hình tượng con người cô đơn trong gào thét trong mưa bụi của dư hoa - Pdf 24

B GIO DC V O TO
I HC HU
TRNG I HC S PHM
NG THậ HAI
HầNH TặĩNG CON NGặèI C N
TRONG GAèO THEẽT TRONG MặA BUI
CUA Dặ HOA
Chuyờn ngnh: Vn hc nc ngoi
Mó s: 60 22 30
LUN VN THAC Sẫ NGặẻ VN
NGI HNG DN KHOA HC:
TS. NGUYN TH TNH THY
Huóỳ, Nm 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận
văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng
và chưa được công bố trong bất kì một công trình nào
khác.
Huế, tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hải
ii
Để hoàn thành Luận văn này, ngoài cố gắng nổ lực
của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô giáo, người thân và bạn bè.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất
đến TS. Nguyễn Thị Tịnh Thy, người đã trực tiếp giúp đỡ,
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này.

5. Đóng góp mới của đề tài 10
6. Cấu trúc của luận văn 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 12
CON NGƯỜI CÔ ĐƠN VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NÓ TRONG GÀO THÉT
TRONG MƯA BỤI 12
1.1. Vài nét về con người cô đơn và kiểu nhân vật con người cô đơn trong tiểu thuyết
của Dư Hoa 12
1.1.1. Khái niệm cô đơn 12
1.1.2. Những biểu hiện của con người cô đơn 12
1.1.3. Kiểu nhân vật con người cô đơn trong tiểu thuyết của Dư Hoa 13
1.2. Những dạng thức chủ yếu của con người cô đơn trong Gào thét trong mưa bụi 18
1.2.1. Cô đơn vì bị chối bỏ 18
1.2.1.1. Gia đình chối bỏ 18
1.2.1.2. Xã hội chối bỏ 21
1.2.2. Cô đơn trong kiếp người 23
1.2.2.1. Cô đơn tiền định 24
1.2.2.2. Cô đơn bản thể 25
1.3. Con người cô đơn với những bi kịch trong cuộc sống 26
1.3.1. Bi kịch mất người thân 26
1.3.1.1. Bi kịch mất người thân trong gia đình 27
1
1.3.1.2. Bi kịch mất bạn bè 28
1.3.2. Bi kịch thiếu tình yêu 30
1.3.2.1. Thiếu tình yêu lứa đôi 30
1.3.2.2. Thiếu tình yêu trong gia đình 31
1.3.2.3. Thiếu tình cảm trong môi trường xã hội 33
1.3.3. Bi kịch vì những ẩn ức cá nhân 34
1.3.3.1. Ẩn ức tính dục 34
1.3.3.2. Ẩn ức vì bị bội tình 36

2
3.2.2.1. Giọng điệu lạnh lùng, khách quan, tàn nhẫn 77
3.2.2.2. Giọng hài hước buồn 80
3.2.2.3. Giọng điệu hoài nghi 84
C. KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Những năm 80 trở lại đây, văn học Trung Quốc khởi sắc trở lại sau
nhiều năm bị “đại cách mạng văn hóa” nhấn chìm. Trong số những nhà văn
trẻ thuộc trào lưu sáng tác mới thực sự tài năng, có nhiều tác phẩm xứng với
tầm vóc của một đất nước có bề dày văn hóa nhất, nhì thế giới, Dư Hoa là
một trường hợp khá điển hình. Mặc dù ở Việt Nam, Dư Hoa chưa thật sự
được quan tâm đúng mức bởi người đọc vẫn còn lạ lẫm với ngòi bút quá
thẳng thắn và bản lĩnh này. Tuy nhiên, với những gì đã thể hiện và cống hiến
cho văn chương, Dư Hoa xứng đáng có một vị trí quan trọng trong thưởng
thức và nghiên cứu văn học Trung Hoa đương đại.
1.2. Trong cuộc bình chọn những tác phẩm xuất sắc nhất để đánh dấu
hơn nửa thế kỷ văn học phát triển. Dư Hoa vinh dự được bầu chọn là một
trong 73 tác giả có tác phẩm xuất sắc trong danh sách “một trăm tác phẩm nổi
tiếng văn học Trung Quốc đương đại”. Tác phẩm của Dư Hoa đã được dịch ra
nhiều thứ tiếng trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan,
Nhật Bản Hàn Quốc… Các tác phẩm của ông thuộc thể loại hài hước thực tế.
Không có sự tồn tại của luật pháp trong đó, chỉ có những nơi cuồng tín, đồi
trụy, cờ bạc, mại dâm, và cả những cuộc thương lượng mua bán mờ ám…
Đọc những trang sách của Dư Hoa, có sự thống nhất chung trong phong cách,
giọng điệu và nhân tính con người bị thử thách đến tận cùng trong Cách mạng
văn hóa. Đó là điểm nhấn làm nên cái tên Dư Hoa với bạn đọc, không chỉ tại

