PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Dạy học là hoạt động chủ đạo trong mỗi nhà trường. Chất lượng dạy học
có đạt hiệu quả hay không trước hết phụ thuộc vào trình độ, năng lực của mỗi
giáo viên. Giáo viên là người thực hiện phương pháp giảng dạy, là người tổ
chức, điều khiển và đồng thời cũng là người trực tiếp hướng dẫn học sinh tìm ra
kiến thức mới. Đặc biệt khi dạy phân môn tập làm văn mà cụ thể là thể loại văn
miêu tả, giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, vững chắc, có nghệ thuật sư phạm
khéo léo để khai thác và phát huy vốn ngôn ngữ tiềm ẩn trong óc tư duy sáng tạo
của mỗi học sinh.
Đối với học sinh miền núi, viết văn là một nội dung khó vì môn tập làm
văn mang tính đặc thù của môn học giàu trí tưởng tượng và biểu cảm. Để viết
được một bài văn miêu tả hay đòi hỏi các em phải có sự quan sát tinh tế, có vốn
từ phong phú, biết cảm nhận sự vật hiện tượng, biết so sánh, nhân hoá, liên
tưởng và diễn đạt bằng từ ngữ, hình ảnh trôi chảy, sáng tạo.
Nội dung các bài tập làm văn lớp 4,5 gắn với các chủ điểm, có sự tích hợp
rõ nét với các phân môn khác trong chương trình tiếng việt. Viết văn là cơ hội
giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học, góp phần phát
triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh. Tư duy hành động của trẻ được
rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá… khi
miêu tả. Do đó văn miêu tả có một vị trí vô cùng quan trọng.
Văn miêu tả giúp học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người
và thiên nhiên, có cơ hội bộc lộ cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn và phát triển
nhân cách con người Việt Nam theo mục tiêu đào tạo của chương trình sách giáo
khoa hiện hành.
Ở Tiểu học, tập làm văn là nội dung tích hợp có vị trí quan trọng trong
chương trình tiếng việt, góp phần hệ thống lại kiến thức tiếng mẹ đẻ cho học
sinh làm phong phú tâm hồn các em.
1
Qua miêu tả về vật, phong cảnh và nhất là tả người sẽ thể hiện tình cảm
chân thực, bộc lộ năng lực ngôn ngữ và khả năng cảm thụ sáng tạo của mỗi học
sinh.
Quan sát thế giới xung quanh rồi dùng phương tiện ngôn ngữ nói, viết để
tái hiện lại là một quá trình tư duy với cách nhìn riêng, sự lựa chọn riêng và một
bản sắc cảm xúc riêng. Mỗi bài văn miêu tả là một sáng tác thể hiện trí thông
minh, khả năng cảm thụ cái đẹp và nhu cầu sáng tạo ra cái đẹp trong bản thân
mỗi học sinh.
Quá trình thực hiện các kỹ năng làm văn là cơ hội giúp học sinh mở rộng
vốn từ và làm cho các em gắn bó với sự vật xung quanh, thổi vào tâm hồn các
em tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước. Đó là yếu tố quan trọng để hình thành
nhân cách con người .
Trong phân môn tập làm văn lớp 4,5, thể loại văn miêu tả chiếm hầu hết
chương trình, được phân bố như sau :
TT Kiểu bài
Số tiết
Tổng số tiết
2 nămhọc
Lớp 4 Lớp 5
1 Khái niệm miêu tả 01 0 1
2 Tả đồ vật 10 3 13
3 Tả cây cối 11 3 14
4 Tả con vật 08 3 11
5 Tả cảnh 0 17 17
6 Tả người 0 15 15
Tổng số tiết cả năm 30 41 71
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
1.Công tác giảng dạy của giáo viên:
Để tìm hiểu thực trạng giảng dạy tập làm văn nói chung và dạy văn miêu
tả nói riêng, tôi đã tiến hành dự giờ, khảo sát chất lượng học sinh và thu được
kết quả như sau:
3
Kết quả khảo sát giáo viên trường Tiểu học Tân Lập nửa đầu học kì 1
Đề bài: Vào đầu năm học mới, em được bố mẹ mua cho một chiếc cặp.
Em hãy tả lại chiếc cặp ấy và nói lên suy nghĩ của mình.
