Sáng kiến kinh nghiệm
A/ Đặt vấn đề:
I/ Lý do chọn đề tài:
Để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứng được xu hướng phát
triển của xã hội trong thời đại ngày nay. Ngành Giáo dục nói chung và đội
ngũ giáo viên nói riêng đã nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà
nước. Giáo dục và đạo tạo được coi là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp
phát triển kinh tế đất nước và để thực hiện tốt nhiệm vụ: Nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Là giáo viên dạy môn
GDCD tôi cũng rất mong mình sẽ góp một phần công sức bé nhỏ cho sự
nghiệp giáo dục của đất nước. Bởi ở trường THPT môn Giáo dục công dân
giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục cho học sinh ý thức hành vi của
người công dân, hình thành và phát triển nhân cách đạo đức và lối sống để trở
thành công dân có ích cho xã hội. Chương trình GDCD từ lớp 10,11,12, đều
có sự liên kết nối tiếp chương trình với nhau trong cả cấp học, đối với học
sinh Lớp10 mới bước chân vào cấp THPT đã được tiếp cận ngay với phần
kiến thức của triết học. Thực tế cho thấy đây là phần kiến thức mới và khó
đối với học sinh đầu cấp, nếu sử dụng phương pháp chưa phù hợp học sinh
tiếp thu kiến thức một cách thụ động, dẫn đến khả năng vận dụng bài học vào
thực tiễn còn khó khăn, chưa đáp ứng được mong muốn của người dạy.
Vì vậy qua nhiều năm giảng dạy ở trường THPT Đào Duy Từ với nhiều
đối tượng học trò cùng với việc dự giờ của đồng nghiệp cũng như quá trình
nghiên cứu, tôi rất trăn trở suy nghĩ trước cách dạy các bài học làm sao cho
có chất lượng. Tiết dạy GDCD phải được học sinh lĩnh hội tri thức một cách
chủ động phát huy được vai trò sáng tạo của người học. Đến nay, phần nào
tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm nhỏ nên tôi mạnh dạn đưa vấn đề
“Sử dụng có hiệu quả một số phương pháp dạy học khi dạy bài 6: Khuynh
hướng phát triển của sự vật hiện tượng GDCD Lớp 10 - THPT” làm đề tài
sáng kiến kinh nghiệm hy vọng với sáng kiến nhỏ này sẽ giúp được phần
nào cho các bạn đồng môn trong sự nghiệp trồng người của mình.
II/ Mục đích chọn đề tài :
pháp
10C3 44 8 = 18,2% 23 = 52,2% 13 = 29,6% 0
10C4 45 9 = 20% 24 = 53,4% 11 = 24,4% 1 = 2,2%
B/ Giải quyết vấn đề :
I/ Cơ sở thực hiện đề tài :
1/ Cơ sở lý luận :
a) Khái quát lý luận đối với các bài liên quan đến đề tài trong phần triết
học GDCD Lớp 10.
