay.
Theo tác giả, việc kiểm tra, đánh giá tri thức là một khâu không thể tách rời
của quá trình dạy học. Khi tiến hành kiểm tra, đánh giá cần thực hiện tốt chức
năng phát hiện điều chỉnh, chức năng củng cố - phát triển, chức năng giáo dục. Để
thực hiện tốt chức năng đó, việc kiểm tra, đánh giá cần tuân theo những nguyên
tắc sau: Đảm bảo tính thƣờng xuyên, tính thống nhất, đảm bảo tính toàn diện, tính
phát triển và đặc biệt là đảm bảo tính khách quan là quan trọng nhất. Nó không
những giúp cho việc kiểm tra, đánh giá tri thức mang lại hiệu quả cao mà còn góp
phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của học sinh.
Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Bùi Tƣờng, Hà Thị Đức, Phó Đức
Hoạt, Trần Thị Tuyết Oanh đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống những
cơ sở lí luận chung của vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Đây là những
công trình nghiên cứu đã chính thức đƣợc sử dụng làm giáo trình giảng dạy trong
các trƣờng đại học sƣ phạm.
Đối với môn Địa lí, vấn đề kiểm tra đánh giá cũng đƣợc nhiều tác giả quan
tác giả tham gia, ở các cấp độ nhƣ luận văn thạc sĩ hay luận án.
Nhìn chung các quan điểm về đánh giá kết quả học tập của học sinh trong
nhà trƣờng đều cho ta thấy: việc đánh giá kết quả học tập của học sinh phải theo
một quy trình hợp lý thì mới đạt đƣợc tính chính xác, khách quan. Tuy nhiên việc
6
đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá môn Địa Lí lớp 10 (ban cơ bản) vẫn chƣa có
công trình nghiên cứu cụ thể nào. Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà
nghiên cứu tôi tập trung vào việc đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá nhằm nâng
cao chất lƣợng dạy học môn Địa Lí lớp 10 (ban cơ bản).
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Đề tài trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn của việc đổi mới hoạt
động kiểm tra, đánh giá đề ra một số biện pháp nhằm đổi mới hoạt động kiểm tra
đánh giá môn Địa Lí lớp 10 (Ban cơ bản) nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học môn.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đổi mới hoạt động kiểm tra,
đánh giá môn Địa Lí.
- Đề xuất một số biện pháp đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá trong
chƣơng tình Địa Lý lớp 10 (Ban cơ bản).
- Thực nghiệm tính khả thi của đề tài.
4. Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài đi tìm hiểu và nghiên cứu nội dung môn Địa Lí lớp 10
THPT (Ban cơ bản) nhằm đề ra một số giải pháp đổi mới hoạt động kiểm tra đánh
giá theo hƣớng tích cực.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu và thực nghiệm tại 1 số lớp 10 của
trƣờng THPT Yên Châu - Huyện Yên Châu - Tỉnh Sơn La.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
thức thực hành, bởi thế các số liệu cần phải đƣợc xem xét, tính toán. Phƣơng pháp
toán sẽ hỗ trợ cho chúng ta tốt hơn khi thực hiện đề tài này.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ có một số đóng góp sau:
- Xây dựng đƣợc một số đề kiểm tra mang tính chính xác, khoa học đảm
bảo độ phủ của chƣơng trình phục vụ đắc lực cho việc đổi mới hoạt động kiểm tra
đánh giá môn Địa Lí lớp 10 (Ban cơ bản).
- Giúp học sinh nâng cao đƣợc ý thức và tinh thần chủ động, sáng tạo trong
việc học.
8
- Đồng thời đây cũng là nguồn tƣ liệu hữu ích cho những ai quan tâm tới
việc đổi hoạt động kiểm tra đánh giá các môn học nói chung và đối với môn Địa
Lí lớp 10 - THPT nói riêng.
