Biện pháp quản lý chống thất thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ - Pdf 24



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH LÊ MẠNH HÙNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHỐNG THẤT THU
BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Trọng Xuân
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng,
đã công bố theo đúng quy định. Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi
tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực
tiễn của Việt Nam. Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ
nghiên cứu nào khác.

Tác giả
Lê Mạnh Hùng


Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 4

1.1. Tóm lược lịch sử hình thành và phát triển của ngành BHXH 4

1.2. Một số khái niệm 5

1.2.1. Khái niệm bảo hiểm 5

1.2.2. Khái niệm bảo hiểm xã hội 6

1.2.3. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội 7

1.3. Phân biệt BHXH với Bảo hiểm thương mại 9

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới tổng thu BHXH 11

1.5. Một số vấn đề về thất thu BHXH 12

1.5.1. Yếu tố kinh tế làm thất thu BHXH 12

1.5.2. Yếu tố xã hội của tình trạng thất thu BHXH 12

1.5.3. Vấn đề đặt ra cho công tác thu BHXH 13


1.7.2.5. Trợ cấp tử tuất 22

Tiểu kết chương 1 22

Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1. Phương pháp nghiên cứu 23

2.1.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: 23

2.1.2. Phương pháp thu thập thông tin 24

2.1.2.1. Thu thập thông tin thứ cấp (đã công bố) 24

2.1.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp 24

2.1.3. Phương pháp tổng hợp thông tin 24
2.1.4. Phương pháp phân tích thông tin 25

2.2. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: 26

Chương 3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI
ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 27

3.1. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 27

3.1.1. Các điều kiện tự nhiên 27

3.1.1.1. Vị trí địa lý 27

3.2.3.2. Quy trình thực hiện thu BHXH 38

3.2.4. Những quy định về thu BHXH 39

3.3. Thực trạng công tác thu BHXH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 40

3.3.1. Thực trạng tham gia BHXH bắt buộc 40

3.3.2. Thực hiện mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH 42

3.3.3. Thực trạng thực hiện thu BHXH của BHXH tỉnh Phú Thọ 46

3.3.4. Tình hình nợ đọng BHXH ở BHXH tỉnh Phú Thọ 51

3.3.5. Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu BHXH giai đoạn vừa qua 55

3.3.5.1. Những mặt đã đạt được 55

3.3.5.2. Những mặt hạn chế 56

3.3.6. Kết quả nghiên cứu từ kiểm tra và khảo sát các doanh nghiệp 58

3.3.6.1. Kết quả từ việc kiểm tra các doanh nghiệp 58
3.3.6.2. Kết quả khảo sát tình hình tham gia BHXH 60

Tiểu kết chương 3. 65

Chương 4. CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG THẤT THU BHXH TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH PHÚ THỌ 66


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
BHXHTN : Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHYTTN : Bảo hiểm y tế tự nguyện
CTYTNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
CTYCP : Công ty cổ phần
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNCV ĐTNN : Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ĐĐT : Đảng, đoàn thể
ĐKKD : Đăng ký kinh doanh
HCSN : Hành chính, sự nghiệp
HKD : Hộ kinh doanh
HT&TC : Hưu trí và trợ cấp
ILO : Tổ chức lao động Thế giới
LĐ&TBXH : Lao động và Thương binh xã hội
LĐLĐ : Liên đoàn Lao động
NSNN : Ngân sách Nhà nước
NĐ : Nghị định
NN : Nhà nước
QĐ : Quyết định
SD : Sử dụng
TNLĐ - BNN : Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
TT : Thông tư
VN : Việt Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH 37

Đồ thị: 3.1: Kết quả thu BHXH thực hiện từ 2002 - 2011 của tỉnh Phú Thọ 47

Đồ thị 3.2: So sánh tỷ lệ DN ĐKKD và DN tham gia BHXH trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ 47

Đồ thị: 3.3: Số lao động tham gia BHXH từ 2002 - 2011 48

Đồ thị 3.4: Tình hình nợ giai đoạn 2008 – 2011 của BHXH tỉnh Phú Thọ 53

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước Việt Nam đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao
đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi
do như ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, bệnh nghề nghiệp hết tuổi lao động,
qua đời.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) không đơn thuần chỉ là tiền mà người lao
động và chủ doanh nghiệp đóng vào (như một khoản tiền gửi) để rồi thông
qua những chế độ, chính sách lại chính người lao động được hưởng khi cần
thiết mà BHXH là nền tảng làm cho người lao động an tâm làm việc, chủ doanh