Đối với bộ môn GDCD ở trườngTHPT, là môn học gồm nhiều hệ thống
tri thức khác nhau như: triết học, đạo đức, kinh tế, pháp luật trong đó triết
học là một trong những đơn vị kiến thức khó và trìu tượng nhất trong toàn bộ
chương trình, nổi lên gồm các bài theo thứ tự trong chương trình lớp 10 như
sau: Bài 3: Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất; Bài 4 : Nguồn gốc
vận động phát triển của sự vật và hiện tượng ; Bài 5 : cách thức vận động,
phát triển của sự vật hiện tượng ; và Bài 6 : Khuynh hướng phát triển của sự
vật và hiện tượng. Mỗi bài đều có vị trí khác nhau trong tư duy nhận thức và
hoạt động thực tiễn. Chẳng hạn như. Bài 3: Sự vận động và phát triển của thế
giới vật chất. Thông qua bài học chúng ta thấy rõ thế giới vật chất kể cả con
người muốn tồn tại thì phải vận động, trong muôn vàn phương thức vận động,
vận động theo chiều hướng tiến lên, cái mới cái tiến bộ ra đời thay thế cho
cái cũ cái lạc hậu, đó là sự phát triển. Như vậy, phát triển sẽ diễn ra trong tất
cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Bài 4: Nguồn gốc vận động phát triển của sự vật và hiện tượng. Bài học
giúp các em phân biệt được mâu thuẫn triết học – mấu chốt của nguồn gốc
GV: Cao Thị Chúc - Trường THPT Đào Duy Từ
2
Sáng kiến kinh nghiệm
vận động với mâu thuẫn thông thường. Để biết điều đó, cần phải hiểu rõ mặt
đối lập của mâu thuẫn qua tính thống nhất và đấu tranh của nó. Sự vật hiện
tượng khi đã tồn tại mâu thuẫn buộc phải được giải quyết. Tuy nhiên khi mâu
lực sáng tạo, kĩ năng thực hành khả năng lập nghiệp…”. Trong sự nghiệp
trồng người của chúng ta để tạo ra sản phẩm là con người vừa có nhân cách
lại vừa có trí tuệ hay theo ngôn ngữ của Bác Hồ vừa “Hồng” vừa “Chuyên”
là không hề đơn giản. Vậy muốn làm tốt điều đó, buộc người dạy trong quá
trình giảng dạy phải biết lựa chọn phương pháp cho phù hợp với từng bài.
Một sự thật mà bất kỳ ai trong nghề cũng thấy rõ là không có phương pháp
GV: Cao Thị Chúc - Trường THPT Đào Duy Từ
3
Sáng kiến kinh nghiệm
nào là vạn năng dù nó có tích cực đến bao nhiêu đi chăng nữa. Mỗi phương
pháp dạy học đều có mặt tích cực và mặt hạn chế riêng, phù hợp với từng
loại bài và đòi hỏi những điều kiện thực hiện riêng vì thế chúng ta không nên
phủ định hoặc quá lạm dụng một phương pháp dạy học nào. Điều quan trọng
là cần căn cứ vào nội dung, tính chất từng bài, căn cứ vào trình độ nhận thức
của học sinh và năng lực sở trường của giáo viên, căn cứ vào điều kiện hoàn
cảnh cụ thể của lớp, của trường mà lựa chọn sử dụng phối hợp các phương
pháp dạy học một cách hợp lí. Để tạo nên một tiết dạy thành công, chúng ta
cần sử dụng kết hợp giữa các phương pháp mới và cũ, vừa kế thừa được tính
truyền thống lại hội tụ xu hướng thời đại, thực hiện tốt Nghị quyết của các kỳ
đại hội gần đây. Là tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm
trung tâm.
Vận dụng nguyên lí trên để dạy học các bài 3, bài 4, bài 5, bài 6, phần
triết học Giáo dục công dân lớp10 THPT.Tôi đã sử dụng một số phương pháp
như nêu vấn đề, thảo luận nhóm, tìm hiểu nội dung bài học khai thác ví dụ
thực tiễn và sử dụng đồ dùng trực quan (sơ đồ, bảng, biểu, tranh ảnh) Sử
dụng giáo án điện tử để hỗ trợ cho bài giảng.
Với phương pháp dạy học nêu vấn đề. Đây là một trong những phương
pháp dạy học tích cực: học sinh là trung tâm của quá trình dạy học giáo viên
là người tạo ra tình huống có vấn đề chứ không phải thông báo dưới dạng tri
thức có sẵn, các em tích cực chủ động, tự giác tham gia hoạt động học, tự
được giao lưu, để học hỏi lẫn nhau, cùng nhau hợp tác để giải quyết những
nhiệm vụ chung của cả nhóm. Qua đó giúp học sinh được hợp tác với nhau,
được trao đổi, tranh luận chia sẻ ý kiến kinh nghiệm và được bày tỏ quan
điểm. Đây cũng là cơ hội rèn luyện cho các em kĩ năng sống như mạnh dạn
trong giao tiếp và hợp tác học hỏi lẫn nhau, tạo cho các em hứng thú trong
học tập.
