i
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT IV
DANH MỤC HÌNH V
DANH MỤC BẢNG BIỂU IIX
DANH MỤC BIỂU ĐỒ XI
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1. 2. Mục tiêu và nội dung thực hiện 5
1.2.1. Mục tiêu 5
1.2.2. Nội dung thực hiện 6
1.3. Các nguồn vốn đã huy động 6
1.4. Thời gian thực hiện 6
1.5. Hướng tiếp cận của đề tài 7
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 8
2.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 8
2.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 9
2.1.3. Tại Bình Thuận 166
2.2. Rầy nâu, Nilaparvata lugens 17
2.2.1. Đặc điểm phân loại và hình thái học 17
2.2.2. Phân bố 17
2.2.3 Sinh trưởng và tập tính sinh sản 17
2.2.4. Tập quán sinh sống và cách gây hại 19
2.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của rầy nâu 19
2.2.6. Các biện pháp phòng trừ rầy nâu 21
2.3 Nấm xanh, Metarhizium anisopliae 23
2.3.1. Đặc tính sinh học của nấm xanh và phổ ký chủ 23
iii
4.3.1. Kết quả khảo sát chọn xã viên tham gia mô hình 40
4.3.2. Tập huấn chuyển giao quy trình sản xuất nhanh chế phẩm nấm xanh
Ometar ở quy mô nông hộ và kỹ thuật sử dụng chế phẩm cho cán bộ địa
phương và xã viên tham gia mô hình 40
4.3.3. Xây dựng mỗi HTX 1 mô hình có đối chứng 46
4.4. Theo dõi, đánh giá mô hình trong 3 vụ lúa 46
4.4.1. Kết quả theo dõi, đánh giá mô hình tại HTX Dịch vụ Nông nghiệp Hàm
Chính 1 trong 3 vụ lúa 47
4.4.2. Kết quả theo dõi, đánh giá mô hình tại HTX Nông nghiệp Bình Liêm
trong 3 vụ lúa 63
4.4.3. So sánh hiệu quả kinh tế giữa ruộng mô hình và ruộng đối chứng 77
4.5. Hội thảo đầu bờ 80
4.5.1. Hội thảo đầu bờ tại mỗi HTX 80
4.5.2. Hội thảo tổng kết mô hình 81
PHẦN 5: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 83
5.1. Những mặt đạt được 83
5.2. Những khó khăn và hạn chế 87
PHẦN 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
6.1 Kết luận 88
6.2 Kiến nghị 89
PHẦN 7: TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Tiếng Việt 91
Tiếng Anh 93
THƯ VIỆN HÌNH ẢNH 102
PHỤ LỤC 131
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Vòng đời của rầy nâu Nilaparvata lugens 188
Hình 2.2: Nhện ăn mồi (a) và Bọ xít mù xanh (b) 20
Hình 3.1: Phương pháp đếm tế bào trong buồng đếm hồng cầu 355
THƯ VIỆN HÌNH ẢNH
Hình 1: Thực hành chuẩn bị môi trường thứ cấp để nhân nhanh nấm xanh
Ometar 102
Hình 2: Thực hành làm tơi môi trường thứ cấp sau khi hấp tiệt trùng 1022
Hình 3: Cán bộ kỹ thuật của Viện Lúa hướng dẫn thực hành cấy nấm xanh
vào túi môi trường thứ cấp 102
Hình 4: Thực hành cấy nấm xanh vào môi trường thứ cấp 1022
Hình 5: Các túi chế phẩm nấm xanh do cán bộ kỹ thuật của Trung tâm
cấy tại Viện Lúa 1033
Hình 6: Cán bộ kỹ thuật của Viện Lúa hướng dẫn thực hành
sấy nấm
xanh………………………………………………………………… 1033
Hình 7: Thực hành kiểm tra chất lượng chế phẩm nấm xanh Ometar
bằng kính hiển vi 103
Hình 8: Thực hành lấy chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chế phẩm tại đồng ruộng 103
Hình 9: Thực hành phun xịt chế phẩm nấm xanh tại đồng ruộng 104
Hình 10: Trao đổi với nông dân tham gia mô hình tại huyện Thới Lai 104
Hình 30: Sấy nấm trong tủ sấy tại Trung tâm 114
Hình 31: Chế phẩm nấm khô sau khi được đóng gói thành phẩm 114
Hình 32: Tập huấn kỹ thuật tại HTX Dịch vụ Nông nghiệp Hàm Chính 1 115
Hình 33: Thực hành làm môi trường thứ cấp tại HTX Dịch vụ Nông nghiệp
Hàm Chính 1 115
Hình 34: Thực hành làm tơi môi trường thứ cấp sau khi hấp tại HTX Dịch vụ
Nông nghiệp Hàm Chính 1 116
Hình 35: Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm hướng dẫn nông dân cấy nấm tại HTX
Dịch vụ Nông nghiệp Hàm Chính 1 116
vii
Hình 36: Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm hướng dẫn nông dân cấy nấm vụ 2 tại
