một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường thcs - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH Ở TRƯỜNG THCS
Người thực hiện: Trần Thị Nga
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Ba Đình
SKKN thuộc môn: Chủ nhiệm
THANH HOÁ, NĂM 2013
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết, mục đích của giáo dục là đào tạo những con người phát
triển toàn diện mà cụ thể là đức và tài. Đến nay chúng ta đã có rất nhiều những
thành công trong công tác giáo dục. Góp phần vào sự thành công ấy có giáo dục
của bậc THCS nói riêng và ở các cấp học nói chung. Nói về giáo dục ở bậc
THCS, bên cạnh những đóng góp không nhỏ cho nền giáo dục nước nhà và rất
nhiều học sinh của chúng ta có đạo đức tốt, có năng lực và kết quả học tập cao
nhưng bên cạnh đó trong nhà trường vẫn còn tồn tại những học sinh có kết quả
giáo dục chưa cao, đặc biệt là về giáo dục đạo đức. Đó là những học sinh có thái
độ – biểu hiện đạo đức yếu kém mà ta hay gọi là học sinh cá biệt.
Đối với học sinh cá biệt chúng ta bỏ ngoài ư? Mặc kệ ư? Không! Không
thể được. Nếu chúng ta có biện pháp giáo dục phù hợp với đối tượng này thì tôi
tin rằng công sức mà chúng ta bỏ ra là không hề lảng phí. Như chúng ta đã biết,
những em học sinh cá biệt là những em thường hay có cá tính, hoặc có lí do đặc
biệt. Nếu ta phát huy được cá tính tốt, hiểu rõ nguyên nhân và có biện pháp khắc
phục hợp lí thì tất sẽ thành công, còn nếu chưa được những gì tốt đẹp nhất thì
việc làm đó cũng giúp cho học sinh cá biệt chậm lại quá trình vi phạm để rồi dần
thức tỉnh ra.
Chính vì thế mà đã có nhiều nhà giáo dục, nhà khoa học, nhà sư phạm

THCS Ba Đình” tôi nhằm tìm ra các biện pháp giáo dục học sinh cá biệt và vận
dụng các biện pháp đó vào việc giáo dục học sinh cá biệt ở trường THCS Ba
Đình.
II. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Sau khi nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở
trường THCS Ba Đình” tôi muốn được góp một phần kinh nghiệm của mình
vào việc giáo dục học sinh cá biệt ở trường THCS Ba Đình nói riêng và ở các
trường THCS nói chung. Đồng thời góp phần vào việc kết hợp giữa “ Gia đình
– nhà trường và xã hội” trong việc giáo dục học sinh nhằm hướng con em mình
trở thành con ngoan – trò giỏi, người có ích cho xã hội.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng: Khi nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục học sinh cá
biệt ở trường THCS ”thì đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 9c trường THCS
Ba Đình có những biểu hiện vi phạm đạo đức và vận dụng các biện pháp giáo
dục những đối tượng học sinh này.
2. Phạm vi nghiên cứu : học sinh lớp 9c trường THCS Ba Đình, Bỉm Sơn,
Thanh Hóa.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được đề tài này, tôi đã quan sát, tìm hiểu thực tế, phân tích
và tổng hợp từ đó rút ra kết luận và áp dụng các biện pháp thích hợp cho từng
nội dung.
3
B. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
I. Cơ sở khoa học và thực trạng học sinh cá biệt
1. Cơ sở lý luận: Thực trạng học sinh cá biệt ở trường THCS hiện nay
Lâu nay, khi đề cập đến nguyên nhân và trách nhiệm đối với học sinh cá
biệt, mọi người đều cho rằng cả ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội
đều là nguyên nhân của tình trạng học sinh cá biệt và đều phải chịu trách nhiệm.
Nhưng khi đặt vấn đề đâu là nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu đối với học sinh
cá biệt thì lại có nhiều ý kiến khác nhau.