thuật của nhà văn bộc lộ khá tập trung và sắc nét. Chủ đề cô đơn qua đó trở
thành một giá trị nhân văn mới mẻ, làm giàu thêm hệ thẩm mĩ quen thuộc của
văn học Trung Quốc đương đại. Với hình tượng con người cô đơn tiểu thuyết
đã gây cho người đọc một “chấn thương tinh thần” bởi nó quá khắc nghiệt, quá
trần trụi và cũng quá bi thương. Tìm hiểu Hình tượng con người cô đơn trong
5
Gào thét trong mưa bụi cũng là cách để hiểu thêm về phong cách nghệ thuật
của Dư Hoa cũng như chủ nghĩa nhân văn mà ông đề cập trong tác phẩm.
Với những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài: Hình tượng con người
cô đơn trong Gào thét trong mưa bụi của Dư Hoa như một bước khởi đầu
cho nỗ lực chiếm lĩnh những kinh nghiệm nghệ thuật mới.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Nghiên cứu ở Trung Quốc
Dư Hoa là một “hiện tượng” của văn học Trung Quốc đương đại. Ông
bắt đầu sáng tác từ năm 1983. Những tác phẩm chủ yếu của nhà văn là: Sao
trời, Một loại hiện thực, Mười tám tuổi ra khỏi nhà đi xa,Gào thét trong mưa
bụi, Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Huynh đệ;… Truyện của Dư
Hoa kỳ lạ, khác thường, phương thức kể chuyện độc đáo có một không hai.
Gào thét trong mưa bụi được ông viết xong ngày 17 tháng 9 năm 1991
ở tuổi 31. “Đây là tác phẩm kinh điển của những năm chín mươi thế kỷ hai
mươi” (Lời người dịch). Tháng 3 năm 2004, Gào thét trong mưa bụi được
tặng Huân chương kỵ sĩ văn học nghệ thuật của Pháp. Tác phẩm đã thu hút
được bạn đọc bởi nội dung và nghệ thuật mang nhiều hơi hướng lạ. Ngoài
Gào thét trong mưa bụi, Dư Hoa còn khiến biết bao con tim độc giả phải thổn
thức, khôn nguôi với những tác phẩm như: Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán
máu, Huynh đệ;… Đó là những đóng góp to lớn của ông cho văn học nước
nhà. Với những cống hiến to lớn này, Dư Hoa còn nhận được nhiều giải
thưởng có giá trị khác như: Giải thưởng văn học Grinzane Cavour của Italia
(1988), giải Jame Joy Foundation Award của Austraylia và Ireland (2002),
giải cống hiến đặc biệt sách Trung Hoa lần thứ nhất (2005). Tìm hiểu về Dư

