báo cáo tổng kết đề tài cơ sở nuôi trồng nấm bào ngư ở huyện krông buk, đắk lắk - Pdf 24

Phần 1. MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết triển khai đề tài
Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới hàng
trăm năm nay, nấm là một trong những sản phẩm nông nghiệp được đánh giá
cao trên thế giới. Ở nhiều nước, sản xuất và chế biến nấm đã phát triển thành
một nghề có trình độ cao theo phương thức công nghiệp (Phạm Văn Sáng,
2008). Nấm đã được xếp vào một giới riêng có nhiều loài rất đa dạng với
nhiều hình dáng màu sắc và chủng loại. Cho đến nay việc nghiên cứu cũng
như tuyển chọn các loại nấm ăn, nấm dược liệu trong và ngoài nước đã đạt
những thành tựu đáng kể.
Nấm ăn nói chung và nấm bào ngư (pleurotus sp.) nói riêng được xem
là thực phẩm có nhiều đặc tính rất quí, hương vị thơm ngon, gía trị dinh
dưỡng cao, có chứa các acid amin thiết yếu, giàu chất khoáng, vitamin và các
nguyên tố vi lượng. Nấm còn có hàm lượng polysaccarit, hydratcacbon và
một số hoạt tính sinh học mà nhiều loại thực phẩm khác không có như những
chất làm trẻ hóa tế bào, chống béo phì, cao huyết áp, tiểu đường (Lê Hồng
Vinh, 2004)
Ở nước ta nghề nấm cũng đã phát triển từ lâu, sự phát triển của nó cũng
có những lúc thăng trầm. Tuy nhiên, những năm gần đây trồng nấm đã được
xem là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao. Điển hình là đã có hàng ngàn
hộ nông dân trồng nấm quy mô trang trại ở nhiều nơi trong nước như: Nghệ
An, Lào Cai, Củ Chi Vùng ĐBSCL cũng đang có vài tỉnh thành đang phát
huy thế mạnh của nghề trồng nấm như: Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Kiên
Giang…tuy nhiên một số nơi vẫn còn mang tính tự phát, hiệu quả kinh tế
chưa cao hạn chế việc khuyến khích mở rộng do năng suất và chất lượng thấp.
Với tình hình trên cho thấy mô hình trồng nấm bào ngư khá thích hợp
để triển khai trồng trong các hộ dân vì nó yêu cầu kỹ thuật chăm sóc khá đơn
1
giản, không sử dụng hoá chất, thuốc bảo vệ thực, năng suất khá cao (năng
suất trung bình từ 1 tấn nguyên liệu là 700 kg) (Phạm Văn Sáng, 2008), có thể
sản xuất được quanh năm, thị trường tiêu thụ nấm bào ngư hiện cũng đang mở

1.2. Mục tiêu của đề tài
- Xây dựng thành công 2 mô hình nuôi trồng nấm Bào ngư tại 2 xã Ea
Ngai và Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk;
- Khẳng định hiệu quả kinh tế của việc nuôi trồng nấm Bào ngư theo
đúng quy trình kỹ thuật cao hơn hẳn so với các loại cây trồng ngắn ngày khác
từ 20-30% trên cùng một đơn vị diện tích.
Phần 2
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1. Tình hình nghiên cứu, phát triển nấm bào ngư
2.1.1. Trên thế giới
Năm 1990, tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới là 3.763.000 tấn.
Đến năm 1994, tổng sản lượng nấm trên thế giới tăng lên 4.909.000 tấn. Các
nước sản xuất chủ yếu như: Trung Quốc, Hoa kỳ, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan, Ý,
Hàn quốc Trong đó Trung Quốc chiếm đến 53,79% tổng sản lượng. Theo
Lê Xuân Thám (2008) hiện tại, Trung Quốc được xem là nước có nghề sản
xuất nấm lâu đời và lớn nhất thế giới (chiếm > 80% tổng sản lượng nấm của
thế giới). Tổng sản lượng nấm của Trung Quốc năm 2003 là 10.386.900 tấn,
trong đó sản lượng nấm bào ngư đạt trên 2 triệu tấn. Hiện Trung quốc có trên
10 viện và cơ sở nghiên cứu phát triển công nghệ nấm cùng với lực lượng
chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực nấm rất hùng hậu ở những vùng trọng
điểm. Tỉnh Phúc Kiến được xem là địa phương điển hình trong công nghệ
trồng nấm ở Trung Quốc, với năng suất và kim ngạch đứng đầu cả nước
chiếm khoảng 30% tổng sản lượng nấm trong nước. Năm 1996 sản xuất nấm
3
ở Phúc Kiến đạt khoảng 320 triệu USD, năm 1997 đạt 400 triệu USD và đến
năm 2000 đạt 500 triệu USD. Hiện nay vẫn tăng ổn định, chiếm tới 60% kim
ngạch xuất khẩu nấm của Trung Quốc. Nghề sản xuất nấm ăn của tỉnh đã
được xem là một trong 9 nghề sản xuất lớn trong nông nghiệp Nghề nấm đã
góp phần tăng trưởng nền kinh tế Trung Quốc nói chung và của tỉnh Phúc
Kiến nói riêng. Tại Phúc Kiến, nghề nấm đã tạo ra trên 3 triệu việc làm,

