Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy môn Triết học Mác – Lênin pot - Pdf 18

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong
quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy
môn Triết học Mác – Lênin
Tác giả : T.s. Nguyễn Thái Sơn - Trường
Đại học Vinh
File đính kèm: Không có
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một di sản quý
báu của dân tộc ta, việc nghiên cứu, học tập
và giảng dạy tư tưởng của Người là một
nhiệm vụ hết sức quan trọng trong giai đoạn
cách mạng hiện nay. Điều đó đã được các
cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước khẳng định.

Lịch sử cũng đã chứng tỏ rằng người
Việt Nam đầu tiên nghiên cứu, tiếp thu chủ
nghĩa Mác - Lê nin một cách có hệ thống
sâu sắc và truyền bá những tư tưởng đó vào
Việt Nam chính là chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ
đại. Chính vì lẽ đó mà giữa tư tưởng Hồ Chí
Minh với chủ nghĩa Mác - Lê nin có mối
liên hệ hữu cơ đặc biệt khăng khít, gắn bó.
Trên một nền tảng văn hoá, tinh thần
phương Đông vững chắc, Bác Hồ kính yêu
đã tiếp nhận một cách thấu đáo những tinh
hoa tư tưởng của thời đại phát sinh từ phong
trào đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới.
Ngày nay, việc nghiên cứu, học tập và giảng
dạy tư tưởng Hồ Chí Minh không thể tách
rời chủ nghĩa Mác - Lê nin và ngược lại.
Trong bối cảnh Việt Nam, có thể khẳng định
rằng việc giảng dạy các môn khoa học Mác -

nay, trong sự nghiệp đổi mới chúng ta không
thể không vận dụng một cách sáng tạo
những tư tưởng quý báu của Người. Trong
sự nghiệp giáo dục và đào tạo, theo chúng
tôi, việc vận dụng những tư tưởng của Hồ
Chí Minh lại càng cấp bách và cần thiết hơn
bao giờ hết. Đặc biệt, đối với quá trình giảng
dạy và học tập các môn học Mác - Lê nin
việc vận dụng, quán triệt tư tưởng Hồ Chí
Minh là một yêu cầu không thể thiếu. Theo
chúng tôi đây là điều kiện cực kỳ quan trọng
góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
của việc giảng dạy và học tập các môn học
này. Trong giai đoạn hiện nay, việc vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy môn triết học Mác –
Lênin có thể triển khai theo những hướng cơ
bản như sau:
a. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong
giảng dạy vấn đề thế giới quan duy vật và
phép biện chứng mác xít
Thế giới quan là một khái niệm phức tạp.
Theo từ điển tiếng Việt do giáo sư Hoàng
Phê chủ biên thì thế giới quan là: “Quan
niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện
tượng tự nhiên và xã hội” (1). Theo cuốn
Đại từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản Văn
hoá - Thông tin ấn hành năm 1998 thì thế
giới quan được định nghĩa là: “Cách thức
nhìn nhận và giải thích các hiện tượng tự

vật.
Căn cứ vào những phân tích trên đây,
chúng ta thấy rằng thế giới quan là một khái
niệm rất phức tạp, có tính trừu tượng cao. Sự
hình thành thế giới quan ở mỗi một cá nhân
là một quá trình lâu dài và phụ thuộc nhiều
yếu tố, nhiều điều kiện khác nhau.

Vấn đề thế giới quan của con người có ý
nghĩa sâu sắc, to lớn không những về mặt lý
luận nhận thức mà còn cả trên phương diện
thực tiễn. Vì bản thân thế giới quan là sự
biểu hiện cách nhìn nhận bao quát của con
người về vũ trụ và xã hội nên nó quyết định
thái độ của con người đối với thế giới xung
quanh và đóng vai trò là kim chỉ nam cho
mọi hành động của con người.

