SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT ĐINH CHƯƠNG DƯƠNG
*******************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY THÔNG QUA ĐỔI
MỚI KIỂM TRA MIỆNG TRONG CÁC TIẾT DẠY
CHƯƠNG I SINH HỌC 12 CƠ BẢN
Người thực hiện :
Đỗ Thị Sáng
Tổ
:
Hoá – Sinh
Trường :
THPT Đinh Chương Dương
SKKN môn:
Sinh học
Tháng 4- 2012
1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
6
4 Các cách kiểm tra miệng
IV. Kết quả nghiên cứu
Phần III. Kết luận và kiến nghị
7 – 15
15
16
I. Kết luận
16
II. Kiến nghị
17
Tài liệu tham khảo
18
2
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong những năm qua, việc thực hiện đổi mới ngành giáo dục nói chung,
giáo dục phổ thông nói riêng chúng ta đã thu được những kết quả đáng khích lệ.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại cần tiếp tục đổi mới, bổ sung. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII đã chỉ rõ con đường đổi mới
pháp cũ là giảng giải minh hoạ học sinh nhớ máy móc kiến thức, ít nghiên cứu
sách giáo khoa, kiến thức thụ động rời rạc không có hệ thống. Khi giáo viên nêu
những câu hỏi thì học sinh trả lời nhưng chỉ có một vài học sinh được hoạt động
vì thời gian có hạn, còn hầu hết học sinh khác ngồi nghe câu trả lời của bạn, của
3
giáo viên, vì vậy học sinh ít được hoạt động, không được rèn luyện kĩ năng,
không có điều kiện bộc lộ kĩ năng hoạt động của bản thân. Giáo viên chỉ đánh
giá thông qua gọi kiểm tra chỉ ở một số học sinh hay trả lời câu hỏi. Do đó, đa số
học sinh tiếp thu kiến thức dưới dạng chấp nhận, không biết vận dụng kiến thức
vào việc giải bài tập và thực tế. Giáo viên dễ gặp phải tình trang cháy giáo án,
học sinh tiếp thu kiến thức không chọn vẹn.
Trước thực tế đó, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “ Nâng cao hiệu
quả giờ dạy thông qua đổi mới kiểm tra miệng trong các tiết dạy chương I
Sinh học 12 cơ bản”. Dựa trên những thành tựu của các tác giả đi trước, qua
thực tế giảng dạy bộ môn sinh học, trong đề tài này tôi chỉ đưa ra một số cách
kiểm tra miệng, xây dựng một số ví dụ cho các cách kiểm tra đó giới hạn trong
các bài dạy ở chương I “Cơ chế di truyền và biến dị” sinh học 12 cơ bản. Kết quả
của đề tài sẽ góp phần làm phong phú hơn các cách kiểm tra miệng trong các tiết
học Sinh học ở trường THPT, giúp các em chủ động hơn trong học tập, tích luỹ
kiến thức, rèn luyện kỹ năng đồng thời tạo không khí sinh động trong các giờ
học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện
nay.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh
kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của
không thể kiểm tra được nhiều em cùng một lúc. Vì vậy không thể đánh giá được
khả năng của học sinh. Mặt khác, trong suốt quá trình dạy bài mới giáo viên
thường chỉ đưa ra những câu hỏi phát vấn trao đổi với học sinh mà ít khi xem đó
là một hình thức kiểm tra miệng rất tích cực, do vậy thường không cho điểm để
khuyến khích học sinh. Dẫn đến tình trạng học sinh rất ngại xung phong lên
bảng, trả lời câu hỏi, lâu dần học sinh sẽ lười trả lời câu hỏi và nhác nghiên cứu
tài liệu mới, kiến thức cơ bản không được khắc sâu nên khi áp dụng vào kiểm tra
các em sẽ mau quên, kết quả làm bài thấp.
2. Đối với giáo viên
Đa số giáo viên trong trường nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công
việc giảng dạy và giáo dục học sinh. Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm giảng
dạy và chuyên môn nâng cao trình độ chuyên môn và kĩ năng sư phạm. Tuy
nhiên, nhiều giáo viên trẻ kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, đa số giáo viên
thiếu kinh nghiệm trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực, có thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao.