Hệ thần kinh của các em còn chưa có khả năng chịu đựng những kích
thích
mạnh, đơn điệu, kéo dài…Do tác động của những kích thích như thế thường
xuyên sẽ gây cho các em tình trạng ức chế, hay xảy ra tình trạng bi kịch, bị kích
động mạnh. Vì vậy, sự phong phú của các ấn tượng, sự chấn động thần kinh
mạnh hoặc sự chờ đợi kéo dài vì những biến cố gây xúc động đều có thể tác
động mạnh đến tuổi vị thành niên, có thể làm cho một số em bị ức chế, uể oải,
thờ ơ, lơ đãng, tản mạn,… số khác lại làm những hành vi xấu, không đúng với
bản chất của các em.
Sự thay đổi về thể chất và tinh thần chưa ổn định ấy của lứa tuổi vị thành
niên làm cho các em có đặc điểm nhân cách khác với các em khi ở lứa tuổi trước
đó. Nhận thức của người vị thành niên cho thấy còn thiếu kinh nghiệm về cuộc
sống, dễ có hành động không đúng, có khi mang yếu tố cảm tính, dễ bị động, bị
lôi kéo vào những việc làm sai trái.
Từ sự phân tích trên, ta có thể kết luận: đời sống tâm lí lứa tuổi là một
nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh cá biệt ở trường THCS.
Thứ hai: Nguyên nhân từ phía gia đình
Một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến số học sinh cá
biệt ở trường THCS đó là sự tác động từ phía gia đình. Có rất nhiều người cho
đây là nguyên nhân cơ bản nhất.
Trong nhiều gia đình, cha mẹ mãi lo làm ăn, xây dựng kinh tế, thiếu thời
gian quan tâm đến việc giáo dục con cái, việc học hành của con thì phó mặc cho
nhà trường, đoàn thể. Nên việc phối hợp giáo dục chưa được quan tâm đúng
mức
Mặt khác, năng lực giáo dục, những hiểu biết về mặt phát triễn của sinh lí,
tâm lí đối với con cái của các bậc cha mẹ còn rất hạn chế, nên chưa sử dụng
được các biện pháp giáo dục cho phù hợp khi có tình huống xảy ra với trẻ. Ta
thấy rất nhiều gia đình chiều chuộng con cái từ khi còn nhỏ vì chỉ có một cậu
“ấm”. Thói quen vòi vĩnh, đòi gì được nấy, không vâng lời, việc gì cũng ỷ lại
cho bố mẹ…đã trở thành thói quen khó sửa cho các em. Hoặc nhiều cha mẹ lại

Ta thấy rõ, thầy cô giáo và nhà trường ngoài các biện pháp nhắc nhở,
cảnh báo, đuổi học không được phép răn đe học sinh hư, học sinh chậm tiến
bằng hình phạt khác. Vì lẽ đó cũng hình thành ở học sinh tâm lí “nhờn” với thầy
cô giáo, hỗn với người trên tuổi.
Bên cạnh đó, việc giảng dạy các môn đạo đức (dạy làm người ), dạy pháp
luật lại chưa được chú trọng. Trong nhà trường, đội ngũ cán bộ giáo viên giảng
dạy môn đạo đức và pháp luật còn rất hạn chế, không có hoặc ít giáo viên
chuyên ngành được đào tạo dạy đạo đức và pháp luật.
Mặt khác, trong nhà trường có một số giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên
bộ môn đã không thực sự quan tâm đến học sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt.
6
Với học sinh cá biệt, giáo viên cần quan tâm nhiều hơn để giúp đỡ, khuyến
khích động viên các em tu dưỡng, rèn luyện nhân cách đạo đức của mình. Đôi
khi giáo viên thiếu kinh nghiệm, lại không được chuẩn bị đầy đủ chu đáo về
kiến thức, kĩ năng nên dễ
giải quyết các tình huống gay cấn bằng thói quen, bằng kinh nghiệm, bằng trực
giác. Vì thế khó tránh khỏi những sai lầm. Ví dụ thiên về trừng phạt nặng, có
thái độ cứng rắn đến mức độ thờ ơ, lạnh nhạt trái với lòng tin và mong đợi của
học sinh. Trong tình thế này , người ta còn lẫn lộn giữa tâm lí học tội phạm với
tâm lí trẻ khó giáo dục.Thầy cô ra lệnh, cấm đoán nhiều điều càng kích thích trí
tò mò của học sinh và lại bị vi phạm. Thế là cái vòng luẩn quẩn xuất hiện: thầy
cô, cha mẹ liên tục giao việc, nêu yêu cầu để trẻ làm. Không hoàn thành được,
thế là ở nhà trẻ bị cha mẹ quở mắng, đến trường lại cũng bị thầy cô khiển trách.