Để xây dựng và bồi dưỡng thế giới quan
cho sinh viên, chúng ta phải sử dụng nhiều
phương thức và biện pháp khác nhau, với
nhiều nội dung và hình thức khác nhau.
Trong đó việc bồi dưỡng thế giới quan thông
qua quá trình giảng dạy các môn học trong
trường đại học là biện pháp cơ bản nhất.
Đây là biện pháp đóng vai trò then chốt,
quyết định. Tất cả các môn học, các ngành
khoa học đều có ý nghĩa, tầm quan trọng lớn
lao đối với quá trình xây dựng và bồi dưỡng
thế giới quan cho sinh viên. Tuy nhiên, do

niên Nguyễn Tất Thành tuy chưa nhận thức
được đặc điểm của thời đại, nhưng từ thực tế
lịch sử Bác đã thấy được con đường cứu
nước của cha anh là cũ kỹ, lạc hậu và không
thể đem đến thành công. Người phải đi tìm
một con đường mới, đó là con đường cách
mạng vô sản, con đường đến với Lê nin và
chủ nghĩa Mác - Lê nin. Hồ Chí Minh đã
vượt qua khoảng 30 nước ở bốn châu lục
khác nhau. Nhờ đi nhiều nơi, hoạt động thực
tiễn phong phú mà Hồ Chí Minh có vốn hiểu
biết rất rộng rãi. Có thể nói Người là một
trong những nhà hoạt động chính trị đã đi
nhiều nhất, có không gian và phạm vi hoạt
động rộng lớn nhất, có vốn hiểu biết thực tế
phong phú nhất về các thuộc địa cũng như
các quốc gia đế quốc tư bản hồi đầu thế kỷ
XX. Chính nhờ quá trình bôn ba ấy mà thế
giới quan khoa học, cách mạng của Người
được hình thành một cách triệt để. Như vậy
rõ ràng là để có một thế giới quan duy vật,
biện chứng khoa học cần phải có vốn hoạt
động thực tiễn phong phú, sâu sắc, rộng lớn.
Con người không thể cứ ngồi một nơi rồi
đọc sách mà thế giới quan tự nó hình thành,
tự nó đến.
Năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở về
Pháp, đến sống và hoạt động tại Pa-ri, một
trung tâm văn hóa, khoa học, chính trị của
cả châu Âu lúc bấy giờ. Nhờ lăn lộn trong

biện chứng vào thực tiễn cuộc sống, vào
thực tiễn cách mạng Việt Nam và đã đưa
cuộc cách mạng đi đến thắng lợi vinh quang.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ
đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt
Nam. Người đã nêu một tấm gương sáng
trong việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa
Mác – Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ
và sáng tạo. Người đã nắm bắt sâu sắc bản
chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện
chứng và nhân đạo của học thuyết Mác –
Lênin, vận dụng một cách sáng tạo học
thuyết ấy phù hợp với hoàn cảnh thực tế
nước ta, đồng thời Người đã kế thừa, phát
huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt
đẹp của dân tộc và tinh hoa của nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ
những nguồn gốc đó. Việc Đại hội VII
khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng
và kim chỉ nam cho hành động là một bước
phát triển hết sức quan trọng trong nhận
thức và tư duy lý luận của Đảng ta.
Trong khi giải quyết những vấn đề của
cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác –
Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt
là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc
và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước
thuộc địa và phụ thuộc. Tư tưởng của Người

giai cấp công nhân toàn thế giới.
b. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong
giảng dạy vấn đề dân tộc, giai cấp và cách
mạng xã hội.
Khái niệm dân tộc hiểu theo nghĩa khoa
học là một hình thức cộng đồng người cao
hơn tất cả các hình thức cộng đồng người
trước đó. Dân tộc là hình thức cộng đồng
người gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà
nước và các thể chế chính trị. Những cộng
đồng người được coi là dân tộc có các đặc
trưng chủ yếu như sau. Thứ nhất là có sự
cộng đồng về ngôn ngữ, thứ hai là có cộng
đồng về lãnh thổ, thứ ba là cộng đồng về
kinh tế, thứ tư là cộng đồng về văn hóa, tâm
lý, tính cách. Hình thức cộng đồng dân tộc
có vai trò to lớn đối với sự phát triển con
người và xã hội. Dân tộc không chỉ là sản
phẩm của sự phát triển về kinh tế, văn hóa
xã hội mà còn là động lực, là cái nôi của mọi
sự phát triển trong thời cận, hiện đại, từ sự
tiến hóa bình thường cho đến cách mạng xã
hội.
Về vấn đề giai cấp, theo quan điểm của
Lênin thì giai cấp là: “những tập đoàn to lớn
gồm những người khác nhau về địa vị của
họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất
định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của
họ (thường thường thì những quan hệ này
được pháp luật quy định và thừa nhận), đối