HTX Dịch vụ Nông nghiệp Hàm Chính 1 117
Hình 37: Các túi môi trường thứ cấp sau khi được cấy nấm tại HTX Dịch vụ
Nông nghiệp Hàm Chính 1 117
Hình 38: Chế phẩm nấm xanh sau 15 ngày nuôi cấy tại HTX Dịch vụ Nông
nghiệp Hàm Chính 1 118
Hình 39: Thực hành làm môi trường thứ cấp tại HTX Nông nghiệp Bình Liêm
118
Hình 40: Nông dân thực hành cấy nấm tại HTX Nông nghiệp Bình Liêm 119
Hình 41: Nông dân thực hành cấy nấm tại HTX Nông nghiệp Bình Liêm 119
Hình 42: Chế phẩm nấm xanh sau 15 ngày nuôi cấy tại HTX Nông nghiệp Bình
Liêm 120
Hình 43: Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm hướng dẫn nông dân pha chế phẩm
nấm xanh 120
Hình 44: Nông dân HTX Nông nghiệp Bình Liêm pha chế phẩm nấm xanh và
phun xịt rầy nâu 121
Hình 45: Nông dân HTX Dịch vụ Nông nghiệp Hàm Chính 1 pha chế phẩm nấm
xanh và phun xịt rầy nâu 121
Hình 46 : Rầy cám chết sau khi phun chế phẩm nấm xanh 3 ngày tại HTX Dịch
ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng cây lúa qua các năm trong cơ cấu cây lương
thực có hạt tỉnh Bình Thuận 1
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng, năng suất lúa cả năm của huyện Hàm Thuận
Bắc, Bắc Bình, Đức Linh và Tánh Linh 2
Bảng 1.3: Tình hình dịch rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa từ 2006
đến 2011 3
Bảng 4.1: Kết quả kiểm tra chất lượng chế phẩm nấm xanh từ giống cấp 2 do
Trung tâm sản xuất 399
Bảng 4.2: Kết quả sản xuất chế phẩm nấm xanh tại HTX Dịch vụ Nông nghiệp
Hàm Chính 1 422
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra chế phẩm nấm xanh Ometar do HTX Dịch vụ Nông
nghiệp Hàm Chính 1 sản xuất 433
Bảng 4.4: Kết quả sản xuất chế phẩm nấm xanh tại HTX Nông nghiệp Bình
Liêm 44
Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra chế phẩm nấm xanh Ometar do HTX Nông
nghiệpBình Liêm sản xuất 455
Bảng 4.6 : Mật số rầy nâu trên ruộng mô hình và đối chứng (con/m2) 477
Bảng 4.7: Mật số sâu cuốn lá nhỏ trên ruộng mô hình và đối chứng (con/m
2
) 533
Bảng 4.8: Mật số nhện thiên địch trên ruộng mô hình và đối chứng (con/m
2
) 566
Bảng 4.9: Mật số bọ xít mù xanh trên ruộng mô hình và đối chứng (con/m
xi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Biến động mật số rầy nâu trên ruộng mô hình và đối chứng (HTX
Dịch vụ Nông nghiệp Hàm Chính 1 - vụ 1) 48
Biểu đồ 4.2: Biến động mật số rầy nâu trên ruộng mô hình và đối chứng (HTX
Dịch vụ Nông nghiệp Hàm Chính 1 - Vụ 2) 49
Biểu đồ 4.17: Biến động mật số rầy nâu trên ruộng mô hình và đối chứng
(HTX Nông nghiệp Bình Liêm - vụ 2) 65
Biểu đồ 4.18: Biến động mật số rầy nâu trên ruộng mô hình và đối chứng
(HTX Nông nghiệp Bình Liêm - vụ 3) 67
Biểu đồ 4.19: Biến động mật số sâu cuốn lá nhỏ trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 1) 69
Biểu đồ 4.20: Biến động mật số sâu cuốn lá nhỏ trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 2) 69
Biểu đồ 4.21: Biến động mật số sâu cuốn lá nhỏ trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 3) 70
Biểu đồ 4.22: Biến động mật số bọ xít mù xanh trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 1) 71
Biểu đồ 4.23: Biến động mật số bọ xít mù xanh trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 2) 72
Biểu đồ 4.24: Biến động mật số bọ xít mù xanh trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 3) 73
Biểu đồ 4.25: Biến động mật số nhện thiên địch trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 1) 75
Biểu đồ 4.26: Biến động mật số nhện thiên địch trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 2) 75
Biểu đồ 4.27: Biến động mật số nhện thiên địch trên ruộng mô hình và đối
chứng (HTX Nông nghiệp Bình Liêm- vụ 3) 76
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay.
Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng
hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn
645.025
535.411
Năm 2011
128.791
111.330
706.442
602.248
Cơ cấu (Tổng số = 100)%
Năm 2009
100,00
84,30
100,00
82,51
Năm 2010
100,00
85,14
100,00
83,01
Năm 2011
100,00
86,44
100,00
85,25
Nguồn Niên giám thống kê 2011, Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận.
2
Trong đó, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình, Đức Linh và Tánh Linh là 4 vùng
sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh ta:
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng, năng suất lúa cả năm của huyện Hàm Thuận
Bắc, Bắc Bình, Đức Linh và Tánh Linh
Sản lượng (Tấn)
Tổng số
505.630
535.411
602.248
Trong đó
Huyện Bắc Bình
113.576
113.707
127.195
Huyện Hàm Thuận Bắc
127.466
149.503
161.232
Huyện Đức Linh
77.206
84.030
93.821
Huyện Tánh Linh
112.312
114.445
132.221
Năng suất (Tấn/ha)
Tổng số
48,98
49,94
54,10
Bảng 1.3: Tình hình dịch rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa từ 2006
đến 2011
Năm
Tổng diện
tích
nhiễm rầy
nâu (ha)
Tỷ lệ
trên diện
tích gieo
sạ (%)
Diện tích
nhiễm rầy
nâu nặng
(ha)
Tổng diện
tích
nhiễm
VL, LXL
(ha)
Tỷ lệ
trên diện
tích gieo
sạ (%)
Tổng diện
tích nhiễm
VL, LXL
nặng
(ha)
2006
27.390
525
0,01
119
2011
225.179
4,98
15.142
11.784
0,26
672
Trung
bình
429.709
10,21
47.701
47.223
1,12
21.633
Tại Bình Thuận, hầu như vụ lúa nào, rầy nâu cũng gây hại trên ruộng lúa.
Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh Bình Thuận, diện tích lúa Đông
Xuân 2011 – 2012, toàn tỉnh nhiễm rầy khoảng 17.905 lượt ha. Mật số rầy nâu
phổ biến từ 1500 – 2000 con/m
2
tại các vùng lúa huyện Hàm Thuận Bắc, Bắc
4
Bình, Tánh Linh, Đức Linh,… và liên tục từ giai đoạn đẻ nhánh đến giai đoạn trổ
chín. Cá biệt có vùng mật số rầy lên đến trên 10.000 con/m
lạm dụng thuốc hóa học, không tuân thủ nguyên tắc 4 đúng, gây ra hiện tượng
bộc phát rầy nâu. Báo cáo mới đây của Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT) cho
thấy trung bình mỗi năm nước ta sử dụng 15.000 - 25.000 tấn thuốc BVTV. Gần
100% diện tích đất canh tác nông nghiệp đều có sử dụng thuốc BVTV áp dụng
cho tất cả các loại cây trồng. Ước tính hiện có trên 1.000 chủng loại thuốc
BVTV có độc tính cao đang được sử dụng trên đồng ruộng. Việc sử dụng thuốc
hoá học nếu không hợp lí sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, môi trường
sống, hệ sinh thái,…
Trong khi đó, chế phẩm Ometar (từ nấm xanh Metarhizium anisopliae) có
tác dụng diệt trừ rầy nâu và duy trì được hiệu quả trong suốt vụ lúa với chỉ một
5
đến hai lần phun và có chi phí thấp. Hơn nữa, chế phẩm này có nguồn gốc sinh
học nên không gây ảnh hưởng tới thiên địch của sâu hại, hệ sinh thái, không gây
hại cho người và môi trường.