7. Bố cục của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc đổi mới hoạt động kiểm
tra đánh giá nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học môn Địa Lí lớp 10 THPT (Ban cơ
bản)
Chƣơng 2: Đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lƣợng
dạy học Địa lí lớp 10 THPT (Ban cơ bản)
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI
MỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 10 THPT (Ban cơ bản)
đánh giá chất khi kết thúc môn học.
Nhƣ vậy, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu có
quan hệ mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh
giá thông qua kết quả của kiểm tra. Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống
nhất là kiểm tra - đánh giá.
1.1.2. Quan niệm về kiểm tra đánh giá trong dạy học Địa lý ở trường THPT
Kiểm tra và đánh giá là hai khâu trong một quy trình thống nhất nhằm xác định
kết quả thực hiện mục tiêu dạy học. Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến
hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu dạy học; đánh giá là xác định mức độ đạt
đƣợc về thực hiện mục tiêu dạy học.
Đánh giá kết quả học tập thực chất là việc xem xét mức độ đạt đƣợc của hoạt
động học của học sinh so với mục tiêu đề ra đối với từng môn học, từng lớp học,
cấp học. Mục tiêu của mỗi môn học đƣợc cụ thể hoá thành các chuẩn kiến thức, kĩ
năng. Từ các chuẩn này, khi tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn học
cần phải thiết kế thành những tiêu chí nhằm kiểm tra đƣợc đầy đủ cả về định tính
và định lƣợng kết quả học tập của học sinh.
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong giảng dạy bộ môn Địa lí
ở nhà trƣờng THPT là một vấn đề khó và phức tạp. Nhiệm vụ cơ bản của việc
kiểm tra đánh giá là làm rõ đƣợc tình hình lĩnh hội kiến thức, sự thành thạo về kĩ
năng và trình độ phát triển tƣ duy trong việc nắm kiến thức của học sinh. Thông
qua kiểm tra đánh giá ngƣời giáo viên tự đánh giá việc giảng dạy và học sinh nhận
biết, tự đánh giá đƣợc việc học tập của mình. Giáo viên sẽ thấy đƣợc những thành
công và những vấn đề cần đƣợc rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy (nói
chung) đối với nội dung chuyên môn mà mình phụ trách để từ đó định ra đƣợc
những biện pháp sƣ phạm thích hợp nhằm nâng cao chất lƣợng dạy - học Địa lí
(nói riêng). Chính vì vậy, ngƣời giáo viên cần phải có một quan niệm đúng đắn về
việc kiểm tra đánh giá trong công tác dạy - học Địa lí ở nhà trƣờng phổ thông hiện
nay.
11
nguyên nhân. Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải pháp cải thiện thực
12
trạng, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả dạy học và giáo dục thông qua việc đổi mới,
tối ƣu hoá PPDH của GV và hƣớng dẫn HS biết tự đánh giá để tối ƣu hoá phƣơng
pháp học tập. Thông qua chức năng này, kiểm tra, đánh giá sẽ là điều kiện cần
thiết:
-Giúp GV nắm đƣợc tình hình học tập, mức độ phân hoá về trình độ học
lực của HS trong lớp, từ đó có biện pháp giúp đỡ HS yếu kém và bồi dƣỡng HS
giỏi; giúp GV điều chỉnh, hoàn thiện PPDH.
-Giúp HS biết đƣợc khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chƣơng
trình; xác định nguyên nhân thành công cũng nhƣ chƣa thành công, từ đó điều
chỉnh phƣơng pháp học tập; phát triển kĩ năng tự đánh giá.
-Giúp cán bộ quản lí giáo dục đề ra giải pháp quản lí phù hợp để nâng cao
chất lƣợng giáo dục
-Giúp cha mẹ HS và cộng đồng biết đƣợc kết quả giáo dục của từng HS,
từng lớp và của cả cơ sở giáo dục.