Đặc biệt mô hình trồng nấm bào ngư hiện nay đang phát triển khá phổ
biến nhiều nơi như TP.Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, Kiên
Giang vì nó mang lại giá trị kinh tế không nhỏ và hứa hẹn nhiều tiềm năng
kinh tế. Điển hình như Công ty TNHH TM DONA (xã Tân Phú Trung, Củ
Chi) từ 10 trại nấm ban đầu, hiện nay đã tăng lên 46 trại ở củ Chi và mở rộng
nhiều chi nhánh trên cả nước. Nông dân Mai Thanh Nhân (huyện Châu
Thành, Bến Tre) ban đầu trồng thử nghiệm 1000 bịch phôi nấm bào ngư nay
phát triển lên 10.000 bịch và thành lập HTX Thanh tuyền mở rông mô hình
trồng nấm. Hiện nay HTX đã ký hợp đồng xuất khẩu nấm bào ngư sang thị
trường Châu Âu với số lượng 6 tấn/ tháng. Ông Bảy Yết (Phan.V. Yết, xã Tân
Thới Nhì, Hóc Môn, TP.HCM) khởi nghiệp từ trồng nấm bào ngư, hiện nay
đã mở rộng cơ sở với diện tích 6000 m2 cung cấp 20.000 phôi giống/ ngày,
ngoài ra, ông còn có sáng kiến đi lập làng nấm ở các tỉnh Long An, Vĩnh
Long, Đồng Tháp Chị Nguyễn Thị Minh Tấn (xã Long Hòa, huyện Dầu
Tiếng, Bình Dương) làm giàu từ trồng nấm bào ngư, từ 500 bịch phôi nấm,
hiện nay chị đã mở rộng diện tích trồng lên 1 ha thu nhập 100 triệu đồng/năm.
Tại Tiền Giang, vừa qua Trung tâm Ứng dụng và Dịch vụ Khoa học
Công nghệ đã triển khai thành công dự án “Xây dựng mô hình sản xuất và
tiêu thụ các loại nấm (từ khâu giống, trồng và thu mua chế biến tiêu thụ nấm)
tại Tiền Giang”. Dự án cho thấy mô hình trồng nấm bào ngư mang lại hiệu
quả kinh tế cao nên đã được phát triển nhân rộng. Trung tâm đã chuyển giao
5
200.000 bịch phôi nấm bào ngư cho một số tỉnh Nam bộ để triển khai sản
xuất. Hiện nay, ở Tiền Giang đã có hơn 30 hộ trồng nấm bào ngư với diện
tích trên 100 m2/hộ thu nhập từ 10 – 12 triệu đồng/hộ
2.1.3. Tại tỉnh Đắk Lắk
Tại Đắk Lắk, Việc nuôi trồng nấm Bào ngư đã được thực hiện thành
công ở một số nơi trong đó có kết quả của dự án NTMN “Ứng dụng kỹ thuật
tiến bộ xây dựng mô hình cơ sở nhân giống và SX nấm thương phẩm tỉnh
Đắk Lắk” do Trung tâm ứng dụng KH&CN thực hiện năm 2000 - 2004; Việc

