!"#$#$%&'()
*+,-.
')/01/$2
Luật hành chính là ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành của
các cơ quan Nhà nước. Khái niệm “hoạt động chấp hành – điều hành” có thể
được hiểu với nội dung và phạm vi gần như các khái niệm “hoạt động hành
pháp”, “hoạt động hành chính nhà nước” hoặc “hoạt động quản lý nhà nước”; do
đó có thể nói ngành luật hành chính là ngành luật về quản lý nhà nước.
a. Đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính:
Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ xã hội phát
sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước, bao gồm ba nhóm quan hệ xã hội cơ bản
sau:
- Nhóm thứ nhất: Những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản
lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước, đây là bộ phận cơ bản trong
đối tượng điều chỉnh của ngành luật hành chính, gồm các quan hệ chủ yếu sau .
+ Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau (cơ quan
cấp trên và cơ quan cấp dưới theo hệ thống dọc, cơ quan có thẩm quyền chuyên
môn cấp trên với cơ quan có thẩm quyền chuyên môn cấp dưới; cơ quan có thẩm
quyền chung và cơ quan có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp, giữa các cơ quan
có thẩm quyền riêng cùng cấp)
Ví dụ: Quan hệ giữa Chính phủ với UBND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh
với UBND cấp huyện; quan hệ giữa Bộ giáo dục và đào tạo với Sở Giáo dục
Thành phố Hồ Chí Minh, Quan hệ giữa Bộ Công nghiệp với UBND cấp tỉnh;
quan hệ giữa Sở Giáo dục và Sở Y tế,
+ Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các cá nhân, tổ
chức thuộc phạm vi quản lý của nó (các đơn vị cơ sở trực thuộc, các đơn vị cơ
sở của trung ương hoặc của cấp trên đóng tại địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, công dân, người nước ngoài.
thông ngừng xe lại để kiểm tra giấy tờ; hay thủ trưởng UBND ra lệnh nhân viên
giải quyết khiếu nại của người dân; Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế giải trình về vụ
nước tương có chứa chất MDPC-3,
2
Lưu ý: trong một số trường hợp đặc biệt luật hành chính cũng sử dụng
phương pháp thoả thuận như trong trường hợp ban hành các quyết định liên tịch,
ký kết và thực hiện các hợp đồng hành chính; quan hệ giữa các bên tham gia các
quan hệ này là quan hệ bình đẳng; không có ai có quyền ra lệnh ép buộc bên kia
(ví dụ như: UBND ký kết Liên tịch với Trường 6 về tiếp nhận học viên nghiện
ma tuý của địa phương; UBND TPHCM ký với Công ty xây dựng để xây dựng
sửa chữa trụ sở làm việc của UBND ).
c. Một số nội dung cơ bản của Luật hành chính:
Địa vị pháp lý của các chủ thể Luật hành chính:
Đây là chế định pháp luật bao gồm các quy phạm quy định về chế độ
pháp lý của các chủ thể như: cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ - công chức,
tổ chức xã hội, đoàn thể, đơn vị kinh doanh, cơ quan sự nghiệp, công dân, người
nước ngoài, người không có quốc tịch trong lĩnh vực quản lý nhà nước. tuy
nhiên, những người này chỉ có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành
chính khi tồn tại quy phạm pháp luật hành chính tương ứng và xuất hiện sự kiện
pháp lý phù hợp đã được dự kiến trong phần giả định của quy phạm đó.
Ví dụ: Khi một người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật giao thông
thì người đó mới trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính với tư cách
là người vi phạm và sẽ bị người có thẩm quyền (là cảnh sát giao thông) xử lý
theo quy định của pháp luật về giao thông đường bộ.
+ Cơ quan hành chính, là chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật hành
chính, thực hiện các hoạt động chấp hành – điều hành bằng các hình thức và
phương pháp do pháp luật quy định. Luật hành chính quy định về trình tự thiết
lập, thay đổi tổ chức, bãi bỏ các cơ quan này; quy định thẩm quyền và cơ cấu
nội bộ, quy định vế chế độ hoạt động và những quan hệ công tác chủ yếu; quy
định chế độ thanh tra kiểm tra hoạt động; quy định hệ thống tổ chức và trình tự
Hình thức quản lý được phân loại thành hai nhóm căn cứ vào những
quan hệ của chúng với pháp luật: những hình thức pháp lý và những hình thức
không hay ít mang tính pháp lý.