1.1.3.2. Vai trò của việc kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học, nhằm
kiểm tra khả năng nắm bắt và vận dụng kiến thức của học sinh, là một dịp để học
sinh thể hiện những khả năng, phẩm chất và rèn luyện kĩ năng. Kết quả kiểm tra,
đánh giá không chỉ để phục vụ cho giáo viên đánh giá xếp loại giáo viên mà còn là
một kênh thông tin quan trọng để giáo viên nắm bắt thực tế kết quả học tập của
học sinh, từ đó có những điều chỉnh, uốn nắn kịp thời về nội dung và phƣơng pháp
giảng dạy.
Việc tổ chức tốt khâu kiểm tra, đánh giá sẽ có tác dụng tăng cƣờng niềm say
mê, hứng thú học tập của học sinh, giúp các em cố gắng đạt kết quả cao trong học
tập. Còn nếu làm lỏng lẻo, yếu ở khâu này sẽ có tác dụng ngƣợc lại. Có thể hình
dung quy trình dạy học là một vòng tròn, trong đó kiểm tra là đánh giá là một mắt
của HS sau mỗi giai đoạn, mỗi lớp, mỗi cấp học.
b) Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chƣơng trình, kế hoạch giảng dạy, học
tập của các nhà trƣờng; tăng cƣờng đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thƣờng
xuyên, định kì; đảm bảo chất lƣợng kiểm tra, đánh giá thƣờng xuyên, định kì
chính xác, khách quan, công bằng; không hình thức, đối phó nhƣng cũng không
gây áp lực nặng nề. Kiểm tra thƣờng xuyên và định kì theo hƣớng vừa đánh giá
đƣợc đúng Chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hoá cao; kiểm tra kiến
14
thức, kĩ năng cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của ngƣời học, thay vì chỉ kiểm
tra học thuộc lòng, nhớ máy móc kiến thức.
c) Áp dụng các phƣơng pháp phân tích hiện đại để tăng cƣờng tính tƣơng
đƣơng của các đề kiểm tra, thi. Kết hợp thật hợp lí các hình thức kiểm tra, thi vấn
đáp, tự luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt; phát huy
ƣu điểm và hạn chế nhƣợc điểm của mỗi hình thức.
d) Đánh giá chính xác, đúng thực trạng: đánh giá cao hơn thực tế sẽ triệt
tiêu động lực phấn đấu vƣơn lên; ngƣợc lại, đánh giá khắt khe quá mức hoặc
thái độ thiếu thân thiện, không thấy đƣợc sự tiến bộ, sẽ ức chế tình cảm, trí tuệ,
giảm vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
e) Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của
HS, giúp HS sửa chữa thiếu sót. Đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của HS,
chú trọng đánh giá hành động, tình cảm của HS: nghĩ và làm; năng lực vận
dụng vào thực tiễn, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp; quan tâm tới mức độ hoạt
động tích cực, chủ động của HS trong từng tiết học tiếp thu tri thức mới, ôn
luyện cũng nhƣ các tiết thực hành, thí nghiệm.
g) Khi đánh giá kết quả học tập, thành tích học tập của HS không chỉ đánh
giá kết quả cuối cùng, mà cần chú ý cả quá trình học tập. Cần tạo điều kiện cho
HS cùng tham gia xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập với yêu cầu không
tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức
trong lớp và ngoài giờ (các giờ thực hành, khảo sát địa phƣơng), nhƣng cũng có
những hình thức còn mới đối với giáo viên phổ thông nhƣ trắc nghiệm khách quan
trong kiểm tra viết.
Để hệ thống hoá các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập địa lý, có
thể sử dụng sơ đồ sau:
16 - Kiểm tra, đánh giá bằng quan sát
Quan sát là sự tri giá có chủ đích, có kế hoạch tạo khả năng theo dõi tiến trình
và sự biến đổi diễn ra trong sự quan sát. Quan sát là phƣơng pháp nhận thức cảm
tính tích cực nhằm thu nhập những sự kiện hình thành những biểu tƣợng ban đầu
về đối tƣợng của thế giới xung quanh. Quan sát gắn chặt với tƣ duy.