Kết quả kiểm tra như sau:
Khối
Tổng
số HS
Loại giỏi Loại khá Loại TB
SL TL SL TL SL TL
4 18 3 16.6% 11 61,1% 4 36.3%
5 21 5 23.8% 14 66.6% 2 9.6%
XLC 8 20.5% 25 64.1% 6 15.4%
Căn cứ kết quả thống kê ta thấy mặc dù tất cả học sinh khảo sát của hai
khối 4,5 đều là học sinh khá giỏi nhưng số lượng học sinh có khả năng viết được
bài văn hay ( đạt điểm giỏi ) chưa cao, đa số học sinh viết văn chỉ dừng lại ở
mức đạt khá và đạt yêu cầu ( chiếm 79.5%).
Nhận định chung qua điều tra: Phần lớn học sinh nhà trường đặc biệt
là học sinh dân tộc thiểu số đều rất hạn chế trong việc viết văn( văn miêu tả).
Các em chưa biết cách quan sát hoặc biết cách quan sát song không biết cách
diễn đạt. Nghèo nàn về vốn từ. Các bài viết thiếu sự liên tưởng, so sánh, thiếu
tính sáng tạo. Hầu như bài viết của các em là các bài tả thực bằng ngôn ngữ nói
hằng ngày do đó mắc nhiều sai xót trong việc dùng từ, lựa chọn hình ảnh, sử
dụng hình ảnh. Đặc biệt các em chưa có thói quen sử dụng câu cảm thán, sử
dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ khi miêu tả.
Từ thực trạng trên, để thực hiện tốt chủ đề năm học “ Đổi mới công tác
quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục”, nâng cao hiệu quả giờ dạy phân môn
Tập làm văn của giáo viên và đặc biệt là giúp các em học sinh khá giỏi khối 4,5
trường Tiểu học Tân Lập viết được những bài văn miêu tả hay, trong sáng kiến
này tôi xin trình bày cách làm của mình như sau:
5
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện:
nhận và đến với đối tượng một cách tự nhiên, khai thác nội dung một cách khéo
léo, sáng tạo, tinh tế.
Khắc phục thực trạng học sinh nhàm chán bởi phương pháp, hình thức dạy
học đơn điệu, khô cứng mà lâu nay giáo viên vẫn làm, tôi chỉ đạo giáo viên đổi
mới cách thực hiện tiết dạy dựa trên hai hoạt động cơ bản sau:
VD: Đề bài: Em hãy tả cảnh quê hương em khi mùa xuân đến.
Hoạt động 1: Hoạt động nhóm lớn.
Tổ chức trò chơi : Vẽ quê hương: Thời gian 10 - 15 phút.
( Hoạt động này thay cho bước hướng dẫn học sinh đọc đề, tìm hiểu và phân
tích đề trong quy trình dạy học phân môn tập làm văn chương trình hiện hành).
1.1. Cách tiến hành:
- GV giới thiệu trò chơi và phổ biến luật chơi : Trong tiết học hôm nay các em
sẽ được tham gia trò chơi “vẽ quê hương” nhưng không sử dụng màu sắc để vẽ
mà dùng ngôn ngữ (nói, viết) để tái hiện bức tranh của mình. Mỗi nhóm sẽ vẽ lại
một bức tranh về quê hương khi mùa xuân đến (theo nội dung yêu cầu của
đề)bằng cách liệt kê( viết ra) những hình ảnh sẽ vẽ và sắp xếp hình ảnh một cách
hợp lí. Từng học sinh trong nhóm sẽ tự lựa chọn cho mình những cảnh vật yêu
thích để đưa vào bức tranh và chuẩn bị nội dung thuyết trình, giới thiệu( mô tả )
về hình ảnh, đối tượng đã lựa chọn.
- Chia nhóm, HD học sinh cách ghi nội dung vào bảng nhóm.
VD:
7
- HS thực hiện trò chơi.
- Các nhóm trình bày kết quả: GV hướng dẫn HS dựa vào kết quả thảo luận
nhóm dùng thước chỉ và nêu lần lượt từng nội dung (như trình bày bài văn
miệng).
VD: Mùa xuân trên quê hương em thật đẹp!
Ông mặt trời sau một giấc ngủ đông dài giờ đã tỉnh giấc.
Chị đào, chị mận thi nhau đua nở.
Cô Hồng Nhung nổi bật, rạng rỡ bởi chiếc áo cánh màu đỏ thắm.