+ Những hình thức pháp lý: là hình thức được pháp luật quy định cụ
thể và gắn liền với việc ban hành những quy phạm pháp luật và áp dụng pháp
luật, bao gồm:
▪ Hoạt động ban hành những quyết định quản lý chủ đạo (chứa
được những chủ trương, đường lối, những nhiệm vụ chung).
Ví dụ: Nghị quyết của Chính phủ về xây dựng chương trình phát triển
kinh tế - xã hội năm 2007.
4
▪ Hoạt động ban hành những văn bản quy phạm pháp luật.
Ví dụ: Nghị định của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông, văn hoá thông tin, quản lý hộ tịch, Quyết định của UBND
thành phố Hồ Chí Minh về ban hành khung giá đất trên địa bàn TPHCM,
▪ Hoạt động ban hành những quyết định cá biệt – cụ thể.
Ví dụ: Quyết định xử lý cán bộ công chức vi phạm kỷ luật, quyết định
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, quyết định
tiêu huỷ văn hoá phẩm đồi trụy, độc hại
Lưu ý: Khi thực hiện hoạt động ban hành các văn bản quản lý nhà
nước cần hết sức chú ý đảm bảo các yêu cầu đối với nội dung, hình thức và đối
với trình tự ban hành quyết định. Ví dụ: UBND thì không được ban hành văn
bản mang tên là Nghị định, Nghị quyết, không được ban hành những quy định
về xử lý vi phạm hành chính; Nghị quyết, Nghị định của một tập thể thì không
thể do một cá nhân hoặc một vài cá nhân thông qua dù đó là những người có
thẩm quyền nhất, v.v
+ Những hình thức ít hoặc không mang tính pháp lý, được thể hiện
dưới những hình thức sau:
▪ Những biện pháp tổ chức – xã hội trực tiếp: đó là những hoạt
động tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật, tổ chức thực hiện
đối tượng quản lý) nhằm đạt được những mục đích đề ra.
Căn cứ vào nội dung những phương pháp quản lý: Có hai loại phương
pháp chủ yếu là: phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế.
▪ Phương pháp thuyết phục: bao gồm những biện pháp như: giáo
dục chính trị tư tưởng, đạo đức; áp dụng những biện pháp khuyến khích về vật
chất, tinh thần; tuyên truyền vận động giải thích, hướng dẫn,v.v
Ví dụ: Quyết định khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc
trong công tác đấu tranh phòng ngừa tệ nạn xã hội; tuyên truyền sống và học
tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh
▪ Phương pháp cưỡng chế: bao gồm những biện pháp như: ban
hành những quy định mang tính bắt buộc, cấm; những quyết định cá biệt, cụ thể
mang tính bắt buộc; áp dụng các biện pháp xử phạt hoặc những biện pháp cưỡng
chế mang tính chất phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm.
Ví dụ: Quyết định tiêu huỷ gia cầm nghi ngờ nhiễm bệnh H5N1, quyết
định xử phạt vi phạm giao thông,
6
Căn cứ vào tính chất sự tác động, còn được phần thành hai loại rất quan
trọng, đó là: phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế:
▪ Phương pháp hành chính: là những biện pháp tác động một cách
trực tiếp tới đối tượng bị quản lý bằng cách trực tiếp quy định nghĩa vụ của đối
tượng bị quản lý dưới hình thức những mệnh lệnh mang tính quyền lực Nhà
nước. Đây là phương pháp đặc trưng không thể thiếu trong quản lý, bởi vì bản
chất của quản lý mang tính mệnh lệnh, tính quyền uy. Phương pháp này còn
được gọi là phương pháp mệnh lệnh hành chính, có thể được thể hiện dưới
dạng văn bản pháp luật chứa đựng những quy định có tính bắt buộc trực tiếp
hoặc những quy định cấm, những quyết định, chỉ thị, cá biệt trao nghĩa vụ cụ
thể, hoặc dưới hình thức những biện pháp tổ chức, điều hành trực tiếp.