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và
cách mạng giải phóng dân tộc vừa là sự kết
hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa
thể hiện tinh thần độc lập dân tộc, tự chủ,
sáng tạo của Người trong việc vận dụng
những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê
nin vào hoàn cảnh Việt Nam và các nước
phương Đông. Khi quán triệt tư tưởng Hồ
Chí Minh vào giảng dạy vấn đề dân tộc, giai
cấp, nhân loại trong chương trình triết học ở
bậc đại học cần chú ý mấy điểm then chốt.
Thứ nhất: Vấn đề dân tộc trong tư tưởng
Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dân tộc
nói chung. Khi chủ nghĩa đế quốc đi xâm
chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường, thực
hiện sự áp bức chính trị, bóc lột về kinh tế,
nô dịch về văn hóa đối các nước bị xâm
chiếm thì vấn đề dân tộc trở thành vấn đề
dân tộc thuộc địa. Đây thực chất là vấn đề
đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc
địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước
ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp
bức bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân
tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc
lập.
Thứ hai: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
vấn đề độc lập, tự do là quyền thiêng liêng,
bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử không ngừng
đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đối với

nước Nam được hoàn toàn độc lập.
Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước,
chủ trì hội nghị trung ương 8 của Đảng, viết
thư kính cáo đồng bào, Người chỉ rõ: "Trong
lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao
hơn hết thảy"(3) . Người chỉ đạo thành lập
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng Minh, ra
báo Việt Nam độc lập, thảo Mười chính sách
của Việt Minh, trong đó mục tiêu đầu tiên
là: "Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền".
Hồ Chí Minh đã đúc kết ý chí đấu tranh cho
độc lập tự do của nhân dân ta trong một câu
nói bất hủ: "Dù có phải đốt cháy cả dãy
Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho
được độc lập".
Cách mạng Tháng Tám thành công,
Người thay mặt cho Chính phủ Lâm thời
đọc bản Tuyên ngôn độc lập, long trọng
khẳng định trước quốc dân đồng bào và
trước thế giới: "Nước Việt Nam có quyền
hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở
thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân
tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và
lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyển tự do, độc lập ấy"(4).

Trong các bức thư và điện văn gửi tới
Liên hợp quốc và chính phủ các nước vào
thời gian đó, Người đã trịnh trọng tuyên bố
rằng "nhân dân chúng tôi thành thật mong

chủ nghĩa quốc tế. Đối với Hồ Chí Minh,
vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc được
tiến hành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác -
Lê nin, giành độc lập dân tộc để tiến lên xây
dựng CNXH, mối quan hệ giữa dân tộc và
giai cấp được đặt ra. Đây là một vấn đề lý
luận quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn
trong thời đại cách mạng vô sản. Vấn đề dân
tộc ở thời đại nào cũng được nhận thức và
giải quyết trên lập trường của một giai cấp
nhất định. Trong thời đại ngày nay, các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhấn
mạnh rằng chỉ đứng trên lập trường của giai
cấp vô sản mới giải quyết được đúng đắn
vấn đề dân tộc. Theo dõi quá trình hoạt động
cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
chúng ta thấy rằng Người từ một người yêu
nước đang tìm đường cứu quốc, đến với chủ
nghĩa Mác - Lê nin đã tìm thấy con đường
giải phóng cho dân tộc mình theo con đường
của cách mạng vô sản, tức là đã tiếp thu lý
luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của
chủ nghĩa Mác - Lê nin. Khi viết rằng: "Sự
nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với
sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi
chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng
lợi trong một nước nào đó… thì đó càng là
thắng lợi cả cho người An Nam"(8), tức là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status