không thứ tự để nghe tiếng nói của quá khứ ở đầu dây bên kia!” [16, tr.10]
Trong “Lời nói đầu” của bản tiếng Hàn Quốc tác giả cũng nhận định:
Gào thét trong mưa bụi bị kí ức quán xuyến từ đầu đến cuối…Từ nơi sâu
thẳm của kí ức, tôi đã đánh thức rất nhiều cảm giác hạnh phúc và cay đắng”
[16, tr.12].
7
Và khi trao tặng Huân chương kỵ sĩ của Văn học nghệ thuật Pháp cho
Gào thét trong mưa bụi của Dư Hoa, thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng văn hoá
Pháp, Jeans Jacques Aillagon nói: “Ở Gào thét trong mưa bụi, sự li kì và bình
thường hoà quyện nhau trong lối kể chuyện hấp dẫn mạnh mẽ, thủ pháp kể
chuyện có tính kịch, dàn trải, tình tiết giống như tác phẩm âm nhạc, nhà văn
dẫn dắt người đọc đến cùng cực của nhân tính, rồi lại trở về những lo lắng và
niềm vui thời thơ ấu” [16, tr.6].
Những lời nhận xét, đánh giá trên chỉ là những gợi ý nhỏ về nội dung,
nghệ thuật của tác phẩm và phong cách sáng tác của Dư Hoa nhằm chứng
minh cho hướng tiếp cận của mình mà thôi, chưa có công trình nghiên cứu
nào thực sự đi sâu vào hình tượng con người cô đơn trong tác phẩm mà chúng
tôi hướng tới.
2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Tác phẩm của Dư Hoa được dịch ra rất nhiều tiếng trên thế giới. Tuy
nhiên ở Việt Nam, bạn đọc biết đến ông chưa nhiều. Cũng có lẽ bởi cái bóng
quá lớn của Mạc Ngôn, Giả Bình Ao hay Vương Mông, Cao Hành Kiện
Trong giáo trình Tiểu thuyết Trung Quốc thời kì đổi mới do Lê Huy
Tiêu (chủ biên), nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, có đoạn: “tiểu thuyết
của các nhà văn trẻ như Lưu Sách La, Mã Nguyên, Hồng Phong, Dư Hoa…
mới thực sự là tiểu thuyết tiên phong, nó dường như tiếp thu hoàn toàn các
thủ pháp của chủ nghĩa hiện đại phương Tây” [40, tr.82]
Có thể thấy tiểu thuyết của Dư Hoa cũng được đánh giá một cách cô
đọng, khách quan nhất ở hai cụm từ “tiếp thu hoàn toàn các thủ pháp của chủ
nghĩa hiện đại phương Tây” và được xếp vào “tiểu thuyết tiên phong”

khăn về ngôn ngữ, tài liệu, thì những nhận định, những ý kiến đánh giá trên
9
cũng đem lại cho người viết những gợi mở hấp dẫn, thú vị. Từ đây chúng tôi
tập trung vào hình tượng con người cô đơn trong Gào thét trong mưa bụi để
chỉ ra quan niệm về con người và cá tính sáng tạo của nhà văn Dư Hoa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình tượng con người cô đơn trong
Gào thét trong mưa bụi của Dư Hoa
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên yêu cầu: Những biểu hiện của
con người cô đơn và các phương thức thể hiện của nó trong tác phẩm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết một cách tốt nhất những yêu cầu của luận văn đặt ra,
người viết sử dụng các phương pháp:
Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thi pháp thể loại: Sử
dụng phương pháp này người viết có điều kiện đi sâu vào từng chi tiết nghệ
thuật trong tác phẩm mà nhà văn hướng đến, để thấy được dụng ý nghệ thuật
của nhà văn trong việc truyền tải thông điệp của mình đến độc giả
Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Nhằm mục đích xâu chuỗi các vấn
đề, đồng thời chỉ ra được những kiểu con người cô đơn và những bi kịch của
họ trong cuộc sống.
Phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra sự tương đồng và khác
biệt của “Hình tượng con người cô đơn trong Gào thét trong mưa bụi với các
tác phẩm khác của Dư Hoa và các tác phẩm cùng loại của các tác giả khác.
Phương pháp tổng hợp giúp người viết rút ra những nhận xét khái quát
thông qua những chi tiết cụ thể trong tác phẩm.
5. Đóng góp mới của đề tài
1. Đề tài đưa lại một cái nhìn có hệ thống và sâu sắc về hình tượng con
người cô đơn trong tác phẩm.
2. Đề tài chỉ ra những đóng mới của nhà văn trên phương diện nội dung
và nghệ thuật cho văn học Trung Quốc đương đại. Góp phần làm phong phú