Hệ quả là chúng chán nản, rã rời, hết có phản ứng này đến phản ứng khác.
Các nhà sư phạm non tay lại không thông cảm, mà lại dùng kỉ luật cứng nhắc
bắt trẻ vào khuôn phép. Thế là mọi sự giáo dục lại không có hiệu quả.
Cái sai lầm về nghệ thuật giáo dục dẫn đến hình thành ở học sinh thói xấu
như sợ sệt, nói dối, ác cảm với thầy cô giáo…
Thái độ thờ ơ, ác cảm với học sinh cá biệt ở một số nhà giáo dục cũng do
họ không hiểu được tâm lí của lứa tuổi này. Thái độ quá tự tin, chủ quan vào tài

Lớp 9C tôi chủ nhiệm 37 HS phần lớn là HS phường Ba Đình, phường Lam
Sơn, nhiều em có hoàn cảnh đặc biệt : cha mẹ li hôn, cha thì nghiện ngập, đi lao
động nước ngoài, 1 số gia đình cha mẹ lao động tự do. Các em ít được sự quan
tâm sống thiếu tình yêu thương đùm bọc của người thân, thiếu sự quan tâm
chăm sóc giáo dục. Vì thế mà việc học tập của các em sa sút, rèn luyện đạo đức
cũng bị hạn chế, những ời nói tự do thô tục thiếu văn hóa càng được biểu hiện
rất rõ trong tâm hồn các em. Khi nhận lớp thời gian đầu tôi đã nhận ra một số
bạn nữ tâm sinh lí phát triển nên có những biểu hiện về tình cảm khác giới tâm lí
các em có độ lì , các bạn nam hiếu động nói năng tự do, thô tục thiếu văn hóa và
thường xuyên bỏ học để vui với các trò chơi điện tử, có những em gia đình đã
bất lực, phó mặc cho nhà trường quản lí. Cái khó khăn của tôi là mới nhận lớp
nên tìm hiểu đối tượng tính cách , hoàn cảnh của mỗi em chưa được nhiều về
thời gian . Vì thế, tôi suy nghĩ, trăn trở tìm ra giải pháp đúng đắn phù hợp với
từng đối tượng tâm sinh lý HS – HS cá biệt.
THỐNG KÊ HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH HỌC SINH
Số HS Hoàn cảnh gia đình
2 em cha mẹ công chức, điều kiện khá giả quan tâm chăm sóc chu đáo
5 em Cha mẹ bỏ nhau sống với ông bà nội, ngoại
20 em Cha mẹ làm nghề lao động tự do, lao động nước ngoài, ít quan tâm
đến việc học tập của các em
10 em Hộ nghèo, gia đình khó khăn
Chất lượng hạnh kiểm năm học trước 2011 - 2012
Tốt (%) Khỏ (%) Trung Bỡnh (%) Yếu (%) Kộm (%)
20 20 40 20 0
8
2.2 Tình hình nhà trường
Như trên chúng ta đã biết, việc thay đổi cách sống, cách sinh hoạt của cộng
đồng tất sẽ dẫn đến sự thay đổi của trẻ em ( trẻ thường lấy người lớn làm gương,
các gương xấu dễ bị tiếp thu hơn). Học sinh THCS Ba Đỡnh cũng nằm trong
tình trạng chung của học sinh THCS trên địa bàn của thị xã. Trong những năm

Trường học là cơ sở chính - chủ đạo trong quá trình giáo dục với ý nghĩa nó
là nhà điêu khắc chính tạo nên tâm hồn con người. Trường học để lại dấu ấn
không phai mờ trên bộ mặt văn hoá của tất cả những ai đã học tập ở đó. Trường
học chân chính lấy làm tự hào là tất cả những người lớn tuổi đều hãnh diện tự
coi mình là học trò của các em. Trường học là nơi hình thành và bảo vệ cái cốt
lõi đạo đức của người công dân. Những mối quan hệ lẫn nhau được hình thành
trong tập thể của trường học. Vì vậy để cho trường học giảm bớt tình trạng học