Ƣu điểm của phƣơng pháp này: tính linh hoạt (nhiều nơi, nhiều địa điểm),
mang tính khách quan, đánh giá khá toàn diện (tri thức, thái độ, hành vi, đạo đức,
…)
Tuy nhiên một lƣu ý khi dùng phƣơng pháp này là cần tiến hành trong thời
gian dài, chất lƣợng và hiệu quả phụ thuộc vào năng lực đánh giá của giáo viên,…
Phƣơng pháp này có thể tiến hành trong hoặc ngoài lớp, rất thuận lợi cho việc
thu thập các thông tin, dữ liệu cần cho việc đánh giá. Phƣơng pháp này giúp giáo
viên xác định đƣợc thái độ, phản ứng vô ý thức, kĩ năng thực hành và một số kĩ
năng về nhận thức của học sinh.
Để đánh giá trình độ và kĩ năng của học sinh, giáo viên có thể đƣa ra bảng số
liệu về: cơ cấu sản xuất lƣơng thực của một số nƣớc nào đó trên thế giới để các
Trắc nghiệm chủ quan
Vấn đáp
Quan sát
Trắc nghiệm khách quan
Điền
địa lí
Viết
bài
tiểu
luận
hay
luận
văn
Câu
hỏi
điền
khuyết
Viết
17
em tự vẽ. Trong khi các em vẽ, giáo viên quan sát xem có bao nhiêu em trong lớp
biết cách vẽ đúng. Tiếp đó giáo viên yêu cầu các em đặt các biểu đồ đó vào đúng
vị trí trên biểu đồ (bản sao bản đồ quốc gia mà các em đã chuẩn bị trƣớc). Giáo
viên ghi lại xem có bao nhiêu em làm tốt, bao nhiêu em còn lúng túng. Qua quan
sát trên, giáo viên có thể khái quát, có thể đánh giá đƣợc kĩ năng vẽ biểu đồ vào vị
trí trên bản đồ của học sinh và từ đó định ra đƣợc phƣơng pháp hƣỡng dẫn, bổ
sung thích hợp cho từng đối tƣợng học sinh.
- Kiểm tra, đánh giá bằng vấn đáp
Kiểm tra vấn đáp là phƣơng pháp đánh giá rất phổ biến trong dạy học. Trong
đó, giáo viên đƣa ra các câu hỏi ngắn để học sinh trả lời. Học sinh có thể chuẩn bị
trƣớc hoặc không chuẩn bị trƣớc câu hỏi. Căn cứ vào các câu trả lời giáo viên có
thể đo lƣờng và đánh giá các mức độ kết quả đạt đƣợc ở học sinh.
gian chuẩn bị, nhất là các bài thi cuối kì. Tránh gọi học sinh lên trả lời trƣớc khi
đặt câu hỏi.
Thứ ba: Dung lƣợng các câu hỏi không quá dài, nội dung câu hỏi phù hợp với
mục tiêu đánh giá. Không đề cập nhiều nội dung trong một câu hỏi. Hạn chế các
câu hỏi có tính chất học thuộc. Khuyến khích các câu hỏi suy luận và kích thích tƣ
duy của học sinh.
Thứ tƣ: Câu hỏi rõ ràng là phải nhất quán, ngôn ngữ chính xác. Không có câu
hỏi “đánh lừa” học sinh. Không đặt câu hỏi có dạng có - không.
Thứ năm: Thái độ hỏi thi của GV có ảnh hƣởng rất lớn đến câu trả lời của
học sinh. Không nên có thái độ “quan tòa” trong lúc hỏi thi. Có thể hỏi những câu
hỏi phụ đề gợi mở cho học sinh khi cần thiết. Tối kị “nhìn ngƣời cho điểm” theo
định kiến, cảm tính của GV.