Sử dùng đồ dùng trực quan là một phương pháp dạy học mới hình thành
trong những năm gần đây, khi nhân loại bước sang một giai đoạn mới – cách
mạng tri thức ; Lý thuyết phải được minh họa bằng thực tiễn. Trong môn
GDCD như ta đã biết đồ dùng trực quan không nhiều chủ yếu do giáo viên và
học sinh tự làm như hệ thống sơ đồ, bảng, biểu, nếu lớp học có máy chiếu thì
hiệu quả tiện lợi hơn nhiều.
Đối với các bài học từ bài 3 đến bài 6 trong chương trình triết học
lớp10, ở phần này dường như các đơn vị kiến thức đều có mối quan hệ giàng
buộc biện chứng và hỗ trợ nhau. Từ đặc thù này cách làm hiệu quả nhất khi
khái quát bài là giáo viên nên đưa sơ đồ hệ thống hoá kiến thức để các em rễ
ràng nhận thấy mối quan hệ của nội dung đơn vị kiến thức.
Để kết hợp với các phương pháp đã nêu ở trên đạt được hiệu quả cao
nhất đối với bải giảng thì chúng ta cần sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ
bài giảng làm cho tiết học sẽ trở nên sinh động, gây sự chú ý và lôi cuốn học
sinh vào bài học một cách thoải mái, nhẹ nhàng tránh được sự khô khan nhàm
chán. Đặc biệt là với các bài học này thì sử dụng phương tiện công nghệ thông
tin( giáo án điện tử) là điều cần thiết. Tuy nhiên chúng ta cũng không nên lạm
dụng trình chiếu quá nhanh nội dung kiến thức hoặc tham nhiều các tranh ảnh
sẽ mang lại một kết quả học sinh không lưu nhớ được gì.
Như vậy : Sử dụng tổng hợp các phương pháp trong giảng dạy nói
chung và đối các bài học về. Quá trình vận động phát triển của sự vật, hiện
tượng, trong chương trình Giáo dục công dân lớp 10 nói riêng rất cần đến sự
linh hoạt của giáo viên khi lựa chọn và áp dụng những phương pháp phù hợp
để đạt được hiệu quả cao nhất.
người đã suy nghĩ …
Thực tiễn trong các bài này lượng nội dung truyền đạt trong bài ngắn,
kiến thức ít, câu từ mang tính triết lý cao nếu sử dụng phương pháp thuyết
trình hoặc động não thì sẽ gây cho người học căng thẳng nhàm chán, dẫn đến
kết quả học tập chưa cao. Trong một số lớp vẫn còn số ít học sinh ham chơi,
lười học, trốn học đi đánh điện tử ngồi nói chuyện không những trong giờ
GDCD mà giờ Toán hay Hoá cũng vậy. Đối với bản thân tôi dù mọi người có
nghĩ rằng là môn phụ không có học sinh học thêm cần gì phải đầu tư, nhưng
tôi vẫn cố gắng tìm và mua sách vở tài liệu tham khảo, máy tính để đầu tư
cho chuyên môn của mình làm sao mình có được nhiều giờ dạy thật hay và
được học sinh tôn trọng yêu quý. Đây cũng là tâm sự rất thật và là mong ước
chủ quan của bản thân.
GV: Cao Thị Chúc - Trường THPT Đào Duy Từ
6
Sáng kiến kinh nghiệm
Từ những thực trạng trên qua một thời gian nghiên cứu thực dạy 2 năm
tôi mạnh dạn đưa ra“ Hiệu quả sử dụng một số phương pháp dạy học khi dạy
bài 6 khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng – GDCD lớp 10 THPT”
nhằm phát huy tối đa vai trò của bài học cũng như cải thiện thực trạng dạy và
học như hiện nay.
II/ Giải pháp và tổ chức thực hiện.