Chế phẩm này là kết quả nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Lộc – Viện Lúa
Đồng bằng Sông Cửu Long đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
công nhận là tiến bộ kỹ thuật, đoạt giải thưởng hội thi sáng tạo kỹ thuật 2003,
giải thưởng Bông lúa vàng Việt Nam 2002 và đã áp dụng rộng rãi để trừ sâu, rầy
hại lúa tại Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long,…
cho hiệu quả cao. Đặc biệt, với quy trình sản xuất nhanh chế phẩm nấm xanh ở
quy mô nông hộ của Viện Lúa ĐBSCL, nông dân có thể tự sản xuất chế phẩm
này để phun xịt trên đồng ruộng của mình.
Do đó, để góp phần hướng đến một nền sản xuất nông nghiệp mang tính
bền vững và giảm chi phí sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân,
Tỉnh ta có thể tự sản xuất chế phẩm để chủ động được nguồn cung cho nông dân,
Trung tâm Thông tin và Ứng dụng Tiến bộ KHCN Bình Thuận đã thực hiện đề
tài “Tiếp nhận công nghệ và xây dựng mô hình sản xuất chế phẩm sinh học
Ometar phòng trừ rầy nâu trên lúa tại nông hộ tỉnh Bình Thuận”.
1. 2. Mục tiêu và nội dung thực hiện
- Theo dõi, đánh giá mô hình trong 3 vụ lúa.
- Hội thảo đầu bờ
Nội dung 5: Tổng kết, nghiệm thu đề tài.
1.3. Các nguồn vốn đã huy động
Tổng kinh phí: 750,000,000 đồng. Trong đó:
- Từ Ngân sách sự nghiệp khoa học: 540,000,000 đồng
- Dân đóng góp : 210,000,000 đồng.
1.4. Thời gian thực hiện
Theo Hợp đồng số 03/2011/SKHCN-HĐ/ĐT ngày 24 tháng 08 năm 2011
giữa Sở Khoa học & Công nghệ Bình Thuận và Trung tâm Thông tin & Ứng
7
dụng Tiến bộ Khoa học Công nghệ Bình Thuận, thời gian thực hiện đề tài là 24
tháng, bắt đầu từ tháng 08/2011 đến tháng 07/2013.
1.5. Hướng tiếp cận của đề tài
Trung tâm tiếp nhận công nghệ sản xuất chế phẩm từ giống cấp 2 (giống
sản xuất), kỹ thuật bảo quản chế phẩm, kỹ thuật sử dụng chế phẩm và phương
pháp đánh giá hiệu quả của chế phẩm từ Viện Lúa ĐBSCL.
Sau khi được đào tạo, các cán bộ của Trung tâm sẽ tiến hành sản xuất chế
phẩm tại Trung tâm. Khi sản xuất chế phẩm thành công (lấy mẫu để kiểm tra
đánh giá chất lượng), các cán bộ của Trung tâm sẽ tập huấn, hướng dẫn cho các
cán bộ địa phương và nông dân kỹ thuật sản xuất nhanh chế phẩm nấm xanh tại
các HTX tham gia đề tài.
Tại các mô hình, chế phẩm nấm xanh được sử dụng để thay thế thuốc hóa
học trong phòng trừ rầy nâu. Đối với các sâu bệnh hại khác vẫn áp dụng theo tập
quán canh tác của địa phương là sử dụng thuốc hoá học. Mức độ tác động và tần
suất tác động lên 2 đối tượng mô hình và đối chứng là như nhau.
Thông qua việc xây dựng mô hình “Ứng dụng chế phẩm nấm xanh Ometar
phòng trừ rầy nâu hại lúa” tại 2 HTX thuộc huyện Hàm Thuận Bắc và Bắc Bình,
theo dõi, đánh giá mô hình trong 3 vụ lúa (theo dõi mật số rầy nâu, sâu cuốn lá
dụng nấm này để chống bọ đầu dài hại củ cải đường. Đến những năm 80, 90 của
thế kỷ này nấm Metarhizium và những chế phẩm sản xuất từ loài nấm này được
nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới để phòng trừ sâu đục thân ở
Tasmania, chống loài mối, Nasutitermes exitiousus (Hill) ở Đức, các loài mối
thuộc chi Coptotermes ở Úc [2]. Từ những năm 80 của thế kỷ 20, trên thế giới,
nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm sinh học từ vi nấm
M. anisopliae mang tên thương mại Metaquino để phòng trừ muỗi sốt rét
Lubilosa, phòng trừ châu chấu, Schistocerra gregaria.
Ấu trùng kiến vương một sừng, Oryctes rhinoceros bị nhiễm tự nhiên bởi
nấm xanh và nấm này được xem là một nhân tố gây chết tự nhiên quan trọng của
9
kiến vương [37]. Nhiều nghiên cứu đã áp dụng bào tử nấm xanh phòng trừ bọ
cánh cứng và sử dụng nấm này trong chương trình IPM cùng với baculovirus
[90]. Nấm xanh có tên thương mại là Bio – Path
được sử dụng để phòng trừ
mối tại Mỹ [56]. Ở Brazil, tỉ lệ mối chết cao (gần 100%) khi quan sát 19 của 20
tổ mối được xử lý với nấm xanh và tổ còn lại có tỉ lệ chết là 70% [25]. Ở Úc, bào
tử nấm xanh được phun trên các gò và tổ mối đã cho tỉ lệ chết đáng kể. Sản
phẩm thương mại của nấm xanh là BioGreen
gần đây được khuyến cáo sử dụng
trừ bọ hung đầu đỏ, Adoryphorus couloni ở Úc [81].
Nấm xanh, Metarhizium anisopliae đã được sử dụng để phòng trừ rầy nâu,
bọ xít đen hại lúa ở Triều Tiên và Phi Luật Tân. Trong những năm qua
Metarhizium anisopliae đã được chú trọng nghiên cứu và sử dụng trong việc
phòng trừ nhiều loại sâu hại, bao gồm các loại sâu hại bông, khoai tây, lúa mì,
đậu và ngô ở Mỹ. Ở châu Á, các công trình nghiên cứu và sử dụng nấm diệt côn
trùng nhiều ở Nhật Bản, Triều Tiên, Phi Luật Tân, Ấn Độ, Đài Loan [23], [24],
chế từ nấm xanh, Metarhizium anisopliae trừ bọ cánh cứng hại dừa [20].
Trước năm 1995, các nghiên cứu về nấm ký sinh côn trùng còn rất hạn chế
và chưa được đưa ra ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt ở các
tỉnh phía Nam. Từ 1995 tới nay, Bộ môn Phòng trừ sinh học, Viện Lúa ĐBSCL đã
thu thập, phân lập, tạo thuần và nghiên cứu đặc tính sinh học của các loài, chủng
nấm ký sinh côn trùng thu thập được từ các tỉnh ở ĐBSCL nhằm tuyển chọn
những chủng nấm có tiềm năng trừ sâu hại cây trồng, đồng thời nghiên cứu và xây
dựng quy trình sản xuất chế phẩm vi nấm nhằm giảm thiểu lượng hóa chất BVTV
trong sản xuất nông nghiệp [9].
Tiểu khí hậu trong hệ sinh thái ruộng lúa tại ĐBSCL rất thuận lợi cho
bệnh nấm phát triển, cho nên tiềm năng phòng trừ sinh học của các loài nấm ký
sinh côn trùng trong việc quản lý sâu hại lúa cần được quan tâm. Từ năm 1995
tới 2002, Bộ môn Phòng trừ sinh học, Viện Lúa ĐBSCL đã thu thập, phân lập và
tuyển chọn được nhiều chủng nấm khác nhau của 2 loài nấm ký sinh
Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana trên côn trùng hại lúa. Qua nhiều
năm nghiên cứu và chọn lọc, Viện Lúa đã chọn ra 5 chủng nấm xanh có hiệu lực
rất cao đối với rầy nâu và bọ xít hại lúa. Trong số này thì chủng nấm xanh M.a
(OM
2
– B) có hoạt lực cao đối với sâu hại lúa, đã được tuyển chọn để sản xuất ra
chế phẩm nấm xanh [9].
11
Các kết quả thí nghiệm trong nhiều vụ ở nhà lưới, ngoài đồng và thực
nghiệm trên diện rộng cho thấy rằng chủng nấm xanh, M.a (OM
2
– B) có hiệu
lực rất cao đối với các loài rầy, bọ xít hại lúa và có hiệu lực tương đối cao đối
với sâu cuốn lá nhỏ hại lúa. Sau khi phun bảy ngày, hiệu lực diệt trừ các loài rầy
hại lúa đạt 73,5 - 91,5% và hiệu lực trừ bọ xít hại lúa là 73 - 88% (tùy theo điều
12
hình thực hiện trên diện rộng đã khẳng định chế phẩm vi nấm Ometar có hiệu
quả cao đối với rầy nâu, bọ xít hại lúa. Đặc biệt, Ometar không gây ảnh hưởng
tới thiên địch của sâu hại, hệ sinh thái, con người và môi trường [8]. Vì vậy, chế
phẩm vi nấm Ometar rất phù hợp với chương trình quản lý dịch hại tổng hợp
(IPM) trên cây lúa [9], [10], [63].
Để có số lượng lớn chế phẩm trừ sâu sinh học Ometar phục vụ cho công tác
phòng chống rầy nâu đồng bộ tại ĐBSCL Bộ môn Phòng trừ Sinh học, Viện Lúa
ĐBSCL đã nghiên cứu, cải tiến, hoàn thiện và đề xuất quy trình “Sản xuất nhanh
chế phẩm nấm xanh Ometar ở quy mô nông hộ”. Năm 2009 quy trình “Sản xuất
nhanh chế phẩm Ometar ở quy mô nông hộ” đã được chuyển giao cho bà con
nông dân của 2 huyện Mỹ Xuyên và Kế Sách tỉnh Sóc Trăng và nông dân của 6
xã thuộc 3 huyện Cầu Kè, Châu Thành và Trà Cú tỉnh Trà Vinh đại diện cho 3
tiểu vùng sinh thái: lúa cao sản, lúa - tôm và lúa mùa. Nông dân của 6 xã thuộc 3
huyện nói trên đã tự sản xuất được 1.564 gói chế phẩm nấm xanh Ometar (tỷ lệ
nhiễm tạp trung bình là 5,5%), số chế phẩm nấm xanh Ometar mà nông dân tự sản
xuất đã được sử dụng để phòng trừ rầy nâu cho 205 ha lúa trong các vụ lúa Hè
Thu, lúa mùa 2009 và vụ lúa Đông Xuân 2009-2010. Kết quả thực hiện mô hình ở
3 huyện cho thấy chế phẩm Ometar tươi có hiệu quả cao đối với rầy nâu (hiệu lực
đạt từ 73,2 - 85%). Do sự lây lan của các bào tử nấm nên hiệu lực của chế phẩm
nấm xanh Ometar đối với rầy nâu hại lúa khá bền lâu. Đối với lúa mùa, phun chế
phẩm nấm xanh Ometar có 1 lần trước khi lúa giáp tán để phòng trừ rầy nâu thì
hiệu lực kéo dài tới cuối vụ. Kết quả theo dõi biến động mật số thiên địch của sâu
hại lúa cho thấy rằng chế phẩm nấm xanh Ometar không ảnh hưởng tới mật số của
nhện bắt mồi ăn thịt, cũng như mật số của bọ xít mù xanh. Kết quả so sánh hiệu
quả kinh tế giữa các ruộng thực hiện theo mô hình “ứng dụng chế phẩm trừ sâu
sinh học Ometar tự sản xuất trừ rầy nâu hại lúa” và các ruộng đối chứng phòng
trừ rầy nâu bằng phun thuốc hóa học của nông dân cho thấy chi phí về giống,
phân bón, thuốc trừ cỏ và thuốc trừ bệnh của ruộng mô hình và ruộng đối chứng