cao như cà phê, cao su, hồ tiêu,…đây là điều kiện thuận lợi và thế mạnh để
huyện phát triển nền nông nghiệp. Hiện nay huyện xác định việc phát triển
nông nghiệp mang tính chất lâu dài, đồng thời cải tạo các vùng đồi núi trọc,
các vùng đất bạc màu nhằm phát triển hệ sinh thái, cải tạo môi trường và tăng
thu nhập cho người dân.
- Dân số toàn huyện 57.002 người;
+ Đồng bào DTTS là 18.521; chiếm 32.5% DS;
+ Đồng bào dân tộc tại chỗ là 17.862; chiếm 31.3% DS.
2.2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Pơng Đrang:
Xã Pơng Drang nằm phía Bắc huyện Krông Búk, cách trung tâm huyện
6km theo quốc lộ 14.
- Vị trí địa lý tiếp giáp với các xã như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Chứ KBô - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
+ Phía Đông và Nam giáp xã Ea Đê - Huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
+ Phía Tây giáp xã Ea Ngai - huyện Krông Búk - Tỉnh Đăk Lăk.
- Xã Pơng Drang, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình
khoảng 600m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 3-8
o
, địa hình có xu
7
hướng thấp dần từ Bắc xuống nam. Phần lớn đất đai của xã là đất đỏ bazan có
tầng dày đã được đưa vào khai thác sử dụng.
- Khí hậu: Mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm gió mùa,
chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Tây Nam.
- Nhiệt độ:
+ Nhiệt độ trung bình năm: 21,8
o
C.
+ Nhiệt độ trung bình cao nhất năm: 36,6
o

- Nội dung 2: Tập huấn kỹ thuật nuôi trồng nấm Bào ngư cho nông dân;
- Nội dung 3: Tổ chức hội thảo đánh giá kết quả rút ra bài học kinh
nghiệm và nhân rộng mô hình nuôi trồng nấm Bào ngư.
3.2. Phương pháp tiến hành, kỹ thuật sử dụng
1. Phương pháp nghiên cứu
1.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Nấm Bào ngư (tên khoa học: Pleurotus spp).
1.2. Địa điểm và thời gian thực hiện
- Địa điểm thực hiện: Tại 02 xã Ea Ngai và Pơng Đrang, huyện Krông
Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Thời gian thực hiện: 06 tháng từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2013.
1.3. Quy mô và thiết kế:
- Tập huấn kỹ thuật nuôi trồng nấm Bào ngư: Tổng số 2 lớp, mỗi xã 1
lớp; Quy mô 40 người/lớp; Thời gian 1 ngày; Nội dung tập huấn: Quy trình
kỹ thuật Nuôi trồng, thu hoạch nấm Bào ngư, hướng dẫn nông dân cách hạch
toán hiệu kinh tế trong quá trình tổ chức sản xuất, cung cấp cho nông dân các
thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Xây dựng mô hình nuôi trồng nấm Bào ngư: Tổng số 2 mô hình, mỗi
xã 1 mô hình; Qui mô: mỗi mô hình nuôi trồng 4.000 bịch phôi giống nấm
Bào ngư. Các biện pháp kỹ thuật khác như nuôi trồng, chăm sóc, thu hoạch
10
được thực hiện theo hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc và thu hoạch do
Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk soạn thảo.
- Tổ chức hội thảo Tổng số 2 buổi, mỗi xã 1 buổi; Quy mô 40
người/buổi; Nội dung: thăm mô hình, đánh giá các ưu, nhược điểm và tính
thích nghi, triển vọng của việc nuôi trồng nấm Bào ngư tại địa phương , từ đó
rút ra bài học kinh nghiệm về việc nhân rộng mô hình.
2. Chỉ tiêu và phương pháp tiến hành
2.1. Chỉ tiêu theo dõi
1. Thời gian sinh trưởng:

- Hiệu quả kinh tế của các mô hình:
+ Tổng thu = Năng suất tại mô hình x giá tại mô hình
+ Tổng chi: giống và các vật tư khác, lao động
+ Lãi thuần = tổng thu – tổng chi
+ Tỷ suất lợi nhuận = tổng thu/ tổng chi
3.2.3. Phương pháp chọn hộ:
a) Lựa chọn địa điểm triển khai đề tài: Địa điểm triển khai thực hiện đề
tài phải đúng với mục tiêu của thuyết minh đã đề ra.
b) Những tổ chức và cá nhân được lựa chọn tham gia mô hình của đề tài
phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Có nhu cầu đối với tiến bộ kỹ thuật và công nghệ cần được ứng dụng
chuyển giao;
12
- Có lao động, kinh nghiệm và có trách nhiệm, nhiệt tình khi áp dụng
tiến bộ kỹ thuật và công nghệ.
- Vị trí địa lý gần đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển phôi
nấm, đồng thời phải thuận tiện cho việc đi lại triển khai đề tài cũng như phục
vụ nhu cầu tham quan học tập ở địa phương.
- Có khả năng nhân rộng các kết quả mô hình cho các cá nhân, tố chức
khác trong vùng…
- Có khả năng tài chính hoặc điều kiện sẵn có cho việc đầu tư trồng
nấm ngoài khả năng hỗ trợ của dự án (nhà trồng nấm (có thể tận dụng chuồng
gia súc không sử dụng), thiết bị, lao động )
3.2.4. Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sẽ ứng
dụng trong đề tài
- Ứng dụng kết quả đề tài khoa học cấp tỉnh: Ứng dụng kết quả Dự án
Nông thôn miền núi: “Ứng dụng kỹ thuật tiến bộ xây dựng mô hình cơ sở
nhân giống và SX nấm thương phẩm tỉnh Đắk Lắk” do Trung tâm ứng dụng
KH&CN thực hiện năm 2000 - 2004.
3.2.5. Khảo sát, lựa chọn và xây dựng mô hình

- Dây treo làm bằng nilon, mỗi dây treo 13-14 bịch phôi.
- Dây này cách dây kia 23-25cm (mục đích tránh sự va chạm khi nấm
phát triển).
- Dây cách mặt đất 0,3m.
14
- Chừa lối đi khoảng 1m giữa các hàng để thuận lợi cho việc chăm sóc
cũng như thu hái.
- Lót tấm nilon dưới mái nhà trại để ngăn côn trùng, sâu bệnh trên mái
nhà rơi xuống phá hoại nấm. Xung quanh nhà trồng nấm giăng tấm bạt để
tránh gió, hạn chế côn trùng giúp cho nấm phát triển tốt.
4.1.2. Khử trùng trại chăm sóc nắm:
- Do nấm phát triển trong môi trường sạch, nên đã tiến hành khử trùng
trại trước khi mang bịch phôi về nuôi trồng 10 ngày.
- Cách khử trùng:
+ Mỗt trại 100gr vôi bột/1m
2
, rải đều trên mặt nền trại nấm.
+ Sau khi đã xây dựng xong mô hình trại, dùng 1 gói Actara cho 8lít
nước, phun xịt lên toàn bộ trại (nền trại, kệ, dây treo…) 1 trại ta dùng 3 gói
cho 100m
2

- Sau khi nhà nấm chuẩn bị xong ta tiến hành đưa bịch phôi nấm vào
chăm sóc.
4.1.2. Thời gian sinh trưởng:
BCN đề tài phối hợp với Trung tâm Ứng dụng KH&CN tỉnh lựa chọn
đơn vị cung cấp phôi nấm rỏ nguồn gốc, đảm bảo chất lượng để cung cấp cho
02 mô hình trồng và chăm sóc nấm bào ngư. Ngày 01/10/2013 đã tiến hành
bàn giao các bịch phôi giống cho 02 mô hình trồng, chăm sóc và thu hoạch.
- Sau 05 ngày kể từ ngày nhận giống (05/10/2013), chọn những bịch có