3. Đối với học sinh
Đối với học sinh công việc học bài cũ và chuẩn bị bài mới là thường
xuyên, liên tục trong cả quá trình học. Tuy nhiên, việc thực hiên công việc này
của đa số học sinh là rất chểnh mảng, điều này thể hiện ở việc các em rất ít xung
phong lên bảng, không chịu hoạt động trong việc chủ động tiếp thu bài mới, việc
các em trả lời câu hỏi kiểm tra bài cũ hầu như điểm rất thấp. Nhiều học sinh học
đối phó bằng cách học bài cũ xung phong lên bảng một hôm để lấy điểm cao sau
đó không bao giờ xung phong lên bảng nữa.
Trong các đề thi kiểm tra học kỳ (do Sở giáo dục hoặc trường ra) hoặc đề
thi tốt nghiệp (do Bộ giáo dục ra) bằng hình thức trắc nghiệm 100% nên nhiều
5
học sinh đã lơ là trong việc học bài cũ và thực hành các kỹ năng giải bài tập mà
là giáo viên phải biết cách sắp xếp các nội dung, tình huống đó như thế nào để
khi bắt gặp tình huống, qua quá trình nghiên cứu, học tập, trao đổi học sinh có
thể nắm được tri thức bài học một cách dễ dàng.
- Cùng với việc đưa ra tình huống có vấn đề, giáo viên đưa ra một hệ thống
các câu hỏi và cách giải quyết vấn đề làm sao buộc học sinh phải huy động vốn
6
tri thức đã có, vận dụng phương pháp tư duy lôgic để giải quyết vấn đề. Như
vậy, câu hỏi mà giáo viên đưa ra phải làm sao giải quyết được thực chất của vấn
đề đã nêu, đồng thời phải phù hợp với mức độ tối thiểu kiến thức và kỹ năng mà
học sinh đã thu nhận được trong quá trình học tập. Câu hỏi đặt ra cho học sinh
phải chính xác, rõ để học sinh không hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến
việc trả lời lạc đề.
- Giáo viên có thể phải thiết kế lại các yêu cầu, bài tập trong sách giáo
khoa hay ra các bài tập tương tự để tránh việc các em sử dụng các đáp án trong
sách “Hướng dẫn học tốt” nhằm đối phó với giáo viên.
Mặc dù câu hỏi và cách giải quyết vấn đề đã được giáo viên chuẩn bị
trước, nhưng tùy theo tình hình học tập của học sinh trong buổi học, trong tiết
học mà giáo viên có thể thay đổi câu hỏi và cách giải quyết vấn đề cho phù hợp.
Trong giờ học, các câu trả lời của học sinh có thể không trả lời được nội dung tri
thức mà bài học đòi hỏi. Do vậy giáo viên phải chuẩn bị câu hỏi phụ hoặc chủ
động giảng giải cho học sinh hiểu được vấn đề.
- Cột điểm Miệng trong sổ điểm cá nhân được chia thành 2 cột : M1 và M2.
Cột M1 sẽ ghi điểm cho học sinh trực tiếp lên bảng để trả lời hoặc làm bài tập.
Cột M2 được ghi điểm cho học sinh ngồi dưới lớp để trả lời hoặc làm bài tập.
Điểm miệng chính thức của học sinh là điểm trung bình cộng của M1 và M2
Số
TT
Vũ Văn Chung
5
Nguyễn Văn Dậu
7
Phạm Văn Diện
2
7
Đỗ Thị Dung
7
7
Đinh Thị Dung
9
2. Chuẩn bị của học sinh:
Đây là khâu rất quan trọng và cực kì cần thiết cho chính bản thân học sinh
và đồng thời nếu học sinh làm tốt khâu này sẽ trợ giúp rất nhiều cho giáo viên
trong quá trình thực hiện tiết dạy - học.
7
Việc chuẩn bị của học sinh đã được giáo viên yêu cầu và hướng dẫn ngay
từ đầu năm học, học sinh sau mỗi bài học về nhà cần chuẩn bị:
+ Học bài cũ: nắm được trọng tâm bài học, làm bài tập SGK, sách bài tập,
và tài liệu tham khảo nếu có.
+ Chuẩn bị bài mới: trước hết các em đọc lướt qua nội dung bài mới, xác
định nội dung chính của bài và tập trả lời các câu hỏi lệnh trong các mục SGK.
Ngoài ra với những bài khó học sinh có thể lập dàn ý của bài theo hướng dẫn của
giáo viên trước đó thông qua hình thành hệ thống các câu hỏi và tự trả lời.
3. Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra miệng:
4. Các cách kiểm tra miệng:
Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong
các tiết dạy. Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu,
tạo không khí sinh động trong lớp học và giúp học sinh học tập có hiệu quả hơn.