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác quản lý thu
BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ (quỹ hưu trí, trợ cấp, quỹ khám chữa
bệnh, BHYT tự nguyện, BHXH tự nguyện, BH thất nghiệp không thuộc đối
tượng nghiên cứu của luận văn này) Nội dung cụ thể sẽ nghiên cứu đối với
các đối tượng trên bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến số thu BHXH, đối
tượng nộp BHXH, phương thức và mức đóng, quy trình tổ chức quản lý thu,
nguyên nhân các doanh nghiệp né tránh nộp BHXH và những đề xuất những
biện pháp chống thất thu.
Giới hạn của đề tài
Ngoài việc hệ thống những vấn đề cơ bản về công tác quản lý thu và cơ
chế thu BHXH ở tỉnh Phú Thọ. Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng tình hình
quản lý thu BHXH qua các giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011. Đồng thời
tham khảo kinh nghiệm ở một số Quốc gia, đề tài rút ra những mặt tích cực và
những mặt còn hạn chế của công tác quản lý thu BHXH, những vướng mắc vì
những chính sách, văn bản pháp luật hiện nay và đề xuất một số biện pháp
chống thất thu BHXH, tạo điều kiện khẳng định vai trò là động lực thúc đẩy
hoạt động thu BHXH, giúp tăng thu và tăng được nguồn thụ hưởng từ các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3

chính sách BHXH của người lao động. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến
lao động, mức đóng BHXH từ đó đưa ra các biện pháp tăng thu, không để thất
thoát, thiệt thòi cho người lao động.
4. Những đóng góp mới của Luận văn
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về BHXH luận văn sẽ cố gắng làm nổi
bật vai trò của BHXH đối với phát triển kinh tế, đảm bảo An sinh xã hội nói
chung đối với điều kiện của tỉnh Phú Thọ nói riêng.
- Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng luận văn sẽ chỉ ra các
nguyên nhân, thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức và các biện pháp đối với

nhau, và đòi giới chủ phải trợ cấp cho họ những lúc ốm đau, tai nạn, thai sản.
Những vấn đề này lúc đầu không được giải quyết, nhưng về sau do công nhân
đình công có tổ chức, cuối cùng giới chủ cũng phải nhượng bộ chấp nhận trợ
cấp. Vào thời kỳ này, giới chủ không lường trước được những rủi ro mà công
nhân có thể gặp phải nên khi cần trợ cấp, họ phải chi tiền quá lớn làm chính
họ gặp phải những khó khăn, nên họ tìm cách không trợ cấp, từ đó lại xảy ra
những cuộc đình công lớn. Trước tình hình trên, Nhà nước ở một số nước bắt
đầu can thiệp. Quốc gia có Nhà nước can thiệp đầu tiên là Đức, Chính phủ là
trung gian giữa chủ và thợ, tuỳ theo quy mô hoạt động mà quy định để khi
phát sinh nhu cầu cần trợ cấp thì tổ chức trung gian sẽ xem xét và chi trả. Từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

đó, BHXH ra đời, trong đó tổ chức trung gian tương đương với cơ quan
BHXH ngày nay, giới chủ là người sử dụng lao động và những người thợ là
người lao động.
Đạo luật BHXH đầu tiên trên thế giới tại Đức do Bismarck soạn thảo
và ban hành năm 1883. Đến năm 1885 Bismarck lại cho ra đời đạo luật tai
nạn lao động và đến năm 1888, ông tiếp tục ban hành chế độ hưu trí. Sau đó,
những nước khác cũng hình thành hệ thống BHXH như Áo, Tiệp Khắc
(1906), Newzealand (1909), Italia (1919), Liên Xô (1922), Mỹ (1953), hiện
nay hầu hết các nước đều có cơ quan BHXH, BHXH đã trở thành chính sách
xã hội của tất cả các nước, không những quỹ BHXH đảm bảo cuộc sống cho
người lao động và gia đình của họ lúc hoạn nạn, mà còn góp phần bảo đảm an
toàn xã hội và phát triển kinh tế, ổn định chính trị. Lúc đầu chỉ có giới chủ
đóng góp, về sau, BHXH phát triển hơn, người ta quy định luôn cả sự đóng
góp của người lao động, điều này có ý nghĩa tiết kiệm cũng như ý nghĩa đề
phòng rủi ro cho chính bản thân người lao động. Nguyên tắc hoạt động của
BHXH là lấy số đông bù số ít và theo thời gian tích dồn lại để lập quỹ.
1.2. Một số khái niệm

1.2.2. Khái niệm bảo hiểm xã hội
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì:
"Bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử
dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, của người sử dụng lao động và
được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ giúp vật chất cho người được
bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình
thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp,
hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết"
Theo điều 3 Luật BHXH hiện hành, BHXH là sự bảo đảm thay thế
hoặc bù đáp một phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào
quỹ BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết, trên cơ sở đóng
vào quỹ BHXH.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình BHXH mà người lao động và
người sử dụng lao động phải tham gia.
Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung hai khái niệm này đều
thể hiện rõ bản chất và đặc trưng cần có của BHXH. Cụ thể, đã nêu bật được:
- BHXH là những quy định của nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho
người lao động.
- Người lao động được trợ giúp vật chất trong trường hợp ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết.
- Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp để bảo đảm quyền lợi
cho chính họ.
Như vậy, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ
bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, hết tuổi lao động, chết và thất nghiệp do Nhà nước đứng ra tổ chức