1/ Vận dụng một số các phương pháp vào một số phần của bài 4 và bài 5
GDCD Lớp 10 THPT.
Trong phần này tôi không trình bày chi tiết mà chỉ xin phép đi một số nội
dung cơ bản. Chẳng hạn như Bài 4: Nguồn gốc vận động phát triển của sự
vật hiện tượng
+ Khái thác nội dung Khái niệm mâu thuẫn. Để khắc sâu khái niệm mâu
thuẫn triết học, giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề sau : Tôi đã sử dụng
giáo án điện tử để trình chiếu tình huống và các ví dụ. Tình huống: “Buổi
chiều, vì không học thêm nên Mạnh sang mượn của Nam cuốn sách toán
Như vậy : dạy học theo phương pháp trên học sinh dễ hiểu và phát huy được
vai trò chủ động tích cực hơn tuy nhiên giáo viên cần sử dụng máy chiếu sơ
đồ và hình ảnh làm cho bài giảng sinh động hơn.
Đối với Bài 5 : Cách thức vận động phát triển của sự vật hiện tượng
+ Khai thác khái niệm chất, lượng : Tôi sử dụng đồ dùng trực quan hỗ trợ và
phương pháp thảo luận nhóm nhỏ. Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm đặt tên
nhóm là những tên của các đồ dùng trực quan : Nhóm Quả cam, quả tranh,
quả ớt, gói muối trắng.
Câu hỏi :
1. Em hãy quan sát các sự vật và cho biết chúng có đặc điểm gì ở bên
trong và bên ngoài ?
2. Thuộc tính cơ bản bên trong của mỗi sự vật, hiện tượng có thể nhầm
lẫn với các sự vật, hiện tượng khác không ? Tại sao ?
3. Trong các thuộc tính đó đâu là chất, đâu là lượng ?
+ Học sinh trả lời Các nhóm nhận xét bổ sung sau đó giáo viên kết luận (giáo
viên sử dụng giáo án điện tử)
+ Khi tìm hiểu nội dung sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất :
giáo viên sử dụng phương pháp nêu vấn đề hoặc khai thác các ví dụ:
+ Sự biến đổi từ lượng : giáo viên đưa ra tình huống sau:
Đầu năm trong lớp 10C có 30 học sinh. Giữa kỳ I có1học sinh bị ốm nên phải
nghỉ điều trị. Chúng ta nói, lớp học đã giảm đi về lượng. Điều này có đúng
không? tại sao ?
+ Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất :
Giáo viên nêu vấn đề :
Để thực hiện ước mơ trở thành một sinh viên đại học, các em phải làm gì ?
chúng ta có thể ngay lập tức đạt được những ước mơ đó không ? vì sao ?
Sau khi học sinh giải quyết các vấn đề giáo viên đã nêu giáo viên trình chiếu
sơ đồ và giải thích cụ thể để học sinh nắm được lượng biến đổi dần dần và
chất biến đổi theo ngược lại chất mới ra đời lại cho một lượng mới tương ứng.
+ Đồng tình ủng hộ cái mới, bảo vệ cái mới, cái tiến bộ.
II.Tài liệu, phương tiện và kĩ năng sống:
1. Tài liệu: SGK, sách chuẩn kiến thức kĩ năng, SGV, thiết kế bài giảng bài
tập tình huống lớp 10.
2. Phương tiện : máy chiếu, sơ đồ, phiếu học tập, đồ dùng trực quan liên
quan đến bài giảng, sử dụng giáo án điện tử, sưu tầm tranh ảnh liên quan
đến bài học.