- Kiểm tra viết:
Đây là hình thức phổ biến thƣờng đƣợc giáo viên sử dụng ở trên lớp. Nó có
thể giúp giáo viên kiểm tra đƣợc toàn bộ học sinh trong lớp, trong một khoảng
thời gian ngắn Ví dụ: Kiểm tra 10 - 15 phút ở đầu tiết học hoặc cuối tiết học. Mục
đích của việc kiểm tra này là nhằm đánh giá việc nắm tri thức và kĩ năng của học
sinh sau mỗi bài mỗi chƣơng. Cũng có những bài kiểm tra viết đƣợc tiến hành
trong suốt tiết học. Đây thƣờng là những bài kiểm tra cuối học kì, cuối năm hoặc
cuối những chƣơng quan trọng.
19
Qua bài kiểm tra viết, giáo viên có thể đánh giá quá trình phát triển ngôn ngữ,
kĩ năng diễn đạt văn viết bằng văn viết của học sinh.
- Kiểm tra viết đƣợc chia làm hai loại: trắc nghiệm tự luận (hay còn gọi là
trắc nghiệm chủ quan) và trắc nghiệm khách quan.
+ Trắc nghiệm tự luận:
Trắc nghiệm khách quan cho phép có sự tự do tƣơng đối nào đó để trả lời một
vấn đề đƣợc đặt ra, nhƣng đồng thời lại đòi hỏi học sinh nhớ lại hơn là nhận biết
Những phƣơng án còn lại có vẻ nhƣ đúng mà kì thực là chƣa chính xác gọi là "câu
nhiễu".
Khi biên soạn câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn cần lƣu ý:
+ Câu dẫn cần rõ ràng, lời lẽ trong câu cần đơn giản.
+ Phải đảm bảo các câu trả lời đúng là câu chính xác nhất.
+ Phải đảm bảo câu dẫn và câu trả lời khi gắn với nhau vừa đúng về khoa
học, vừa đúng về ngữ pháp câu.
+ Các câu nhiễu phải có vẻ hợp lý và có sức hút với ngƣời làm bài.
+ Không nên lạm dụng câu trả lời: "không một câu nào đúng cả" hoặc "tất
cả các câu đều đúng" trong các phƣơng án lựa chọn.
+ Sắp xếp các câu theo thứ tự ngẫu nhiên, tránh để theo thứ tự giống nhau
hoặc theo kiểu mà học sinh dễ nhận ra.
+ Không nên đƣa quá nhiều ý vào câu hỏi.
+ Phần lựa chọn nên có từ 3 đến 5 câu lựa chọn, thông thƣờng là 4 câu lựa
chọn và các câu nên có độ dài bằng nhau.
- Câu hỏi đúng - sai (hoặc có - không): là câu trắc nghiệm đơn giản nhất gồm hai
phần: phần gốc là một nhận định hay một câu hỏi, phần trả lời là hai lựa chọn
nhằm trả lời cho câu hỏi hoặc nhận xét về ý kiến nhận định ở phần gốc (đúng hay
sai). Loại câu hỏi này chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức và sự kiện
(mốc lịch sử, địa danh, các định nghĩa, khái niệm, công thức), dễ soạn và dễ sử
dụng. Tuy nhiên, bài này thƣờng khó phân biệt tính tích cực của ngƣời học vì việc
trả lời ngẫu nhiên của học sinh cũng có thể đúng.
Khi biên soạn câu hỏi trắc nghiệm đúng - sai cần lƣu ý:
+ Sử dụng những nhận định đúng - sai chứ không nêu mức độ, chất lƣợng.
+ Các nhận định cần thật ngắn gọn.
+ Chọn câu dẫn mà học sinh trung bình khó nhận ra ngay là đúng hay sai.
21
+ Không nên trích nguyên văn những câu trong SGK.