Thứ ba: Cơ chế hoạt động của BHXH theo cơ chế 3 bên: cơ quan
BHXH - người sử dụng lao động - người lao động, cộng thêm cơ chế quản lý
nhà nước. BHXH bắt buộc do Nhà nước đứng ra làm, do vậy thực sự chưa có
thị trường BHXH ở Việt Nam. Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam
thể hiện độc quyền: cung BHXH do Nhà nước độc quyền cung, cầu thì bắt
buộc và mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ kém.

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ cơ bản về bảo hiểm xã hội Cơ quan BHXH

Người lao động Người SD lao động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9

Thứ tư: Thực hiện thống nhất việc quản lý Nhà nước về BHXH, thực
hiện nhiệm vụ thu, quản lý và chi trả các chế độ BHXH chặt chẽ, đúng đối
tượng và đúng thời hạn. Nguồn đóng góp của các bên tham gia được đưa vào
quỹ riêng, độc lập với ngân sách Nhà nước và quỹ BHXH được quản lý tập
trung, thống nhất và sử dụng theo nguyên tắc hạch toán cân đối thu - chi theo
quy định của pháp luật, bảo toàn và phát triển.
Thứ năm: Người lao động được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức
đóng và thời gian đóng BHXH, có chia sẻ rủi ro và thừa kế. Thông thường,

Lâu dài và tương đối ổn định,
tích dồn theo thời gian dự trên
quan hệ lao động.
Có thể dài hay ngắn tuỳ
theo loại bảo hiểm.
Nguồn quỹ
hình thành
Do người lao động và chủ doanh
nghiệp đóng góp
Phí đóng của người tham
gia
Tính chất hoạt
động
Mang tính xã hội cao, có hạch
toán nhưng không phải hạch toán
kinh doanh. Nguồn quỹ phải
được bảo tồn và phát triển nhằm
thoả mãn chi trả trợ cấp cho đối
tượng hưởng.
Hạch toán kinh doanh, lời
ăn lỗ chịu
Mục đích chi
Chi các chế độ BHXH, chi phí
quản lý và dự phòng, không phải
nộp thuế.
Chi cho bồi thường, chi để
ngăn ngừa tai nạn có thể
xảy ra, chi cho quản lý, dự
phòng, nộp thuế ngân sách.


ổn định này giúp doanh nghiệp mạnh dạn đề ra chiến lược phát triển kinh
doanh, mạnh dạn ký kết các hoạt động để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Quán triệt được tư tưởng đó, sẽ làm tăng sức cạnh tranh của
doanh nghiệp, do đó, số doanh nghiệp tham gia BHXH càng nhiều, thì số thu
BHXH sẽ càng cao. Có rất nhiều doanh nghiệp hiện nay né tránh, cố tình trì
hoãn tham gia trích nộp BHXH cho người lao động.
Thứ ba, Mối quan hệ giữa khả năng đóng góp và quyền lợi được
hưởng của người tham gia BHXH: nếu như tham gia BHXH bằng với thu
nhập thực tế của người lao động trong thời kỳ họ còn làm việc, như vậy,
mức thụ hưởng các chế độ sẽ cao, đảm bảo chi phí cho người lao động trong
lúc hoạn nạn, ốm đau, thai sản, chết. Mặt khác, khi về hưu, mức lương hưu
sẽ đảm bảo chi phí sinh hoạt cho họ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12

Thứ tư, Các chính sách, chế độ của Nhà nước về BHXH:
+ Yếu tố tổng thu BHXH cũng phụ thuộc vào các quy định của Nhà
nước. Nếu các quy định thích hợp, quản lý chặt chẽ và có các biện pháp chế
tài cụ thể và nghiêm khắc, sẽ làm cho cả doanh nghiệp và người lao động
không thể chậm nộp, trốn nộp.
+ Phương thức tính tiền đóng BHXH và mức thụ hưởng từ các chế độ,
chính sách thuộc BHXH đều phụ thuộc vào mức lương trích nộp BHXH. Chỉ
có một số ít lao động đóng BHXH với mức lương đúng với mức thực lĩnh.
Còn lại người sử dụng lao động (thuộc các Công ty TNHH, DNTN, Cổ phần
trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ các nước Châu Á như Hàn
Quốc, Đài Loan) thường đóng BHXH theo mức lương tối thiểu vùng theo
từng thời kỳ do Nhà nước quy định. Mức lương này so với thu nhập thực tế
của người lao động thì rất thấp.
+ Tỷ lệ trích nộp BHXH cũng là yếu tố quan trọng trong tổng số thu

lý đối tượng áp dụng bắt buộc phát sinh.
Với cách nhìn như trên, việc các doanh nghiệp trốn tránh đóng, nợ
BHXH của công nhân, người lao động là một vấn đề không thể giải quyết
“một sớm một chiều”. Do vây, cùng với những chế tài, biện pháp thanh tra,
kiểm tra sử lý nghiêm minh, mạnh mẽ hơn trước pháp luật, thì lâu dài, cung
với nhiều vấn để khác, vấn đề nợ BHXH cần được giải quyết căn bản và từ
“gốc” - tức là đạo đức và văn hoá doanh nghiệp. Có như vậy thì nền kinh tế
đất nước và BHXH nước nhà mới có thể phát triển bền vững.
1.5.4. Khả năng chống thất thu BHXH
Vấn đề chống thất thu BHXH ở Việt Nam hiện nay không còn là vấn
đề đơn giản, nó trở thành một vấn đề được quan tâm không chỉ riêng ngành
BHXH mà còn nhiều cơ quan khác. Rất nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
các bộ, ngành, cơ quan quan tâm chỉ đạo thực hiện. Thiết nghĩ nên nâng
cao hơn nữa mức sử phạt, có thể xem xét đến chế tài thu hồi giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư hoặc tương đương đối với
những chủ sử dụng lao động vi phạm pháp luật BHXH. Bởi xét cho cùng thì
một doanh nghiệp khi hoạt động mà không tôn trọng quyền lợi người lao
động, không có khả năng đóng các khoản BHXH cho người lao động theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14

quy định thì rõ ràng doanh nghiệp đó không có một chiến lược hoạt động lâu
dài. Do vậy, việc áp dụng chế tài này có vẻ phù hợp với người sử dụng lao
động cố tình vi phạm hay tái phạm nhiều lần.
1.6. Kinh nghiệm về quản lý chống thất thu BHXH của một số nước trên
Thế giới
1.6.1. Hoạt động quản lý thu BHXH ở Liên bang Mỹ
Mức đóng BHXH: được chia ngang bằng cho chủ sử dụng lao động và
người lao động, mỗi bên đóng 7,65% tiền lương của người lao động (trong đó
đóng cho BHYT là 1,45%). Khu vực nông nghiệp và phi Chính phủ thì người

tiền mặt thì Chính phủ có thể kiểm soát được. Việc thu BHXH sẽ do người
lao động tự kê khai và trích nộp trên cơ sở tự nguyện, tuy nhiên trên thực tế số
này rất ít. Người dân ý thức được quyền lợi của họ khi tham gia BHXH, nên
họ tự nguyện đóng vào quỹ BHXH.
1.6.2. Hoạt động quản lý thu BHXH ở Thái Lan:
Cho đến nay Thái Lan vẫn còn hai Luật An sinh Xã hội (tức BHXH)
đang cùng có hiệu lực. Một đạo Luật ban hành năm 1990 và một đạo Luật ban
hành năm 1994 (sửa đổi, bổ sung một số điều trong đạo Luật năm 1990 và
được gọi chính thức là Luật An sinh Xã hội lần 2).
Việc quy định người tham gia BHXH không thống nhất ở các chế độ,
cụ thể: đối với các chế độ trợ cấp mất khả năng lao động, hưu trí, tử tuất, ốm
đau và thai sản, những người bắt buộc phải tham gia là những người làm việc
trong các doanh nghiệp có 10 lao động trở lên, còn đối với chế độ tai nạn lao
động là những người làm việc trong các ngành công nghiệp hoặc các hãng
thương mại có từ 10 lao động trở lên, các ngành khác không bắt buộc. Tuổi
nghỉ hưu ở Thái Lan quy định chung cho cả nam và nữ đối với các viên chức
của Chính phủ từ Trung ương đến địa phương; với Quân đội, Cảnh sát là 60
tuổi; các đối tượng khác là 55 tuổi. Điểm đáng lưu ý ở đây là Luật An sinh xã
hội không áp dụng đối với các quan chức Chính phủ và các viên chức thường
xuyên, các viên chức tạm tuyển làm việc theo tháng. Các đối tượng này được
điều chỉnh bằng một đạo Luật khác, theo đó họ chỉ phải đóng 3% tiền lương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Thực trạng thực hiện thu BHXH của BHXH tỉnh Phỳ Thọ Đỏnh giỏ thực trạng cụng tỏc quản lý thu BHXH giai đoạn vừa qua Những mặt hạn chế Kết quả từ việc kiểm tra cỏc doanh nghiệp Quan điểm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status