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kỹ
năng mà giáo viên có thể áp dụng các cách kiểm tra miệng khác nhau.
4.1. Đối với kiểm tra đầu tiết dạy
a. Cách kiểm tra truyền thống:
Gọi 1 hoặc 2 học sinh lên bảng trả lời câu hỏi bài cũ, hoặc giáo viên nêu
câu hỏi sau đó lấy tinh thần xung phong của học sinh. Cách kiểm tra này hiệu
quả không cao vì:
+ Nhiều học sinh không học bài cũ vì em nghĩ rằng có thể không đến lượt
mình, một số em lại học kiểu đối phó bằng cách học bài cũ một hôm để xung
phong lên bảng lấy điểm cao sau đó có thể không cần học bài cũ nữa…
+ Mặt khác, cách kiểm tra này vừa tốn nhiều thời gian, lại gây tâm lí căng
thẳng cho học sinh hơn nữa không thể kiểm tra được nhiều em cùng một lúc.
Như vậy, với cách kiểm tra bài cũ truyền thống, học sinh ngày càng trở
nên lười biếng trong việc học bài cũ, kết quả học tập không cao, không thể phát
huy được tính tích cực học tập của các em.
b. Cách kiểm tra phát huy tính tích cực của học sinh:
Qua kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi xin đưa ra một số cách kiểm
tra nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học bài cũ như sau:
Cách 1:
Cách thực hiện : Gọi một lượt 4 học sinh lên bảng. Giáo viên đưa ra câu
hỏi chung cho tất cả, học sinh nào trả lời được trước thì giáo viên cho phép. Các
học sinh còn lại sẽ trả lời các câu hỏi phụ hoặc bổ sung cho bạn trả lời trước.
Ví dụ: Khi kiểm tra bài cũ kiến thức tiết 1, bài: Gen, mã di truyền và quá
trình nhân đôi ADN.
Câu hỏi: Gen là gì? Trình bày cấu trúc chung của một gen cấu trúc ?
HS khác trong lớp đặt câu hỏi bổ sung:
Vì sao trên mỗi chạc chữ Y, một mạch được tổng hợp liên tục còn mạch kia
được tổng hợp ngắt quãng?
HS đó có thể ra câu hỏi cho một học sinh khác trong lớp:
Nguyên tắc bổ sung, nguyên tác bán bảo tồn là gì?
Lưu ý: Khi thực hiên cách kiểm này giáo viên cần phải linh hoạt gợi ý cho học
sinh đặt câu hỏi cho phù hợp với nội dung cần kiểm tra, để không bị lạc đề và đỡ
tốn thời gian vào bài mới.
Cách kiểm tra để tự học sinh đặt câu hỏi này không chỉ áp dụng cho kiểm
tra miệng mà còn có thể áp dụng với cả khi kiểm tra củng cố cuối bài. Để phát
huy hơn nữa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giáo viên có thể ra
bài tập về nhà cho các em như sau: Dựa vào phần bài học mỗi em sẽ ra cho cô 5
câu tương tự: 2 câu trắc nghiệm khách quan, 3 câu tự luận vừa có vận dụng cả lý
thuyết vừa có liên hệ thực tế. Đến tiết học tiếp theo giáo viên sẽ thu toàn bộ các
bài của cả lớp và chọn ngẫu nhiên bài của một số em sau đó giáo viên gọi học
sinh cầm những câu hỏi đó để làm bài kiểm tra miệng của mình.
Cách 3:
Cách thực hiện : Gọi 5 - 6 học sinh lên ngồi các dãy bàn đầu, mỗi học sinh
mang theo 1 tờ giấy có đánh số thứ tự từ 1 đến 10, những học sinh trong lớp còn
lại sẽ cùng làm và dùng vở nháp để ghi các đáp án tương ứng.
Giáo viên đọc các câu hỏi lần lượt từ 1 đến 10 và yêu cầu học sinh ghi các
đáp án tương ứng. Sau đó thu bài của các em học sinh được gọi lên và 1 vài bài
10
của các em ngồi bên dưới để chấm điểm. Mỗi câu đúng tương ứng với 1 điểm.
Sau đó giáo viên có thể ra thêm câu hỏi phụ với nội dung kiến thức khó hơn,
khuyến khích học sinh xung phong trả lời lấy điểm cao hơn.