▪ Phương pháp kinh tế: là những phương pháp tác động một cách
gián tiếp tới tập thể, cá nhân thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế như
chính sách giá cả, tín dụng, tiền lương, tiền thưởng, lãi suất ngân hàng, chính
Nhà nước và được tiến hành theo trình tự thủ tục hành chính. Chủ thể vi phạm
hành chính có thể là cá nhân, tổ chức, kể cả người nước ngoài, người không có
quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam.
• Trách nhiệm hành chính:
Đó là sự áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất
xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được quy định
trong những chế tài của quy phạm pháp luật hành chính bởi cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền đối với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành
chính.
Do đó, trách nhiệm hành chính thể hiện sự phản ứng tiêu cực của nhà
nước đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính, kết quả là chủ thể
thực hiện hành vi vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, bị
thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần so với tình trạng ban đầu.
Cơ sở của trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính.
* Các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính:
- Việc xử lý vi phạm hành chính do người có thẩm quyền tiến hành theo
đúng quy định của pháp luật.
- Chủ thể bị xử lý khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy
định.
8
- Mọi hành vi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải
đình chỉ ngay; việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng,
công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc
phục theo đúng quy định của pháp luật.
- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần; một người thực
hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.
Nhiều người cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm
đều bị xử phạt.
- Việc xử lý phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân của
người vi phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
dụng đối với các vi phạm có mức phạt từ 10.000 đến 200.000đồng); thủ tục xử
phạt phức tạp: lập biên bản vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt.
Mức phạt theo từng loại vi phạm, thấp nhất là 10.000 đồng và cao nhất là
500.000.000 đồng.
* Đối tượng chịu trách nhiệm hành chính:
- Các cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 tuổi cho đến dưới 16 tuổi
với lỗi cố ý.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế phải chịu trách nhiệm
về mọi hành vi vi phạm do cơ quan tổ chức gây ra.
- Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt
Nam.
=)/01>?@
Khái niệm: Ngành luật dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống
pháp luật Việt Nam, điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá –
tiền tệ và các quan hệ nhân thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể
tham gia vào quan hệ đó. Đây là ngành luật xuất hiện rất sớm và có vị trí quan
trọng nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia.
a/ Đối tượng điều chỉnh:
- Đối tượng điều chỉnh của ngành luật dân sự là các quan hệ tài sản và
quan hệ nhân thân phi tài sản phát sinh trong giao dịch dân sự nhằm thoả mãn
nhu cầu của các chủ thể trong xã hội.
+ Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua tài sản được
biểu hiện dưới những dạng khác nhau.
10
Tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản.
Tuy nhiên ngành luật dân sự không điều chỉnh tất cả các quan hệ tài sản
mà chỉ điều chỉnh các quan hệ như:
-> Các quan hệ tài sản liên quan đến quyền sở hữu thông qua việc
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản.
-> Các quan hệ tài sản có tính chất đền bù ngang giá trong trao đổi tài
cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với ý chí của Nhà
nước.
Ngành luật dân sự sử dụng phương pháp tự do thương lượng thoả
thuận giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự nhưng không được xâm phạm đến
lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của hợp pháp của
người khác.
Những biện pháp, cách thức mà nhà nước tác động lên các quan hệ dân
sự có những đặc điểm sau:
+ Bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chủ thể (các bên)
tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Không có sự phân biệt về địa vị xã hội, tình
trạng kinh tế
+ Bảo đảm quyền tự định đoạt của các chủ thể; thể hiện các chủ thể tự
quyết định tham gia hay không tham gia quan hệ pháp luật dân sự, tự thoả thuận
với nhau mà không bị ép buộc của bất kỳ ai, kể cả nhà nước; nội dung của mối
quan hệ thể hiện sự tự nguyện nhất trí của các bên.
+ Các bên phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý dân sự với nhau do hành
vi gây thiệt hại cho người khác nếu có đủ điều kiện luật quy định về bồi thường
thiệt hại.
c/ Quan hệ pháp luật dân sự:
* Khái niệm: Quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ tài sản và quan
hệ nhân thân xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật dân sự.
Các quy phạm pháp luật dân sự quy định cho các bên tham gia quan hệ xã
hội đó có thể hoặc cần phải thực hiện những hành vi nhất định phù hợp với lợi
ích của Nhà nước; quy định cho các chủ thể tham gia những quyền và nghĩa vụ
pháp lý cũng như trách nhiệm dân sự nếu không thực hiện các quyền và nghĩa
vụ đó hoặc có hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bên kia. Nhưng
các quyền và nghĩa vụ pháp lý chỉ xuất hiện khi có những sự kiện, pháp lý mà
quy phạm pháp luật dân sự đã dự liệu.