sinh cá biệt thì nhà trường nên có những biện pháp như sau:
Tăng cường những giờ giảng có hiệu quả và chất lượng về luân lí đạo đức,
pháp luật cho học sinh. ở mỗi lớp, nhà trường chọn ra số học sinh cá biệt, tập
trung lại và cho giáo viên có kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn về đạo đức,
về pháp luật để bồi dưỡng. Những học sinh này cần được truyền thụ kiến thức
đạo đức ( bài học làm người, các phẩm chất và bổn phận đạo đức của công dân )
và kiến thức pháp luật để các em biết và giác ngộ, sửa chữa dần dần những việc
làm, hành vi không phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Vì vậy, trong trường
học, cần có giáo viên dạy pháp luật nói riêng và dạy giáo dục công dân nói
chung có trình độ và chuyên môn vững vàng để truyền đạt đến học sinh một
cách có hiệu quả. Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn cần
có sự quan tâm chú ý đến học sinh lớp mình, đặc biệt là học sinh cá biệt. Giáo
viên chủ nhiệm là người chịu trách nhiệm trước nhà trường, trước cha mẹ học
sinh về sự phát triển nhân cách của từng học sinh theo mục tiêu giáo dục.
Do đó, đối với học sinh cá biệt, bản thân tôi đưa ra một số biện pháp sau đây:
Thứ nhất: Biện pháp xây dựng lại niềm tin
Bình thường, trẻ em vốn có niềm tin vào “thế giới” người lớn, hồn nhiên
và yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em cũng như những người xung quanh.
Vì những lí do xã hội và hoàn cảnh phức tạp của cá nhân mà niềm tin của
các em bị phai nhạt và đổ vỡ, thậm chí các em có những tình cảm ngược lại: oán
giận xã hội, căm ghét gia đình và những người xung quanh, mặc cảm về chính
bản thân, về thân phận bất hạnh của mình. Vì vậy, nhà giáo dục như chúng tôi
nên thực hiện theo các yêu cầu sau:

như vậy trẻ mới tin ta và từ đó chúng mới tin vào bản thân chúng và vào cuộc
sống nói chung.
Thứ hai: Biện pháp khuyến khích và trừng phạt.
1.1 Trừng phạt.
Trừng phạt phải được đối tượng nhận thức tiếp thu như là hình thức đặc biệt
của yêu cầu chung đối với hành vi sai trái của các em. Trong nội dung trừng
phạt đồng thời nên có các nội dung:
- Phê phán, chỉ trích việc làm sai trái
- Lời chỉ dẫn sửa chữa hoặc qui tụ hành vi để khắc phục sai phạm đó.
- Cảnh báo, răn đe sự việc tái diễn để phòng ngừa về sau
11
- Trừng phạt được áp dụng để sửa trị những lỗi lầm của trẻ sai phạm ở mức
độ nặng nề ( như chúng đã xúc phạm thô bạo bạn bè, mọi người, luôn luôn bộc
lộ tính
hung tợn, tính chấp nhặt trả thù khiến cho trẻ khác sợ hãi) .
Nhưng trừng phạt phải chặt chẽ, thích đáng, tránh tạo cơ hội để trẻ bộc lộ sự
ranh mãnh đối phó theo kiểu đạo đức giả. Khi trừng phạt phải vạch rõ lý do
chính đáng đảm bảo cho việc trừng phạt đạt hiệu quả mong đợi của mọi người,
làm cho đối tượng chuyển biến thái độ hành vi. Thực hiện việc trừng phạt phải
được dư luận của nhóm đồng tình ủng hộ.