tranh ăn với nấm bào ngư làm ảnh hưởng đến năng suất nấm. Nấm bệnh bắt
đầu từ những vết bông xanh, sau đó chúng nhanh chóng chuyển sang đen.
- Trường hợp ấu trùng ruồi hay còn gọi là dòi, chúng chui vào bịch và
bịch bị thâm quầng từng mãng. Vết bệnh có những đường rãnh quằn quyện
như “vẽ bùa”. Đôi khi chúng cũng len vào giữa các khe bên dưới mũ nấm, cắn
phá làm hại nấm.
16
Bảng 4.1. Tỷ lệ và mức độ sâu, bệnh hại chính
Địa điểm
Mốc xanh Ấu trùng ruồi
Ghi
chú
Số bịch
bị hại
Tỉ lệ
(%)
Mức
độ
Số bịch
bị hại
Tỉ lệ
(%)
Mức
độ
Ea Ngai 85 2.12 + - - -
Pơng
Đrang
97 2.42 + 27 0.68 +
Ghi chú: +: nhẹ; ++: trung bình; +++: nặng
Thời gian theo dõi bắt đầu từ khi nhận phôi giống (01/10) đến thời kỳ viết

Địa điểm
Tháng
10
(kg)
Tháng
11
(kg)
Tháng
12
(kg)
Tổng
cộng
(kg)
Bình
quân
(kg/ngày)
Bình
quân
(kg/bịch)
Ea Ngai 122,0 375,0 384,0 881,0 12,6 0,323
Pơng
Đrang
80,5 360,0 375,0 815,5 12,2 0,313
TB 101,3 367,5 379,5 848,3 12,4 0,318
Năng xuất thực thu của mô hình giao động từ 881,0kg – 815,5kg/ một
mô hình trong thời gian thu hoạch là 67 – 70 ngày. Bình quân một ngày mỗi
mô hình thu được 11,13kg.
c) Hiệu quả kinh tế
Bảng 4.4: Chi phí sản xuất nấm bào ngư trên 1 mô hình 4.000 bịch
18

là cơn số 10, cơn số 11 và cơn số 14 (siêu bão Haiyan) vừa qua. Trong nhưng
ngày mưa bão, nhiệt độ xuống thấp, ẩm ướt điều này cũng ảnh hưởng đến năng
xuất thực tế của các mô hình nấm bào ngư tại huyện krông Búk.
Qua các mô hình trồng nấm bào ngư tại huyện Krông Búk cho thấy khả
năng sinh trưởng, phát triển của nấm bào ngư tại địa phương.
Hạch toán kinh tế cho một mô hình với diện tích 50 m
2
trồng 4.000
bịch phôi nấm cho sản lượng bình quân đạt từ 815.5 đến 881 kg nấm, khả
năng cho thu hoạch thường xuyên mỗi ngày từ 12,2 - 12,6 kg nấm, kéo dài từ
19
4 đến 5 tháng, đảm bảo cho người nông dân có thu nhập thường xuyên phục
vụ cho tái sản xuất và chi phí sinh hoạt gia đình. Với giá thị trường 32.000
đồng/kg, nông dân đạt tổng doanh thu 27.114.000đ. Sau khi trừ chi phí sản
xuất, mỗi mô hình đã giúp người nông dân thu lãi 6.469.000đ. Thực tế đối với
mô hình tại hộ ông Trần Ngọc Phê, địa chỉ thôn 5, xã Ea Ngai và ông Tạ Đình
Tư, thôn 9, xã Pơng Đrang. Mỗi ngày, từ 4 đến 5 giờ sáng ông cùng với các
thành viên trong gia đình đã thu hoạch nấm, sơ chế, phân loại và định lượng
sau đó mang ra chợ tiêu thụ dể dàng. Hàng ngày, gia đình đều có thu nhập từ
350 đến 400 ngàn đồng. Ngoài hiệu quả cao về mặt kinh tế, mô hình này còn
giúp bà con nông dân được tiếp cận với những tiến bộ KHKT, tận dụng được
nguồn nguyên liệu sẵn có, không gây ô nhiễm môi trường và giải quyết được
việc làm cho các thành viên trong gia đình; Đồng thời có thể mở rộng cho các
lao động nông nghiệp ở các xã trên địa bàn huyện Krông Búk.
4.2. Nội dung 2: Tổ chức tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
- Đã tổ chức 02 lớp tập huấn (01 lớp tại xã Ea Ngai và 01 lớp tại xã
Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk).
- Nội dung: Tập huấn kỹ thuật nuôi trồng nấm Bào ngư: Tổng số 2 lớp,
mỗi xã 1 lớp; Quy mô 40 người/lớp; Thời gian 1 ngày; Nội dung tập huấn:
Quy trình kỹ thuật Nuôi trồng, thu hoạch nấm Bào ngư, hướng dẫn nông dân