trạng thái cô đơn. Về mặt tâm lí, cô đơn là trạng thái con người cảm thấy lẻ
loi, hụt hẫng khi bị cắt đứt khỏi sợi dây liên hệ với cộng đồng.
1.1.2. Những biểu hiện của con người cô đơn
Cô đơn như một trạng thái tâm lí bao gồm các cấp độ:
Thứ nhất, nó tồn tại dưới dạng những xúc cảm cô đơn, những rung
động rời rạc, riêng lẻ, thoáng qua.
12
Thứ hai, nó tồn tại dưới dạng cảm giác cô đơn. Đây là một quá t£nh tâm
lí xuất hiện khi có các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh tác động
trực tiếp vào con người.
Thứ ba, nó tồn tại dưới dạng tâm trạng, được hiểu là những biểu hiện
tâm lí tồn tại trong khoảng một thời gian tương đối ổn định và trực tiếp chi
phối người mang tâm trạng đó về nhiều mặt
Có thể qui về hai cơ chế điển hình của nỗi cô đơn đó là: Tự cô đơn và
bị cô đơn. Tự cô đơn tức là con người lớn lên đã thấy cô đơn mà không hề lí
giải được vì sao. Nó là sự sai khiến của dòng chảy thần thánh trong từng
huyết quản của con người. Nó thuộc về cội nguồn bản thể.
Bị cô đơn là tình trạng được xem xét trong mối tương quan với hoàn
cảnh, với cộng đồng xã hội xung quanh. Nó không phụ thuộc vào ý thức và ý
muốn của con người. Ở đây “cô đơn” là bị loại ra khỏi cộng đồng do sự chênh
lệch. Cá nhân tự ý thức về mình và tự loại mình ra khỏi cái chuẩn chung,
đứng lệch đi, thấp hơn hoặc cao hơn.
Có thể hiểu con người cô đơn là: chỉ sự lẻ loi, đơn chiếc tự bản thể, vừa
là trạng thái tâm lí của con người cảm thấy lẻ loi, đơn chiếc khi rơi vào hoàn
cảnh bị cắt đứt sợi dây liên hệ với cuộc đời.
1.1.3. Kiểu nhân vật con người cô đơn trong tiểu thuyết của Dư Hoa
Qua khảo sát một số tác phẩm của Dư Hoa như: Sống, Huynh đệ, Chuyện
Hứa Tam Quan bán máu, Gào thét trong mưa bụi, Mười tám tuổi rời nhà ra đi;
… Người viết nhận thấy kiểu nhân vật con người cô đơn trong các tác phẩm này
gồm: nhân vật chấn thương, nhân vật nổi loạn, nhân vật kiếm tìm,…

người thân nào để chia sẻ, chỉ còn lại nỗi cô đơn, trống rỗng đang nhấn chìm
chính mình. Lâm Hồng, người đàn bà nhan sắc của thị trấn Lưu, có người
chồng là Tống Cương hết lòng vì vợ, cuối cùng chỉ một phút yếu lòng mà cô
đã để cho cái bản năng xâm chiếm, để rồi tâm hồn cô thực sự đã chết khi nhận
ra tình yêu lớn của đời mình đã chết;…
14
Và ở Sống cũng vậy, hình ảnh về cái chết ám ảnh con người đến ghê
rợn. Tất cả người thân của Phú Qúy đều lần lượt chết trước mắt lão, để cuối
cùng còn sót lại một mình lão bên con trâu già nua của mình.
Dù còn sống hay khi đã chết thì hầu hết các nhân vật của Dư Hoa đều
mang trong mình những “chấn thương” tâm lý. Nỗi đau cùng cực về thể xác,
sự mất dần cảm giác trong tâm hồn là điều dễ nhận thấy nhất trong các nhân
vật của Dư Hoa.
Theo M.Heidegge: “tồn tại giúp ta xác định chân tướng một con người.
con người có thể hiện hữu nhưng chưa hẳn đã tồn tại”. Các nhân vật của Dư
Hoa luôn cảm thấy xa lạ, lạc lõng trước cuộc sống, thậm chí xa lạ với chính
mình. Chính vì vậy mà họ luôn cảm thấy bất an và mang trong mình tâm
trạng cô đơn. Dường như thiếu thốn một cái gì đó mà họ không lý giải được.
Vì thế họ khao khát kiếm tìm sự hiện hữu của bản thân, kiếm tìm lẽ sống cho
riêng mình, và cũng là để trả lời cho câu hỏi “ta là ai?”.
Kiểu nhân vật kiếm tìm, đó là cuộc hành trình đi kiếm tìm chân lí, kiếm
tìm hạnh phúc, kiếm tìm bản ngã.
Phú Qúy trong Sống dù lắm đắng cay còn sót lại trong cuộc đời, bên
con trâu già trong chuỗi ngày xế bóng, nhưng nhân cách làm người thật sáng
trong. Qua Sống, ta cảm nhận được nhiều thông điệp về lẽ sống của cuộc đời.
Nhiều tầng ý nghĩa chứa trong một quyển sách mỏng: Hành trình thiên nan,
vạn nan của sự hình thành cái cao đẹp. Trả lời cho nỗi băn khoăn đi tìm căn
nguyên, cội nguồn của sự sống. Không có một tia hy vọng nào hé lên để nhân
vật bám lấy mà sống. Nhưng dường như không có ai cảm thấy điều đó là cần
thiết. Đời sống tự nó là thế, và người ta vui vẻ đón nhận tất cả những biến cố,

Ở Gào thét trong mưa bụi cũng vậy, cuộc đời trôi dạt của cậu bé Tôn
Quang Lâm phải sống cuộc sống nay đây mai đó, phải tự mình đối mặt với
cuộc sống khó khăn, và trên con đường tìm lại chính mình, cậu bắt gặp những
con người cùng cảnh ngộ, đó là những con người cô đơn, mang trong mình
những “chấn thương” tinh thần không bao giờ lành.
16
Mười tám tuổi rời nhà đi xa cũng là cuộc trải nghiệm của nhân vật tôi.
Ra đi để nhận biết thế giới bên ngoài, để khẳng định rằng mình đã trưởng
thành. Và cuộc ra đi này “tôi” đã học được rất nhiều điều từ cuộc sống hiện
thực đó là: “cái mà ta cố công đi kiếm tìm, thì ra nó lại ở ngay chính bên
cạnh ta mà ta không hề biết”. Và qua truyện ngắn này Dư Hoa muốn gửi đến
bạn đọc thông điệp của cuộc sống: “hãy biết nâng niu, trân trọng những gì
mình đang có”
“Tôi cảm nhận được, chiếc ô tô này tuy thương tích đầy mình nhưng
trái tim nó vẫn khỏe mạnh và còn ấm áp nữa. Tôi biết trái tim mình cũng ấm
áp. Tôi đi tìm nhà trọ mãi, không ngờ nhà trọ của mình lại chính nơi đây”
[17, tr.51].
Mỗi nhân vật của Dư Hoa, đều chọn cho mình một phương thức khác
nhau, một mục đích khác nhau để kiếm tìm cái mình đang thiếu. Và sau
những cuộc trải nghiệm, những hành trình tìm kiếm gặp nhiều khổ đau, mất
mát thậm chí là hy sinh cả tính mạng, nhưng họ đều tìm đến được cái hạnh
phúc đích thực của đời mình.
Vòng luẩn quẩn của số phận, những cạm bẫy của cuộc sống như tấm
lưới đang giăng mắc nhiều mảnh đời không tìm được lối ra. Chính những bi
kịch về ý thức tồn tại hay sự vô nghĩa của cuộc sống tạo nên kiểu con người
nổi loạn trong sáng tác của Dư Hoa. Xuất phát từ những bi kịch cá nhân, trên
hành trình tìm kiếm và lý giải, con người luôn bị ám ảnh về nỗi cô đơn, hoài
nghi trước cuộc sống. Con người trong sáng tác của Dư Hoa luôn cảm thấy
lạc loài, họ sống khép kín, khác thường, thậm chí có những hành động bất
thường mà không lý giải nổi.

Lên sáu tuổi, Tôn Quang Lâm bị bố mẹ đem cho người khác. Ở với bố
mẹ nuôi năm năm, Sau khi bố nuôi Vương Lập Cường chết, một lần nữa cậu
lại bị mẹ nuôi chối bỏ. Bơ vơ không nơi nương tựa, cậu lại tìm về Cửa Nam –
tìm về với gia đình cũ, nhưng hình như cậu lại bắt đầu cuộc sống được người
ta nhận nuôi, trong chính gia đình của mình cậu bị đối xử như người xa lạ.
18
Trong gia đình, Tôn Quang Lâm bị coi thường và xác nhận là một kẻ dư thừa
chuyên gây phiền toái. Có mấy lần cậu nghe thấy bố nói với anh trai: “Nếu
không có thằng nhãi thì tốt”.
Anh trai cũng ghét cậu là do ảnh hưởng từ bố. Mỗi lần cậu xuất hiện
bên anh thì lập tức bị đuổi đi ngay. Vì thế mà cậu cách biệt anh em mình ngày
càng xa. Tôn Quang Lâm trở thành người thừa trong chính gia đình của mình.
Sự có mặt của cậu trong gia đình chỉ làm tăng thêm sự bức bối mà thôi, vì vậy
mà có chuyện gì xảy ra đối với gia đình cậu luôn đứng ngoài cuộc. Trong một
lần bị sốt cao, nằm trên giường miệng khô, cổ rát, đầu óc mê mệt, đúng lúc ấy
con cừu cái nhà cậu cũng sắp đẻ, người nhà đều có mặt trong chuồng để chăm
sóc nó, còn cậu thì một mình nằm trong nhà, mơ mơ màng màng. Trong suy
nghĩ của mọi người thì con cừu còn có thể đem lại lợi ích cho gia đình, còn
cậu chỉ là kẻ ăn hại, vì vậy mà số phận cậu không bằng con cừu. Sự bơ vơ, cô
độc đã biến Tôn Quang Lâm trở thành một cậu bé trơ lì về mặt cảm xúc.
Không những ở gia đình mình mà trong gia đình của bố mẹ nuôi, Tôn Quang
Lâm cũng bị đối xử như một kẻ giúp việc. “Thực ra, bà Lý Tú Anh không coi
trọng sự tồn tại của cậu, bà tốn quá nhiều thời gian để tỏ ra thương hại bản
thân, mà rất ít quan tâm đến cậu” [16, tr.276].
Quốc Khánh - người bạn học của Tôn Quang Lâm, mẹ mất sớm, lên
chín tuổi bị bố đẻ “ruồng bỏ” để chạy theo người đàn bà khác. Sau khi bị bố
ruồng bỏ, cậu phải tự lo cho bản thân mình và dần dần quen với nếp sống tự
lập. Trái với bố, cậu không ruồng bỏ bố mà vẫn luôn khao khát và hy vọng
“một ngày nào đó khi thức dậy, sẽ trông thấy bố đứng trước giường chăm chú
nhìn mình”. Nhưng những hy vọng của cậu thật mong manh và xa vời.

cảm, những tủi hổ về số phận bị bỏ rơi. Chúng lớn lên trong sự ghẻ lạnh của
những người thân trong gia đình, đối mặt với những khó khăn của cuộc sống,
chúng phải oằn mình chống chọi, tự mình dấn thân và đối mặt với những
hiểm nguy đang rình rập trong cuộc đời. Chính vì vậy mà cô đơn đã trở thành
nỗi ám ảnh với những tâm hồn trong trắng trên bước đi ban đầu của tuổi thơ.
20
Ở Gào thét trong mưa bụi, không những trẻ con bị gia đình chối bỏ mà
cả những người lớn cũng bị chính gia đình mình chối bỏ.
Bà nội của Tôn Quang Lâm bị gia đình nhà chồng chối bỏ, đúng hơn là
bị mẹ chồng đuổi. Vào một buổi sáng đẹp trời, trên cành cây trước sân, hai
con chim sẻ nhảy nhót ríu rít bên nhau. Bà nội Tôn Quang Lâm đã bị cảm hóa
sâu sắc bởi tình cảm quấn quýt và mê say của chúng. Bà chìm đắm trong giai
điệu mê hồn của buổi sớm trong sáng. Thế nhưng người mẹ chồng nghiêm
khắc của bà đã không thể chấp nhận hành vi vượt ra ngoài khuôn khổ của bà,
và thế là bà nội Tôn Quang Lâm được mẹ chồng dẫn ra một con đường cái.
“Người đàn bà bảo vệ sự trong trắng của gia tộc đi về hướng mặt trời mọc,
còn bà nội tôi đành phải quay lưng về hướng mặt trời. Và cũng không phải
suy nghĩ gì thêm, chồng bà đã chon hướng đông theo mẹ” [16, tr.200], bỏ mặc
bà bơ vơ giữa dòng người chạy loạn. Cuộc đời bà như chiếc lá trôi theo dòng
nước, từ cuộc sống của người giàu sang, bà bắt đầu cuộc sống “gối đất nằm
sương”, bà đã gặp và làm vợ ông nội Tôn Quang Lâm, từ đây cuộc đời bà là
những chuỗi ngày chìm đắm trong sự cô đơn, hồi tưởng về quá khứ tươi đẹp
của mình.
Cuộc đời của ông nội Tôn Hữu Nguyên cũng vậy, về già khi không còn
đủ sức để nuôi thân, ông đã bị đứa con trai Tôn Hữu Tài ruồng bỏ và mong
cho chết sớm…
Như vậy, cô đơn không đơn thuần là do số phận của con người tạo nên,
mà cô đơn ở đây còn do chính những người thân trong gia đình tạo nên. Gia
đình ở đây đã không còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn con người nữa, mà nó là
nơi mà con người ta cảm thấy ngột ngạt và bế tắc, là nơi tạo nên sự cô đơn

Chọn lối đứng một mình là sự bất đắc dĩ để bảo vệ danh dự của cái
“tôi” tự tôn của mình. Không những thế, ở trường Tôn Quang Lâm còn bị bạn
bè và thầy cô vu cáo, đổ tội và bắt giam một cách cay nghiệt trong một gian
nhà nhỏ. Đối với một cậu bé sáu tuổi mà nói thì đây là một chấn thương tinh
thần lớn để lại sự hoảng sợ trong dấu ấn của tuổi thơ đến trường.
22

Trích đoạn Kết cấu đồng hiện nỗi cô đơn không có giới hạn Người kể chuyện ngôi thứ nhất – phương thức chuyển tải nỗi cô đơn hữu hiệu Người kể chuyện trải nghiệm – bản thể cô đơn kết nối những bản thể cô đơn Người kể chuyện với điểm nhìn bín trong – sự thấu hiểu vă cảm thông với nỗ Vai trò của ngôn ngữ vă giọng điệu trong việc thể hiện con người cô đơn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status