Bằng cách này, giáo viên có thể kiểm bài cũ hoặc kiểm tra miệng phần
A. thể ba.
B. thể ba kép.
C. thể bốn.
D. thể tứ bội
5. Ở người, một số bệnh di truyền do đột biến lệch bội được phát hiện là
A. ung thư máu, Tơcnơ, Claiphentơ.
B. Claiphentơ, Đao, Tơcnơ.
C. Claiphentơ, máu khó đông, Đao.
D. siêu nữ, Tơcnơ, ung thư máu.
6. Rối loạn phân li của nhiễm sắc thể ở kì sau trong phân bào là cơ chế làm phát
sinh đột biến
A. lệch bội.
B. đa bội.
C. cấu trúc NST.
D. số lượng NST.
7. Sự không phân ly của một cặp nhiễm sắc thể tương đồng ở tế bào sinh dưỡng
sẽ
A. dẫn tới trong cơ thể có dòng tế bào bình thường và dòng mang đột biến.
B. dẫn tới tất cả các tế bào của cơ thể đều mang đột biến.
C. chỉ có cơ quan sinh dục mang đột biến.
D. chỉ các tế bào sinh dưỡng mang đột biến.
11
8. Ở cà chua 2n = 24. Khi quan sát tiêu bản của 1 tế bào sinh dưỡng ở loài này
người ta đếm được 22 nhiễm sắc thể ở trạng thái chưa nhân đôi. Bộ nhiễm sắc
thể trong tế bào này có kí hiệu là
A. 2n – 2
B. 2n – 1 – 1
sách giáo khoa dựa theo sách hướng dẫn học tốt. Trong cả tiết học chỉ có một số
em chịu khó học xung phong lên bảng trả lời câu hỏi, còn lại đa số không chủ
động khi bị giáo viên gọi trả lời thì giống như bị bắt cóc lên bảng nên câu trả lời
lúng túng, không chính xác, gây mất thời gian của tiết học.
- Đối với nhóm: Thường chỉ có một vài học sinh trong nhóm tập trung làm
việc, làm đại diện báo cáo kết quả hoạt động của nhóm, các em khác không làm
gì hoặc thụ động trả lời theo bạn mà không có chính kiến của chính mình. Kết
quả hoạt động nhóm ít khi được giáo viên cho điểm do vậy không phát huy được
hoạt động nhóm, sức mạnh tập thể học tập, nhiều em trở nên lười nhác và thụ
động trong tiếp thu kiến thức.
12
- Với những cách kiểm tra tổ chức hoạt động học tập như trên không phát
huy được tính tích cực của học sinh.
b. Cách kiểm tra phát huy tính tích cực của học sinh:
Mặc dù theo cách dạy truyền thống có rất nhiều phương pháp rất tích cực
như vấn đáp, nêu vấn đề… Nhưng sinh học là môn học có rất nhiều tiết học
mang tính đặc thù riêng, không thể áp dụng một phương pháp giảng dạy cố hữu
nào. Để bài giảng thêm phong phú, tiết học sôi nổi, phát huy được tính tích cực
của học sinh, học sinh trở thành trung tâm của giờ học, tuỳ theo đặc trưng của
từng tiết học có thể áp dụng cách này hay cách khác hoặc áp dụng kết hợp nhiều
phương pháp khác nhau, tiết học mới có hiệu quả. Đặc biệt, việc kết hợp kiểm
tra miệng trong tiết học tôi đã áp dụng mang lại hiệu quả rất cao, có thể phát huy
tính tích cực của học sinh, các em có thể chủ động tiếp thu kiến thức, mạnh rạn
hơn trong việc trả lời các câu hỏi, thể hiện sự hiểu biết của bản thân, bộc lộ khả
năng của chính mình. Dưới đây là một số cách kết hợp kiểm tra miệng trong các
tiết dạy mà tôi đã thực hiện:
b.1. Trong tiết học lí thuyết:
dạng đột biến cấu trúc NST theo các nội dung: khái niệm, hệ quả, hậu quả và
ứng dụng?
- Với cách kiểm tra này, yêu cầu tất cả học sinh đều phải làm việc, bất cứ
em nào cũng được đánh giá thành quả học tập của mình bằng con điểm cụ thể
trong từng tiết học. Để được điểm cao, học sinh phải nghiên cứu tài liệu, bài mới
trước ở nhà, hoặc ít nhất các em cũng phải chú ý, tích cực học tập trong tiết học.