4.4. Nhận xét chung
- Nấm bào ngư, sinh trưởng và phát triển tốt và thích hợp với thời tiết ở
xã Cư Pui, xã Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Việc nuôi trồng nấm bào ngư mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao
so với các loại cây ngắn ngày khác, Hạch toán kinh tế cho thấy một mô hình
với diện tích 50 m
2
trồng 4.000 bịch phôi nấm cho sản lượng bình quân đạt từ
815.5 đến 881 kg nấm, khả năng cho thu hoạch thường xuyên mỗi ngày từ
12,2 - 12,6 kg nấm, kéo dài từ 4 đến 5 tháng, đảm bảo cho người nông dân có
thu nhập thường xuyên phục vụ cho tái sản xuất và chi phí sinh hoạt gia đình.
Đạt tổng doanh thu 27.114.000đ. Lãi 6.469.000đ.
22
Hội thảo đầu bờ mô hình nuôi trồng nấm bào ngư tại
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
- Về mặt tổng thể, đề tài đã được thực hiện thành công, các nội dung
đều được hoàn thành đảm bảo về mặt chất lượng và tiến độ thời gian.
- Thời điểm kết thúc đề tài, việc tổ chức hội thảo, tham quan mô hình
đã có tác động tích cực đến việc giới thiệu, thông tin kết quả mô hình.
Phần 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
- Đã xây dựng thành công 02 mô hình nuôi trồng nấm bào ngư, sinh
trưởng và phát triển tốt tại xã Cư Pui, xã Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh
Đắk Lắk, thích hợp với thời tiết ở địa phương.
- Hạch toán kinh tế cho thấy mỗi một mô hình với diện tích 50 m
2
trồng
4.000 bịch phôi nấm cho sản lượng bình quân đạt từ 815.5 đến 881 kg nấm,
khả năng cho thu hoạch thường xuyên mỗi ngày từ 12,2 - 12,6 kg nấm, kéo

(Ký, đóng dấu)
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
(Ký, đóng dấu)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
24
1. Lê Hồng Vinh (2004). Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất và tiêu
thụ các loại nấm (Từ khâu giống, trồng và thu mua chế biến tiêu thụ nấm) tại
tỉnh Tiền Giang”.
2. Lê Xuân Thám (2008). Từ kinh nghiệm phát triển công nghệ nấm ở
Phúc Kiến – Thượng Hải, Vân Nam – Công Minh, Trung Quốc hướng tới xây
dựng trục công nghệ nấm ở Lâm Đồng – Đồng Nai – Tp. Hồ Chí Minh, Việt
Nam. Kỷ yếu hội thảo “Giải Pháp phát triển nghề sản xuất, chế biến nấm ăn
và dược liệu trên địa bàn các huyện /thị xã/ TP. Biên Hòa”
3. Phạm Văn Sáng (2008). Thực trạng sản xuất và tiêu thụ nấm ăn và
nấm dược liệu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Kỷ yếu hội thảo “Giải Pháp phát
triển nghề sản xuất, chế biến nấm ăn và dược liệu trên địa bàn các huyện /thị
xã/ TP. Biên Hòa”
4. Trần Lê Thu Thảo (2008). Một số kinh nghiệm sản xuất và nuôi
trồng các loại nấm của công ty TNHH Dona. Kỷ yếu hội thảo “Giải Pháp
phát triển nghề sản xuất, chế biến nấm ăn và dược liệu trên địa bàn các
huyện /thị xã/ TP. Biên Hòa”.
8. Dự án NTMN “Ứng dụng kỹ thuật tiến bộ xây dựng mô hình cơ sở
nhân giống và SX nấm thương phẩm tỉnh Đắk Lắk” do Trung tâm ứng dụng
KH&CN thực hiện năm 2000 - 2004
9. Niên giám thống kê năm 2011, năm 2012 của Cục Thống kê tỉnh
Đắk Lắk.
PHỤ LỤC
KỸ THUẬT TRỒNG NẤM BÀO NGƯ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status