Phải nhạy bén linh hoạt thay đổi hình thức phạt khi cần thiết và cũng không
nên trừng phạt một cách máy móc hình thức. Tối kị việc trừng phạt hàng loạt trẻ
với một hình thức sáo mòn nào đó. Khi bản thân trẻ đã hiểu rõ tính nết và cung
cách giáo dục của nhà giáo dục mà người đó lại không chịu cải tiến hình phạt, rễ
dẫn đến thái độ khinh nhờn của trẻ, vì chúng cho rằng như vậy là tắc trách, là
không khách quan. Vì vậy đối với mỗi đối tượng, phải sâu sát với chúng và cá
biệt hoá cả cách thức trách phạt thì hiệu quả mới tốt. Ví dụ: có trẻ phải cương
quyết, có trẻ phải dùng áp lực, dư luận tập thể; có trẻ phải tâm tình thuyết phục,
thậm chí mời gia đình giáo dục. Việc thực hiện thực hiện trừng phạt không nên
hấp tấp vội vã, tránh tình trạng để trẻ có lỗi chưa đủ thời gian tự xem xét đã

trẻ.
Khuyến khích là nhằm khơi gợi những nhân tố tích cực trong trẻ, giúp trẻ
hiểu rõ
các phảm chất, các năng lực, tính cách của mình. Điều đó làm cho trẻ tin tưởng
ở bản thân mình, hình thành ở trẻ tư tưởng phấn đấu trở thành người tốt hơn.
Cần khuyến khích cùng với giao việc cụ thể, tổ chức các hoạt động tạo cơ hội
cho trẻ bộc lộ tiềm năng, thử thách tự sửa chữa trong thực tế.
Tóm lại, việc khuyến khích trong giáo dục học sinh các biệt cũng là một
trong những biện pháp quan trọng, tạo cơ hội cho trẻ tự sửa chữa, vươn lên và
trở thành người học sinh tốt hơn.
2.Đối với gia đình.
Nhà trường cần kết hợp với gia đình để giáo dục học sinh các biệt. Người
giáo viên chủ nhiệm có học sinh các biệt cần phải kết hợp với gia đình để trao
đổi và tư vấn các biện pháp giáo dục trong gia đình . Phần lớn các gia đình đặc
biệt các gia đình ở nông thôn ( địa bàn phường Ba Đỡnh) trình độ, biện pháp
giáo dục còn hạn chế, do vậy cần có sự hỗ trợ, tư vấn, kết hợp của giáo viên về
biện pháp giáo dục.
Trong phạm vi gia đình, những người làm cha làm mẹ dù có bận như thế
nào thì mỗi ngày nên dành một thời gian nhất định để quan tâm đến trẻ. Cha
mẹ phải biết phòng ngừa các hành vi xấu của con bằng các biện pháp giáo dục
cẩn thận và đặc biệt khi trẻ có các hành vi hư hỏng thì phải phương pháp giáo
dục một cách đúng đắn . Khi con cái đã mắc các sai lầm khuyết điểm thì các bậc
cha mẹ có thể thực hiện theo những điều sau đây:
13
+ Tránh vội vàng qui kết cho con theo kiểu áp đặt, chụp mũ ( lười, ngang
bướng, hư hỏng, đồ bỏ đi, vô dụng, đồ ăn cắp, …) mà phải tự đặt ra câu hỏi đâu:
“ Vì đâu có thái độ, hành vi sai trái? ” và tìm căn nguyên để khắc phục.
+ Khi giáo dục trẻ cần có thái độ bình tĩnh, tránh tức giận, bực bội cá
nhân. Nên có lời khuyên giải một cách chân tình thể hiện tình thương và trách
nhiệm.

Nhà trường phối hợp với địa phương tổ chức cho học sinh tham gia tích
cực vào tất cả các hoạt động văn hoá, xã hội như: xoá đói, giảm nghèo, đền ơn
đáp nghĩa, gia đình văn hoá mới, dọn dẹp đường làng ngõ xóm….Nhằm góp
phần cải tạo môi trường gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn đối với quá
trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
B. Kết quả đạt được được trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt
Với những biện pháp nêu trên, trong quá trình giảng dạy ở nhà trường
THCS, tôi đã mạnh dạn áp dụng để giáo dục học sinh cá biệt ở lớp mình chủ
nhiệm và đồng giáo dục học sinh trong trường thì kết quả đạt được rất khả quan.
Em Nguyễn Thanh Phong, ban đầu tôi nhận lớp em có thái độ vô lễ, nói
năng thiếu văn hóa và “bất cần”, thường lôi kéo bạn bè làm theo ý của mình.