* Đối với nhóm:
Cách thực hiện : Sau khi đọc câu hỏi hoặc phát phiếu học tập, giáo viên
yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm, hoàn thành nội dung yêu cầu trong thời
gian nhất định. Giáo viên gọi nhóm học sinh nào làm nhanh nhất cử đại diện
nhóm lên bảng sữa bài. Đồng thời giáo viên thu bài làm của một vài nhóm khác
bất kì để chấm điểm. Cuối cùng giáo viên gọi học sinh ở các nhóm khác nhận xét
bổ sung và cho điểm bài làm của bạn trên bảng, giáo viên là người nhận xét cuối
cùng và cho điểm các cá nhân và nhóm.
Ví dụ : Khi dạy quá trình dịch mã trong bài Phiên mã và dịch mã:
Giáo viên có thể định hướng cho học sinh bằng hệ thống câu hỏi như sau:
+ Giai đoạn mở đầu: 2 tiểu phần của ribôxom gắn vào mARN như thế nào?
+ Giai đoạn kéo dài chuỗi pôlipeptit:
- Các axit amin kế tiếp nhau được vận chuyển vào ribôxom như thế nào?
- Nguyên tắc bổ sung được thể hiện như thế nào?
- Khi nào ribôxom dịch chuyển trên mARN? Theo chiều nào? mỗi bước dịch
chuyển của ribôxom gồm mấy bộ ba?
+ Giai đoạn kết thúc: Khi nào ribôxom rời khỏi mARN?
Sau đó giáo viên cho học sinh xem đoạn phim minh hoạ. Yêu cầu học sinh thảo
luận trình bày quá trình dịch mã.
Lưu ý: Để phát huy tính tích cực của tất cả các nhóm và các thành viên
trong từng nhóm giáo viên cần: ghi nhận những nhóm thường xuyên có câu trả
lời đúng, hoạt động tích cực, cho điểm vào cột M2. Thường xuyên đổi vai trò
nhóm trưởng của các thành viên trong nhóm, tránh để cho một vài thành viên
luôn trả lời, còn các thành viên khác thì không có chính kiến của mình.
những cách khác nhau. Tuy nhiên, kết hợp kiểm tra miệng trong tiết thực hành
như trên sẽ khuyến khích được các em hứng thú học môn sinh học đồng thời rèn
luyện cho các em có được các kĩ năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống
và sản xuất ở gia đình và địa phuơng.
b.3. Trong tiết Bài tập:
Cách thực hiện : Đây là kỹ năng khó vì kiến thức của các em còn hạn chế,
mặt khác trong các tiết lí thuyết nội dung rất nhiều nên thời gian để hướng dẫn
học sinh hình thành các công thức tổng quát là rất ít. Tôi thường thiết kế lại một
số bài tập trong sách giáo khoa (để tránh tình trạng học sinh dùng sách hướng
dẫn để trả lời) đồng thời ra thêm một số bài tập trắc nghiệm, sau đó gọi học sinh
lên bảng làm để lấy điểm hoặc thu bài của một số em để chấm.
Ví dụ : Khi dạy tiết 16, bài 15: Bài tập chương I và II.
- Bài 1, chương I: Dưới đây là một phần trình tự nuclêôtit của một mach trong
gen:
3’…TATGGGXATGTAATGGGX…5’
Cũng với các yêu cầu như bài cho nhưng tôi có thể đổi bằng một trình tự
nuclêôtit khác về số lượng và thành phần.
Ví dụ: 5’... GGXATATTTXGXTGGGGXATA…3’
15
- Bài 2, chương II: Trong phép lai giữa hai cá thể có kiểu gen sau đây:
AaBbCcDdEe X aaBbccDdee
Tôi thường thay kiểu gen của cặp bố mẹ đem lai:
Ví dụ: AabbCcDdEe X AaBbCcddEe ……………….
b.4. Trong tiết học ôn tập:
Cách thực hiện : Áp lực thời gian trong tiết ôn tập là rất lớn vì vừa phải ôn
phần lí thuyết vừa phải tải phần bài tập nên thời gian dành cho việc kiểm tra học
sinh bị hạn chế. Với tiết này sẽ giúp cho học sinh có điều kiện ôn tập lí thuyết,
dạng tự luận, hoặc có thể ở dạng trắc nghiệm, yêu cầu tư duy cao đối với học
sinh.
Ví dụ: Khi học xong Bài 3: Điều hoà hoạt động của gen. Giáo viên có thể
đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu đột biến xảy ra ở gen điều hoà?