GV: Cao Thị Chúc - Trường THPT Đào Duy Từ
9
Sáng kiến kinh nghiệm
3. Kĩ năng sống : Kĩ năng tư duy, phê phán, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ
năng hợp tác, kĩ năng nhận thức …
III. Tiến trình lên lớp:
1. Kiểm tra bài cũ :
Câu 1: Hãy lựa chọn một phương án mà em cho là đúng duy nhất trong mỗi câu sau:
1. Khái niệm chất (của triết học) được dùng chỉ :
a. Quy mô của sự vật hiện tượng
b. Trình độ của sự vật hiện tượng
c. Cấu trúc và phương thức liên kết của sự vật hiện tượng
d. Những thuộc tính cơ bản vốn có và tiêu biểu của sự vật, hiện tượng
2. Khái niệm lượng (của triết học) được dùng chỉ :
a. Những thuộc tính cơ bản vốn có và tiêu biểu của sự vật, hiện tượng.
b. Quy mô, số lượng, trình độ, tính chất… của sự vật hiện tượng
c. Cấu trúc và phương thức liên kết của sự vật, hiện tượng
d. Cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng .
3. Điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi về lượng làm thay đổi chất của sự vật
hiện tượng được gọi là :
A. Điểm đến B. Điểm nút C. Độ D. Tất cả đều đúng
Câu 2 : Em hãy cho biết sự biến đổi gữa chất và lượng ? Cách thức vận
động phát triển của sự vật hiện tượng là gì ?
đại vào vị trí khu nhà ổ chuột ở ngoại ô
thành phố, điều đầu tiên họ phải làm gì ?
CH3: Bác An muốn mua 1 cái Tivi mới để
thay cho cái Tivi hiện tại ở phòng khách
đang bị hỏng Bác An phải làm gì?
CH? Vậy phủ định là gì ?
Giáo viên: (chiếu hình ảnh và các câu hỏi
lên màm hình gọi học sinh trả lời nhanh)
Giáo viên: kết luận, bổ sung:
Để cái mới, tiến bộ ra đời thay vào vị trí
cái cũ, lạc hậu, không phù hợp thì cần xoá
bỏ sự tồn tại của sự vật cũ. Việc xoá bỏ sự
tồn tại sự vật như thế được gọi là phủ định
– Học sinh ghi nhớ khái niệm
+ Tìm hiểu nội dung phủ định biện
chứng và phủ định siêu hình.
Hoạt động 2: Giáo viên sử dụng
phương pháp thảo luận nhóm nhỏ và dùng
đồ dùng trực quan, hình ảnh, máy vi tính
kết nối màn hình…
Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm, thời
gian thảo luận 5 phút nội dung thảo luận
như sau :
Nhóm 1 và nhóm 2 : Giáo viên đưa cho
mỗi nhóm một quả trứng gà và nêu câu
hỏi sau : (Chiếu hình ảnh và câu hỏi)
Câu hỏi : Các nhóm hãy tìm cách phủ
định quả trứng ? và trình bày quan điểm
phủ định của nhóm mình?
Học sinh:
vật ?
Giáo viên kết luận : Như vậy, từ sự phân
tích của các nhóm chúng ta thấy có hai
cách phủ định hoàn toàn khác nhau. Phủ
định theo cách của nhóm 1, là phủ định
do sự tác động từ bên ngoài, xoá bỏ sạch
trơn sự tồn tại của sự vật gọi là phủ định
siêu hình. Còn cách phủ định của nhóm
2, là sự diễn ra trong bản thân sự vật có
kế thừa những yếu tố tích cực,tiến bộ,
phủ định như thế gọi là phủ định biện
chứng .
Giáo viên: cho học sinh lấy thêm một số
ví dụ thực tiễn khác để học sinh hiểu rõ
bài hơn.