- Học sinh nhận xét kết quả các nhóm bạn.
- GV nhận xét phần trình bày của các nhóm, khen ngợi học sinh biết diễn đạt
trôi chảy, dùng từ hay…
- GV chốt nội dung kiến thức sau trò chơi: Bức tranh quê hương có rất nhiều
cảnh đẹp làm ta thêm yêu, thêm quý. Thông qua trò chơi các em đã biết lựa chọn
những hình ảnh đặc sắc để đưa vào bức tranh của mình. Khi nói đến quê
hương, chúng ta có thể kể đến rất nhiều cảnh vật như : cây đa, giếng nước, dòng
sông, con suối, ruộng lúa, đồi núi, nhà cửa, con đường, hàng cây…nhưng quê
hương vào mùa xuân thì phải gắn với các loài hoa trong đó nổi bật là hoa đào,
hoa mai, hoa mận, quất; cảnh người qua lại tấp nập trên đường…Dựa vào nội
dung đã trình bày các em hãy viết thành một bài văn hoàn chỉnh tả lại quê hương
em khi mùa xuân đến( theo đề bài dưới đây).
Hoạt động 2: Hoạt động cá nhân: Làm bài viết: 25 - 30 phút.
- GV treo bảng phụ ghi sẵn đề bài.
- Nhắc nhở học sinh trước khi làm bài viết.
- Học sinh viết bài.
- Nhận xét, đánh giá.
1.2. Một số lưu ý khi thực hiện:
- Trò chơi có thể tiến hành theo hình thức nhóm đôi, nhóm lớn hoặc cá nhân.
- GV nên chuẩn bị 1 bảng mẫu để minh họa trong phần chốt nội dung sau trò
chơi và chuẩn bị 1 số câu văn hay gắn với nội dung đã liệt kê để giới thiệu cho
học sinh tham khảo trước khi làm bài viết.
9
- Trò chơi là hoạt động khởi động nhằm giảm bớt căng thẳng, tạo hứng thú cho
học sinh trong học tập song lại là bước chuẩn bị quan trọng cho phần bài viết
nên giáo viên phải hướng tập trung học sinh vào vấn đề cần tả theo yêu cầu của
đề.
- Chỉ đưa ra đề bài hoàn chỉnh khi kết thúc hoạt động 1 để học sinh thực hiện
việc tìm hiểu đề một cách tự nhiên như đang tham gia trò chơi, không bị áp lực
bởi bài văn viết.
mẻ mà là việc làm thường xuyên song làm thế nào để học sinh có vốn từ phong
phú và sử dụng vốn từ một cách hợp lí, chính xác, có hệ thống là vấn đề tôi đặt
ra trong sáng kiến này. Theo tôi có 3 cách( hình thức tổ chức hoạt động) để khai
thác kho tàng ngôn ngữ phong phú của Tiếng Việt đang tiềm ẩn trong học sinh,
đó là:
Cách 1: Tổ chức trò chơi theo hình thức đồng loạt.
VD: Đề bài: Em hãy tả lại một em bé đang tuổi tập nói tập đi.
Phương án 1: Chơi trò chơi “ Truyền điện” theo hình thức nối tiếp.
Mỗi học sinh nêu miệng một từ tả về em bé đang tuổi tập nói, tập đi. Học
sinh sau không được nêu lại từ học sinh trước đã nói, nếu không nêu được sẽ bị
điện giật và bị loại khỏi cuộc chơi. GV quy định thời gian chơi, hết giờ dừng
cuộc chơi, chỉ rõ từ đúng, sai và cung cấp thêm từ cho học sinh.
Phương án 2: Trò chơi “ Quả bóng tuyết”:
HS ngồi vòng tròn truyền nhau viết từ vào giấy như cách 1 trong khoảng
thời gian nhất định. Hết thời gian giáo viên treo kết quả lên bảng, nhận xét và bổ
xung như phương án 1.
Cách 2: Lựa chọn từ ngữ theo hình thức cá nhân.
GV yêu cầu mỗi học sinh tự viết từ ra giấy nháp( phiếu học tập) của mình
như cách 2 sau đó đọc trước lớp, các học sinh khác nhận xét từ đúng, sai và bổ
xung từ còn thiếu. Giáo viên nhận xét, đánh giá, cung cấp thêm từ cho học sinh
như cách đã nêu.