Khi học xong Bài 5: Đột biến cấu trúc NST. Giáo viên nêu câu hỏi: Trong
các dạng đột biến cấu trúc NST, dạng nào gây hậu quả lớn nhất? Vì sao?
Đây là hình thức kiểm tra phát huy được tính chủ động, tích cực của học
sinh, giảm bớt áp lực căng thẳng trong kiểm tra miệng vừa phát huy được việc
đổi mới kiểm tra đánh giá cả 2 hình thức tự luận và trắc nghiệm, vừa kiểm tra
miệng, vừa ôn tập.
Qua kinh nghiệm bản thân, tôi thấy rằng việc kết hợp kiểm tra miệng trong
khâu củng cố bài sẽ khuyến khích được học sinh chủ động tiếp thu, lĩnh hội kiến
thức hơn. Cuối giờ các em được thể hiện sự hiểu bài của mình trong cả tiết học,
khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của bản thân. Qua đó, giáo viên đánh
giá được hiệu quả giờ dạy, và có những hướng điều chỉnh phương pháp giảng
dạy của bản thân cho phù hợp với nội dung bài học, phù hợp với đối tượng học
sinh, nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy của bản thân.
VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng đề tài này, tôi đã so sánh và thống kê
kết quả như sau:
* Ở lớp không áp dụng đề tài trên:
+ Tình trạng học sinh nhác học vẫn phổ biến, nhiều em không chuẩn bị bài ở nhà
trước khi đến lớp, các em bị động trong các câu hỏi của giáo viên, không khí tiết
học trầm,……
+ Điểm kiểm tra miệng của các em không cao, có nhiều em bị điểm không (vì
các em lười học bài cũ).
+ Điểm trung bình học kỳ môn của các em thấp hơn.
điểm
điểm
12A11
40
3
5
15
13
4
Lớp đối chứng
7.5%
12.5% 37.5% 32.5% 10%
12A2
42
7
9
17
9
0
Lớp thực nghiệm
16.7% 21.4% 40.5% 21.4%
0%
Số liệu thống kê điểm trung bình môn học kỳ I năm học 2011-2012:
Lớp
Tổng số 8.0 trở 6.5 5.0 3.5 0học sinh
lên
7.9
6.4
4.9
3.4
nhiệt tình, phấn chấn hơn trong các giờ dạy. Thông qua các hình thức kiểm tra
miệng thường xuyên này, giáo viên sẽ phát hiện được khả năng của học sinh
cũng như biết được em nào còn yếu kém để kịp thời giúp đỡ các em bổ sung
18
kiến thức và kỹ năng. Ngoài ra còn giúp giáo viên điều chỉnh quá trình dạy học
của mình cho phù hợp với trình độ hiểu biết, nhận thức của học sinh.
Tuy nhiên để áp dụng những cải tiến này một cách hiệu quả, đòi hỏi sự
chuẩn bị rất chu đáo của giáo viên. Giáo viên phải thiết kế lại các câu hỏi, trong
sách giáo khoa và ra thêm các dạng bài tập sát với các đề kiểm tra, đề thi. Ngoài
ra giáo viên phải đánh giá thật công bằng, khách quan, thái độ cư xử phải tế nhị,
khuyến khích, động viên các em kịp thời. Trong khi kiểm tra bài của học sinh thì
giáo viên phải có cách để thu hút được các học sinh khác cùng tham gia để giải
quyết vấn đề, tránh tình trạng giáo viên hỏi đáp với một người. Giáo viên đặt hệ
thống câu hỏi để cho cả lớp cùng suy nghĩ và huy động kiến thức, như thế thì có
khả năng kiểm tra trình độ hiểu biết của các học sinh trong lớp.
II. KIẾN NGHỊ
Qua thực tế giảng dạy và thực hiện đề tài này tôi xin được kiến nghị một số
việc như sau:
- Chương trình sách giáo khoa nên được giảm tải để giáo viên có thời gian
hơn trong việc kiểm tra miệng học sinh.
- Hình thức đánh giá và thi cử nên được cải tiến, các đề kiểm tra không nên
100% trắc nghiệm, vì như vậy sẽ không đánh giá được các kỹ năng của học sinh.
Qua đó hạn chế tính ỷ lại, lười nhác của học sinh trong việc tích luỹ kiến thức,
kỹ năng, đồng thời giúp học sinh thấy được kết quả phản ánh đúng với khả năng
thực của các em.
- Thư viện nhà trường nên bổ sung thêm nhiều sách tham khảo cho học sinh
và giáo viên.