Trước những hành vi đó tôi cũng luôn nhắc nhở giáo dục em trước lớp song
không có kết quả gì. Suy nghĩ để tìm ra giải pháp, tôi đã gặp riêng tìm hiểu hoàn
cảnh gia đình, lúc đó tôi biết được Phong có hoàn cảnh thật đáng thương: cha thì
nghiện ma túy, mẹ thì lao động tự do, em ít được sự quan tâm và yêu thương của
gia đình. Có lẽ vì thế em chán trường, không muốn học. Phong tâm sự: Em đến
trường cốt để hòa đồng với bạn bè song nhiều bạn thường chế giễu và mỉa mai
“con của thằng nghiện”, những lời lăng nhục của bạn bè càng khiến em cảm
thấy nhục nhã nên em phải thể hiện mình trước mọi người để bạn bè không làm
những điều đó, mong cô hiểu cho em. Nghe Phong tâm sự tôi cảm động và xót
xa phân tích cho em hiểu được những điều em cần sửa chữa và phải làm gì cho
đúng đạo lí. Phong đã hiểu và xin lỗi, hứa với tôi sẽ tiến bộ. Từ lần gặp đó cho
đến hôm nay Phong đã có thay đổi và ý thức học tập tốt hơn.
Em Hà Thị Thủy, HS có thể xem là “đại ca” của tốp nữ. Đầu năm em
thường bỏ học đi chơi với bạn trai, trang phục đến trường thường bắt chước theo
kiểu ca sĩ, không phù hợp với tuổi HS. Khi giáo viên nhắc nhở thì em có những
hành vi thiếu văn hóa. Lúc đó tôi rất buồn vì trong lớp cũng có một vài em đạo
đức kém như vậy. Lo lắng suy nghĩ để tìm ra một giải pháp giáo dục các em như
thế nào? Tôi gặp riêng em tâm sự và hiểu được cái suy nghĩ của Thủy đó là ưa
nhẹ nhàng, tế nhị kín đáo bởi vì tuổi nhỏ em không được sự chăm sóc yêu

89 11 0 0 0
C. KẾT LUẬN
Thực trạng học sinh cá biệt ở trường THCS hiện nay đang trở thành vấn
đề nhức nhối cho gia đình, xã hội, đặc biệt là cho người làm công tác giáo dục.
Số học sinh cá biệt hầu như trường nào cũng có, nó tồn tại ở nhiều dạng và
nhiều hình thức khác nhau.
Để khắc phục tình trạng đó, tôi đã mạnh dạn đưa ra những nguyên nhân,
biện pháp khác phục và đã đạt được kết quả trong quá trình thực hiện. Vậy các
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến trẻ hư đó là: do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, do
ảnh hưởng từ phía gia đình, do nhà trường và do tác động từ phía xã hội. Cùng
16
với mỗi nguyên nhân đó là các biện pháp khắc phục trong nhà trường, gia đình
và xã hội.
Về mặt nghiệp vụ, đề tài này giúp tôi có kĩ năng và thao tác của người tập
làm công tác nghiên cứu. Đồng thời là giáo viên dạy Ngữ văn nó còn giúp tôi
trau dồi kiến thức, nâng cao tay nghề để giảng dạy có hiệu quả tốt nhất.
Trong khuôn khổ của một đề tài nghiên cứu, tôi mong đồng nghiệp xem
đây như một ý kiến nhỏ góp tiếng nói chung trong việc giáo dục số học sinh cá
biệt. Đề tài như một tài liệu tham khảo để bạn đọc, các bậc cha mẹ, nhà trường
và xã hội có thể lựa chọn giáo dục cho con em mình.
Tuy nhiên trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tôi sẽ không tránh khỏi
những hạn chế. Vì vậy rất mong sự đóng góp ý kiến của đông đảo bạn đọc, của
các đồng nghiệp để bài viết sau tốt hơn, hoàn thiện hơn.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
(Đã ký)
Hoàng Mạnh Hùng
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh
nghiệm này do tôi nghiên cứu và thực
hiện.
Bỉm Sơn, Tháng 3 năm 2013


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status