11
Cách 3: Lựa chọn từ ngữ bằng hình thức tổ chức trò chơi theo nhóm:
Giáo viên quy định thời gian chơi, phổ biến luật chơi, chia lớp thành các
nhóm( nhóm đôi hoặc nhóm lớn). Yêu cầu học sinh thảo luận ghi từ vào bảng,
trình bày trên bảng lớp, nhận xét, đánh giá như đã nêu và cung cấp, mở rộng
thêm vốn từ cho học sinh .
VD: Các từ thường sử dụng để miêu tả em bé tuổi tập nói tập đi là:
Mũm mĩm, mập mạp, ngộ nghĩnh, dễ thương, lon ton, ngọng nghịu, líu lo, bi
bô,rất xinh, xinh lắm…
học sinh( hình ảnh chính), ông mặt trời, hoa lá, cỏ cây, chim chóc… ( chỉ là hình
ảnh phụ làm sinh động hơn cho bài viết).
13
Cảnh nhộn nhịp của
sân trường em giờ ra
chơi
HS đá
cầu
HS nhảy
dây
HS
đọc
truyện
HS
tập thể
dục
HS
chơi
cướpcờ
cờ
Hoa lá
trên sân
Trường
Chim chóc
nhảy nhót
cùng các
bạn HS
Ông mặt
trời ghé
xem các
người mẹ khắc khổ, lam lũ vì phải chống chọi với những khó khăn, nghiệt ngã
của cuộc đời. Thay vào nước da trắng hồng, mịn màng là một làn da khô ráp
14
điểm những chấm đồi mồi. Trên đôi mắt sáng long lanh của mẹ luôn hằn chứa
cái nhìn tuyệt vọng và nỗi đau mất mát….
Các hình ảnh đối lập:
Bông hoa rực rỡ của làng Hồng Dương - người mẹ khắc khổ, lam lũ
Nước da trắng hồng, mịn màng - làn da khô ráp điểm những chấm đồi mồi
Đôi mắt sáng long lanh - cái nhìn tuyệt vọng và nỗi đau mất mát
nhằm nhấn mạnh sự vất vả, lam lũ và ca ngợi sự hi sinh của người mẹ liệt sĩ.
Việc đưa ra các hình ảnh đối lập đó sẽ gây xúc động, tạo được cảm xúc cao với
người đọc.
* - Một số lưu ý khi sử dụng hình ảnh đối lập:
- Hình ảnh đối lập phải phù hợp với đặc điểm của đối tượng miêu tả.
- Hình ảnh đối lập phải phù hợp với thời gian, không gian.
- Hình ảnh đối lập phải mang dấu ấn đặc trưng điển hình, tiêu biểu của đối tượng
miêu tả và tạo được cảm xúc với người đọc.
1.4. Sử dụng câu cảm khi miêu tả.
Câu cảm là loại câu bộc lộ cảm xúc, tình cảm của người viết. Sử dụng câu
cảm khi miêu tả tức là thông qua câu cảm để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của mình
với đối tượng được tả. Cảm xúc tự nhiên, chân thành ấy dễ cảm hóa người đọc,
người nghe ngay từ câu mở đầu bài viết hoặc đọng lại trong phần kết của bài
viết. Vì vậy, tôi đã chỉ đạo giáo viên rèn kĩ năng viết câu cảm thán cho học sinh
khi viết văn miêu tả để làm tăng giá trị bài viết.
VD1: Mùa xuân trên quê hương em thật là đẹp! ( Câu cảm dùng để giới thiệu)
VD2: Ôi, Mùa hè đã đến! ( Câu cảm bộc lộ cảm xúc tự nhiên)
VD3: Hoa phượng đẹp quá! ( Cảm giác thích thú)
VD4: Mùa xuân trên quê hương em là vậy đó! Mùa xuân tuyệt đẹp! Em yêu
mùa xuân! ( Tình cảm yêu mến, dùng để kết thúc bài).
1.5. Sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá, đảo ngữ, điệp ngữ
Mùa hè đến, rực đỏ khắp sân trường màu hoa phượng.
…
Biện pháp nghệ
thuật điệp ngữ
Ôi, hoa phượng! Hoa phượng đã nở rồi. Hoa phượng đẹp
biết bao. Hoa phượng chính là hoa học trò. Hoa phượng
là người bạn thân thiết của chúng mình đấy!