(Hình ảnh thực tiễn để học sinh quan sát)
Ví dụ : (PĐBC) Sự phát triển của xã hội
từ thấp lên cao:
NT-CHNL-PK-TBCN-XHCN
Hoạt động 3 : Phân biệt sự khác nhau
giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu
hình. Sử dụng phương pháp khai thác các
ví dụ.Hình thành cho học sinh các kĩ năng
sống : (So sánh tự nhận thức, tìm kiếm và
nòi và có nhiều trứng hơn
+ Nhóm 3 :
Khác nhau ở chỗ nhóm 1 đập vỡ quả
trứng không để cho trứng phát triển
Nhóm 2 thì nói là ấp trứng để trứng
nở và có những giống gà mới Cách
Ví dụ : mổ lợn làm thịt ăn , nhổ cái
cây
+Phủ định biện chứng
diễn ra bên trong bản thân sự vật hiện
tượng là cơ sở cho sự xuất hiện sự vật
mới tiếp tục phát triển
Ví dụ : giữ lại con lợn để nuôi và lai
tạo cho nó sinh ra một thế hệ mới
(Bảng so sánh Phủ định biện chứng và Phủ định siêu hình)
Phủ định siêu hình Phủ định biện chứng
- Diễn ra do sự can thiệp, tác động từ bên
ngoài
- Xoá bỏ sự tồn tại và phát triển tự nhiên
của sự vật.
- Sự vật hiện tượng sẽ bị xoá bỏ hoàn toàn,
không tạo ra và không liên quan đên sự vật
mới.
- Diễn ra do sự phát triển bên trong
bản thân sự vật, hiện tượng.
- Không xoá bỏ sự tồn tại và phát
triển tự nhiên của sự vật.
- Sự vật sẽ không bị xoá bỏ hoàn
toàn, là cơ sở cho sự xuất hiện sự
vật mới, sẽ tiếp tục tồn tại và phát
triển trong sự vật mới.
Giáo viên cho học sinh làm bài tập nhanh chiếu câu hỏi lên màn hình .
CH? Trong các ví dụ sau cái nào là phủ định siêu hình, cái nào là phủ định
biện chứng ?
Sự vật , hiện tượng PĐBC PĐSH
Trời mưa to cây đổ *
diễn ra liên tục và khách quan.
Ví dụ : Lớp 10 phủ định Lớp 9 ; Xã hội
tư bản phủ định xã hội phong kiến ;
Cây lúa non phủ định hạt thóc …
Giáo viên Củng cố bài cho học sinh
làm bài tập.
Phiếu học tập số 1
Phân biệt phủ định biện chứng và phủ
định siêu hình.
PĐBC PĐSH
Điểm khác …… ……
Đặc điểm của phủ định biện chứng:
Học sinh :
- Tính khách quan : Nguyên nhân của
phủ định biện chứng diễn ra ngay trong
bản thân của sự vật, hiện tượng. Đó là
quá trình giải quyết mâu thuẫn làm cái
mới ra đời thay thế cái cũ.
- Tính kế thừa : Cái mới ra đời trong
lòng cái cũ , có kế thừa những yếu tố
tích cực của cái cũ, đảm bảo cho quá
trình phát triển của sự vật, hiện tượng
diễn ra liên tục và khách quan.
Học sinh lấy ví dụ ;
Sự phát triển của con người …
Mầm cây đậu phủ định hạt đậu…
Học sinh ghi nhớ :
Phủ định biện chứng có 2 đặc điểm
+ Tính khách quan
+ Tình kế thừa
Bài 6 : Khuynh hướng phát
triển của sự vật, hiện tượng
(Tiết 2)(Theo PPCT tiết 11)
1. Phủ định biện chứng và phủ
định siêu hình (Tiết 1)
2.Khuynh hướng phát triển của
sự vật hịên tượng . (Tiết 2)
Hoạt động 1: Tìm hiểu khuynh
hướng phát triển của sự vật, hiện
tượng.
(Rèn luyện kĩ năng sống: Nhận biết, tư
duy phê phán, giao tiếp, sử lí tình
huống) GV: sử dụng phương pháp nêu
vấn đề và khai thác ví dụ
Câu hỏi :
1. những con gà tiếp sau đó có liên
quan và giống con gà ban đầu
không ?
2. Quá trình tạo ra những con gà tiếp
theo có thể gặp khó khăn hoặc thất
bại gì ? Tại sao ?
GV kết luận và bổ sung : Sau khi hs
trả lời
Hình ảnh
2/ Khuynh hướng phát triển của sự
vật và hiện tượng:
+ Phủ định của phủ định
Học sinh:
- Những con gà tiếp theo đó đã phủ
định con gà ban đầu nhưng chúng lại là
Hoạt động 2:
GV: sử dụng máy chiếu, chiếu sơ
đồ,cho học
sinh khai
thác các ví
dụ
CH? Em
lấy ví dụ
chứng
minh cho
hình xoắn
ốc
- Quá trình tạo ra những con gà tiếp
theo có thể gặp rất nhiều khó khăn có
khi bị thất bại, trứng không nở được…
Ví dụ:
Con gà đẻ trứng con gà đẻ trứng con gà
Ban đầu(F) ấp nở - cái mới(F1)ấp nở- cái mới
hơn (F2)…
(Học sinh ghi nhớ )
Khuynh hướng pt của sự vật hiện tượng
vận động đi lên, cái mới ra đời kế thừa
và thay thế cái cũ nhưng ở trình độ cao
hơn, hoàn thiện hơn.
Học sinh : lấy ví dụ về hạt thóc –nẩy
mầm pt cây lúa và cho nhiều hạt gấp
nhiều lần…lai tạo ra nhiều giống lúa
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên kết luận : Sự phủ định của phủ định không ngừng xảy ra trong tự
nhiên, xã hội, trong lĩnh vực đời sống tư tưởng của con người. Trong quá
trình vô tận đó, cái mới ra đời không đơn giản, dễ dàng mà trải qua quá trình
đấu tranh giữa cái mới cái cũ, cái lạc hậu. Nhưng theo quy luật chung cuối
cùng cái mới sẽ chiến thắng cái cũ. Từ đó giáo viên cho học sinh liên hệ thực
tiễn
Câu hỏi : Qua bài đã học em rút ra bài học thực tiễn gì ?
Học sinh trả lời giáo viên nhận xét và kết luận : Chúng ta cần nhận thức cái
mới, ủng hộ cái mới. Tôn trọng quá khứ, tránh bảo thủ, phủ định sạch trơn,
cản trở sự tiến bộ, tránh ảo tưởng về sự ra đời cái mới một cách dễ dàng.
Câu hỏi : Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có nên phê bình và tự phê
bình không ? nếu cần thì phải làm như thế nào cho phù hợp với quan điểm
của phủ định biện chứng ?
Học sinh trả lời GV nhận xét bổ sung : Chúng ta cần phê bình và tự phê bình
bởi làm như thế mới có thể tiến bộ được. Phê bình và tự phê bình theo xu
hướng, phát huy cái tốt, hạn chế cái xấu, cần tránh xa thái độ che dấu khuyết
điểm hoặc vùi dập tự ái.
Củng cố kiến thức toàn bài : Giáo viên sử dụng sơ đồ (phía dưới)
hệ thống hóa khái quát toàn bộ các bài 3, 4, 5, 6.
Sau đó cho học sinh điền phiếu học tập số 2:
Sự vật, hiện tượng Các ví dụ
Giải thích khuynh hướng
phát triển
Tự nhiên ………… ………….
Xã hội ………… ………….
GV: Sau khi khái quát toàn bộ các bài 3, 4, 5, 6. chỉ ra học sinh thấy được các
bài có mối liên hệ với nhau… vận động phát triển của thế giới vật chất là
không ngừng. Chính sự vận động và phát triển đó đã đưa con người và thế
giới đến sự hoàn thiện và ngày càng văn minh hơn.
trách nhiệm, tham gia rất nhiệt tình và tích cực .
Hiệu quả cụ thể : Qua thời gian nghiên cứu 2 năm học như sau : Đối với
các lớp sử dụng phương pháp cũ năm học 2011 – 2012 như lớp 10B2,10B3
kết quả chưa có gì khả quan lúc đấy hệ thống máy chiếu chưa lắp đặt được
nên vận dụng các phương pháp thiếu linh hoạt vi thế không đưa được các
sơ đồ và hình ảnh làm cho giờ học không sinh động và kết quả là:
Ví dụ bài kiểm tra viết của 2 lớp phần này như sau:
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
10B2 42 4 = 9,5% 15 = 35,7% 19 = 45,3% 4 = 9,5%
10B3 43 3 = 7 % 15 = 34,8% 20 = 46,5% 5 = 11,7%
GV: Cao Thị Chúc - Trường THPT Đào Duy Từ
18
Sáng kiến kinh nghiệm
Sau đây là kết quả thông qua bài kiểm tra viết phầm kiến thức nằm trong đề
tài nghiên cứu (Năm học 2011- 2012) đối với những lớp có mặt bằng đầu vào
tương đối như nhau:
Ví dụ Lớp 10 B1; 10B5; 10 B6; 10 B7 như sau:
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
10B1 49 8 = 16,3% 25 = 51% 16 = 32,7% 0
10B5 40 10 = 25% 23 = 57,5% 7 = 17,5% 0
10B6 40 9 = 22,5% 24 = 60% 7 = 17,5% 0
10B7 47 10 = 21,3% 26 = 55,3% 11 = 23,4% 0
Kết quả trên cho thấy số lượng học sinh được học phương pháp mới
học sinh hiểu và lĩnh hội kiến thức hơn hẳn so với học sinh được học bằng
phương pháp khác, do đó tỉ lệ học sinh khá giỏi cũng cao hơn. Tôi đã dùng
phiếu điều tra cho học sinh 2 lớp B5, B6. Kết quả trên 90% các em trả lời đạt
yêu cầu và 100% học sinh thích học theo hình thức này.
Các em tỏ ra thái độ rất vui. Đây cũng là nguồn động viên lớn đối với
tôi và càng thôi thúc tôi tự tin hơn trong việc tìm tòi khám phá để đầu tư chu
đáo cẩn thận hơn trong từng giáo án và từng tiết học trên bục giảng.
dục toàn diện đổi mới mạnh mẽ nội dung phương pháp dạy học, phát huy tính
tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, nên tôi thấy việc mình làm tuy là rất
nhỏ bé chưa có gì là lớn lao nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn đối với tôi. Bởi
vì thực hiện đề tài này không những giúp học sinh nắm chắc được kiến thức
mà còn tạo cơ hội học hỏi trao đổi lẫn nhau về kinh nghiệm trong nghề và để
góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp trồng người và tất cả vì học sinh thân yêu.
2/ Kiến nghị, đề xuất :
Về phía nhà trường phổ thông :
Môn GDCD cần được đặt ở vị trí công bằng như bao môn học khác
trong trường cụ thể như : Thi cuối kỳ cũng tập trung học sinh theo số báo
danh để thi như các môn khác và nên tổ chức thi học sinh giỏi cấp trường,
cung cấp tạp trí, báo, tài liệu cần thiết
Về phía ngành :
Môn GDCD cần bổ sung thêm sách tham khảo, sách bài tập nhất là các
tiết ngoại khóa tài liệu còn hạn chế giáo viên đều phải tự tìm kiếm. Sở Giáo
Dục nên tổ chức thêm các buổi hội thảo về chuyên môn cung cấp các tin tức
thời sự cho các giáo viên môn giáo dục công dân để các giáo viên có điều
kiện giao lưu học hỏi kinh nghiệm.
Về phía học sinh :
Phải thay đổi tư duy, cách học và nhận thức rõ hơn nữa về tầm quan
trọng của bộ môn đối với quá trình hình thành nhân cách con người.
Do điều kiện thời gian, gia đình và công việc cuối năm học nên trong
quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi sai sót. Rất mong được sự đóng
góp, xây dựng của Ban giám khảo và đồng nghiệp để tôi có thể thành công
hơn trong những đề tài sau.
Xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 5 Năm 2012.
GV: Cao Thị Chúc - Trường THPT Đào Duy Từ
20