Ngoài những đặc điểm của quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ pháp
luật dân sự còn có những đặc điểm riêng như sau:
đồng mua bán, bồi thường thiệt hại, chuyển giao tài sản…
• Kiềm chế không thực hiện những hành vi nhất định khi những
hành vi này xâm phạm đến lợi ích của bên kia; ví dụ như: không xâm phạm, cản
trở chủ sở hữu thực hiện quyền sở hữu của họ, không thay đổi cấu trúc ngôi nhà
khi thuê nhà
• Phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện các xử
sự nhất định nói trên.
d/ Một số chế định cơ bản:
* Chế định quyền sở hữu:
13
- Sở hữu là một quan hệ xã hội biểu hiện ở việc nắm giữ, sử dụng, định
đoạt những của cải vật chất thông qua quan hệ của chủ sở hữu đối với người
khác.
- Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý gồm tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh những quan hệ về sở hữu đối với các lợi ích vật chất trong
xã hội. Hay nói cách khác, quyền sở hữu là chế định trung tâm của ngành luật
dân sự, tổng hợp các QPPL điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh
vực chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản.
Chế định quyền sở hữu là chế định trung tâm, quan trọng nhất không
những chỉ riêng luật dân sự mà còn cho cả hệ thống pháp luật. Đây là một nhóm
các quy phạm pháp luật xác nhận các hình thức sở hữu ở nước ta như: sở hữu
nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữa của các tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu tư
nhân và các loại sở hữu chung. Chế định này quy định về cách thức pháp sinh,
trình tự thực hiện và các phương pháp, hình thức nhằm bảo vệ quyền sở hữu.
- Đối tượng của quyền sở hựu là tài sản, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản.
- Nội dung quyền sở hữu: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
+ Quyền chiếm hữu: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Chủ sở hữu có
quyền kiểm soát, chi phối tài sản của mình mà không bị hạn chế.
dưới nước di chuyển tự nhiên mà người khác đã được xác lập quyền sở
hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định; tài sản mà người khác đã
được xác lập quyền sở hữu theo quy định của pháp luật;
+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
* Chế định nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự:
- Nghĩa vụ dân sự là việc mà một hoặc nhiều chủ thể (còn gọi là người
có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi
ích của một hay nhiều chủ thể khác (còn được gọi là người có quyền).
+ Đối tượng của nghĩa vụ dân sự là tài sản, công việc phải làm hoặc
công việc không được làm.
+ Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương,
được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, hành vi gây thiệt hại trái pháp
luật
Ví dụ: nghĩa vụ trả tiền thuê nhà trong hợp đồng thuê nhà, nghĩa vụ trả tiền mua
xe trong hợp đồng mua bán…
Hoặc nghĩa vụ chuyển giao nhà cho thuê sang cho bên thuê, nghĩa vụ giao xe…
+ Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự
. Hợp đồng dân sự;
. Hành vi pháp lý đơn phương;
. Thực hiện công việc không có uỷ quyền;
15
. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn
cứ pháp luật;
. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;
. Những căn cứ khác do pháp luật quy định.
+ Chấm dứt nghĩa vụ dân sự:
Nghĩa vụ đã hoàn thành, theo thoả thuận của các bên, bên có quyền
miễn việc thực hiện nghĩa vụ, nghĩa vụ được thay thế bởi một nghĩa vụ khác
hoặc trường hợp hai bên cùng có nghĩa vụ đối với nhau về một đối tượng cùng
loại thì nghĩa vụ dân sự sẽ chấm dứt.
gây thiệt hại có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại đó cho người có quyền. Luật
dân sự quy định điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại ngoài
hợp đồng, căn cứ miễn trách nhiệm dân sự, cách tính và ấn định mức bồi
thường
* Chế định quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ
Chế định này bao gồm các quy phạm pháp luật về quyền tác giả với
tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, về quyền sở hữu công nghiệp và chuyển
giao công nghệ
- Quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân phi tài sản và quyền
tài sản của tác giả. Tác giả là người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa
học.
Quyền tác giả phát sinh kể từ ngày tác phẩm được sáng tạo và được
thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định.
Toà án là cơ quan giải quyết các tranh chấp phát sinh về quyền tác giả.
- Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu đối với các đối bao gồm
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật
kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa.
Quyền đối với giống cây trồng là quyền sở hữu đối với các đối tượng
là vật liệu nhân giống và giống cây trồng.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, quyền đối với giống cây trồng, bao gồm
quyền nhân thân và quyền tài sản.
-> Quyền nhân thân bao gồm quyền được đứng tên tác giả trong
văn bằng bảo hộ do Nhà nước cấp, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây
trồng đó.
-> Quyền tài sản bao gồm quyền sử dụng, cho phép hoặc cấm
người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích
hợp bán dẫn, giống cây trồng đó.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
những người thừa kế theo quy định của pháp luật; hình thức thừa kế này phát
sinh do người chết không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc vì một số
lý do khác theo quy định của pháp luật.
Việc nhận thừa kế được phân định theo hàng thừa kế:
+ Hàng thừa kế thứ nhất: vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết;
+ Hàng thừa kế thứ hai: ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột
của người chết;
18
+ Hàng thừa kế thứ ba: cụ nội, cụ ngoại, bác, chú, cô, dì, cậu , cháu
ruột của người chết.
Những người thuộc hàng thừa kế được hưởng phần di sản ngang
nhau, những người thừa kế ở hàng tiếp theo chỉ được hưởng thừa kế khi không
còn ai thuộc hàng thừa kế trước,
Pháp luật dân sự còn quy định về thừa kế thế vị. Trong trường hợp
con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại
di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng
nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để
lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng
nếu còn sống.
* A?BCDE9FCDF?GH
Trong chế định này ghi nhận những căn cứ xác lập quyền sử dụng đất,
các hình thức chuyển quyền sử dụng đất, nguyên tắc chuyển quyền sử dụng đất
và các điều kiện, trình tự để thực hiện các quyền chuyển đổi, cho thuê, thế chấp,
thừa kế quyền sử dụng đất.
I)/010#A
Khái niệm: Luật lao động là tổng hợp những quy tắc và quy phạm pháp
luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động với người sử
dụng lao động; giữa người lao động, người sử dụng lao động với các cơ quan
chức năng của nhà nước về lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp
dụng lao động đối với người lao động. Nhìn chung, phương pháp mệnh lệnh
trong luật lao động được sử dụng mềm dẻo hơn trong luật hành chính.
- Sự tham gia của công đoàn vào việc điều chỉnh những quan hệ là đối
tượng của luật lao động là phương pháp đặc thù của ngành luật này. Tùy theo
từng lĩnh vực hoạt động, từng cấp công đoàn mà có sự tham gia tác động của
công đoàn là rất lớn, bao gồm cả việc sáng tạo các quy phạm pháp luật đến việc
áp dụng các quy phạm này. Đây là sự thể hiện sự coi trọng của Nhà nước đối với
công đoàn, tổ chức đại diện cho tập thể những người lao động trong quan hệ lao
động.
c/ Các nguyên tắc cơ bản của Luật lao động:
- Nguyên tắc tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp; không bị phân biệt
đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo.
- Nguyên tắc trả lương trên cơ sở sự thỏa thuận và theo năng suất, chất
lượng, hiệu quả công việc nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do
nhà nước quy định.
- Nguyên tắc thực hiện bảo hộ lao động toàn diện và bảo đảm an toàn, vệ
sinh lao động.
- Nguyên tắc được nghỉ ngơi tái tạo sức lao động theo chế độ có hưởng
lương.
- Nguyên tắc được hưởng bảo hiểm xã hội, phúc lợi xã hội và các quyền
lợi khác.
20
- Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do liên kết và lập hội của người lao động
và người sử dụng lao động.
- Nguyên tắc tuân thủ nghiêm chỉnh hợp đồng lao động, thỏa ước lao
động tập thể, kỷ luật lao động và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp
luật lao động.
d/ Các chế định cơ bản của ngành luật lao động:
3Việc làm và học nghề:
Những quy phạm về việc làm và học nghề hợp thành một chế định quan
Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu như: công việc phải
làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, điều
kiện về an toàn và vệ sinh lao động, thời hạn hợp đồng, bảo hiểm xã hội. Nội
dung của hợp đồng không được trái với những quy định của pháp luật lao động.
Ngoài ra, pháp luật lao động cũng quy định những trường hợp thay đổi
nội dung hợp đồng, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng
3 Thoả ước lao động tập thể:
- Định nghĩa: Thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập
thể người lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử
dụng lao động, quyền lợi và nghĩa của hai bên trong quan hệ lao động.
- Thoả ước tập thể do đại diện của tập thể lao động và người sử dụng lao
động thương lượng và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và công
khai. Nội dung của thoả ước tập thể không được trái với các quy định của pháp
luật lao động và pháp luật khác. Nhà nước khuyến khích việc ký kết thoả ước
lao động tập thể với những quy định có lợi hơn cho người lao động so với quy
định của pháp luật lao động.
Thoả ước lao động có ý nghĩa bổ sung, nâng cao hợp đồng lao động cá
nhân, tạo điều kiện cho người lao động được hưởng những điều kiện lao động
tốt hơn những gì pháp luật quy định. Đồng thời có ý nghĩa tăng cường trách
nhiệm của cả hai bên, điều hoà mâu thuẫn, ngăn ngừa tranh chấp trong quan hệ
lao động.
Thoả ước tập thể được quy định chủ yếu ở Chương V BLLĐ, Nghị định
196/CP ngày 31/12/1996 của Chính phủ, Nghị định 93/2002/NĐ-CP quy định
những vấn đề như: các bên trong thoả ước, nội dung thoả ước, thủ tục thương
lượng, ký kết và đăng ký thoả ước, hiệu lực của thoả ước.
3 Tiền lương
- Định nghĩa: Tiền lương được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động
trả cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc theo hợp đồng lao động
phù hợp với các quy định của pháp luật.
- Tiền lương là một chế định quan trọng của ngành luật lao động được
Hùng Vương (10/3 âm lịch); ngày Chiến thắng (30/4); ngày Quốc tế lao động
(1/5); ngày Quốc khánh (2/9). Nếu những ngày Lễ này trùng vào ngày nghỉ hàng
tuần thì được nghỉ bù vào ngày tiếp theo.
3*J010#A9/KL$56 91$H
- Định nghĩa: Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời
gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiện trong nội quy lao
động.
Nội quy lao động không được trái với pháp luật lao động và pháp luật
khác. Doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nội quy lao
động bằng văn bản.
23
+ Người vi phạm kỷ luật lao động, tùy theo mức độ phạm lỗi, bị xử lý
theo một trong những hình thức sau đây:
a) Khiển trách;
b) Chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời
hạn tối đa là sáu tháng;
c) Sa thải.
+ Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một
hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
+ Thời hiệu để xử lý vi phạm kỷ luật lao động tối đa là ba tháng kể từ
ngày xảy ra vi phạm, trường hợp đặc biệt cũng không được quá sáu tháng.
+ Khi xem xét xử lý kỷ luật lao động phải có mặt đương sự và phải có sự
tham gia của đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp.
+ Việc xem xét xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản.
- Định nghĩa trách nhiệm vật chất: là hậu quả vật chất bất lợi mà người
lao động phải gánh chịu, tức là phải bồi thường những thiệt hại về tài sản do vi
phạm kỷ luật lao động hoặc do sơ suất khi làm việc gây ra.
Việc xem xét, quyết định bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm vật chất
do người lao động làm hư hỏng hoặc làm mất dụng cụ, thiết bị và các tài sản
khác của đơn vị, phải căn cứ vào lỗi và mức độ thiệt hại thực tế. Không phải bồi
Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp về việc thực hiện các
quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã
được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận
hợp pháp khác ở doanh nghiệp mà tập thể lao động cho rằng người sử dụng lao
động vi phạm.
Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp về việc tập thể lao
động yêu cầuxác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật
lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở
doanh nghiệp trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử
dụng lao động.
- Những nguyên tắc giải quyết các tranh chấp lao động:
1. Thương lượng trực tiếp, tự dàn xếp và tự quyết định của hai bên tranh
chấp tại nơi phát sinh tranh chấp;
2. Thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của
hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và tuân theo pháp luật;
3. Giải quyết công khai, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp
luật;
4. Có sự tham gia của đại diện người lao độngvà đại diện người sử dụng
lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp
- Thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động:
25