Cách 2: Hoạt động nhóm hoặc tổ chức trò chơi.
Giáo viên chia nhóm(đội) chơi, giao nhiệm vụ như đã trình bày trong
phiếu ở cách 1.
Yêu cầu học sinh các nhóm( đội) ghi kết quả vào phiếu.
Nhận xét, đánh giá, sửa chữa, bổ xung.
16
1.5.2. Những điểm cần lưu ý: Khi sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh,
nhân hóa, đảo ngữ, điệp ngữ giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ:
- Hình ảnh so sánh phải hợp lí tức là có sự liên quan, nét tương đồng giữa đối
tượng so sánh và đối tượng được so sánh.
- Biện pháp nhân hóa dùng cho đối tượng miêu tả là đồ vật, con vật, cây cối, sự
vật( không dùng cho người).
- Sử dụng biện pháp đảo ngữ, điệp ngữ khi muốn nhấn mạnh một nội dung nào
đó nhằm làm tăng sức biểu cảm.
- Khi tổ chức hoạt động theo nhóm/ trò chơi Gv có thể chia nhỏ nội dung thảo
luận cho các nhóm/ đội tức là mỗi nhóm sử dụng một hoặc hai biện pháp nghệ
thuật so sánh/ nhân hóa/ điệp ngữ/ đảo ngữ hoặc tất cả các nhóm/đội cùng thực
hiện chung một nhiệm vụ giống nhau như hoạt động cá nhân.
IV. Kiểm nghiệm:
Với biện pháp cụ thể đã nêu trên, trong quá trình chỉ đạo chuyên môn ở
trường Tiểu học Tân Lập tôi đã giúp giáo viên, học sinh nhà trường giảng dạy,
học tập môn tập làm văn đạt hiệu quả cao hơn. Kết quả khảo sát giáo viên, học
sinh cuối học kì 2 cụ thể như sau:
14 5 35.7% 7 50% 2 14.3% 0 0
Hiện nay, 100% giáo viên nhà trường đều áp dụng các biện pháp tôi đã
nêu vào tiết dạy tập làm văn. So với kết quả khảo sát ban đầu tỉ lệ giỏi tăng 35.7
%, không còn tỉ lệ yếu, tỉ lệ trung bình giảm đi rõ rệt. Giáo viên và học sinh tự
tin hơn, không còn bị áp lực, căng thẳng khi giảng dạy, học tập môn tập làm
văn.
PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
Qua cách làm trên, tôi nhận thấy, mỗi giáo viên muốn dạy tốt môn tập làm
văn nói chung và dạy tập làm văn miêu tả nói riêng cần phải chú ý hai yếu tố cơ
bản đó là: phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và nội dung dạy học.
18
Về phương pháp, hình thức dạy học giáo viên phải vận dụng sáng tạo
chuyên đề trò chơi học tập ở Tiểu học để xây dựng các trò chơi học tập phù hợp
với từng nội dung bài học, phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình phụ trách.
Về nội dung, để rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh giáo viên phải
chú ý rèn các kỹ năng: lựa chọn từ ngữ, lựa chọn hình ảnh, sử dụng hình ảnh đối
lập, câu cảm thán, các biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh, đảo ngữ, điệp
ngữ khi miêu tả.
Ngoài các yếu tố trên, giáo viên phải chú ý khắc phục các lỗi viết văn của
học sinh cả về nội dung và hình thức trình bày như lỗi về chính tả, lỗi viết câu,
lỗi về ngữ pháp, lỗi về bố cục, lỗi diễn đạt, lỗi trình bày… để bài văn đạt hiệu
quả cao.
Trong sáng kiến này tôi chỉ đề cập đến đối tượng là học sinh khá giỏi khối
4,5 ở trường Tiểu học Tân Lập và thể loại là văn miêu tả nhưng tôi nghĩ sáng
kiến có thể mở rộng để áp dụng cho mọi đối tượng học sinh ở các vùng miền
khác nhau.
Việc rèn kĩ năng viết văn nói chung( văn miêu tả nói riêng) cho học sinh
khá giỏi không bị hạn định thời gian nên với mỗi đề văn miêu tả giáo viên nên
luyện kĩ các thao tác: Lựa chọn hình ảnh - Lựa chọn từ ngữ - Lưạ chọn hình ảnh
đối lập – Viết câu cảm thán - Sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân