ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TỐNG SỸ HOÀNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHÚ BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHÚ BÌNH Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS . ĐỖ QUANG QUÝ Thái Nguyên, năm 2012i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, có
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám
hiệu, Phòng QLĐT Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học
Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Đặc biệt xin chân trọng cảm ơn PGS.TS. Đỗ Quang Qúy với cương vị
hướng dẫn khoa học đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và đóng góp
nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cơ quan, gia đình,
bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 8 năm 2012
Tác giả
Tống Sỹ Hoàng
1.1. Cơ sở lý luận chung về Bảo hiểm Xã hội
4
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị
trường
4
1.1.2. Khái niệm về BHXH
5
1.1.3. Bản chất của bảo hiểm xã hội
7
1.1.4. Đối tượng Bảo hiểm xã hội
9
1.1.5. Chức năng của BHXH
10
1.1.6. Hệ thống các chế độ trong BHXH
11
1.1.7. Quỹ bảo hiểm xã hội
12
1.2. Quản lý thu BHXH
14
1.2.1. Mô hình quản lý thu BHXH ở một số nước trên thế giới
26
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 27
2.3.1 Mục tiêu, yêu cầu của hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
27
2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
28
2.3.2.1 Chỉ tiêu số thu BHXH
28
2.3.2.2 Chỉ tiêu số lượng lao động
2.3.2.3 Chỉ tiêu số nợ BHXH
2.3.2.4 Chỉ tiêu thời gian nợ BHXH
31
36
37
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH Ở
BHXH HUYỆN PHÚ BÌNH GIAI ĐOẠN 2009 - 2011
38
3.1. Giới thiệu chung về cơ quan BHXH huyện Phú Bình – Tỉnh Thái Nguyên 38
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Phú Bình ảnh hưởng
đến thu BHXH
50
3.3.3. Thực trạng công tác quản lý mức thu và quy trình quản lý thu BHXH ở
BHXH huyện Phú Bình
52
v
3.3.3.1. Quản lý mức thu và phương thức thu BHXH ở bảo hiểm xã hội
huyện Phú Bình
52
3.3.3.2. Quy trình quản lý thu BHXH ở bảo hiểm xã hội huyện Phú Bình
54
3.3.4. Thực trạng công tác tổ chức thu BHXH ở BHXH huyện Phú Bình 55
3.3.4.1. Phân cấp quản lý thu bảo hiểm xã hội
55
3.3.4.2 .Lập và xét duyệt kế hoạch thu bảo hiểm xã hội hàng năm
55
3.3.4.3 Quản lý tiền thu bảo hiểm xã hội
56
3.3.4.4. Thông tin báo cáo
56
4.2.1.3. Về nghiệp vụ thu, quản lý quỹ BHXH
69
4.2.1.4. Về cơ chế quản lý thu BHXH
78
4.2.1.5. Về cơ chế chính sách thực hiện công tác thu BHXH
79
4.2.1.6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với công tác thu
quỹ BHXH
79
4.2.1.7. Mở rộng đối tượng, hình thức tham gia BHXH
80
4.2.1.8. Tăng cường, đề cao vai trò, hiệu quả trong việc phối kết hợp của
các cơ quan quản lý Nhà nước
80
4.2.2. Đối với đơn vị sử dụng lao động
82
4.3. Các giải pháp khác 82
vi
4.4. Một số kiến nghị thực hiện giải pháp 83
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DNNQD
:Doanh nghiệp ngoài quốc doanh viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Tên bảng Trang
Bảng 3.1: Đối tượng tham gia BHXH, BHYT bắt buộc giai đoạn 2009 -
2011
39
B¶ng 3.2: Số tiền nợ đọng BHXH 45
Bảng 3.3: Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc giai đoạn 2006 - 2009 51
Bảng 3.4: Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc theo khối loại hình
giai đoạn 2009– 2011
54
Bảng 3.5: Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh giai đoạn 2009 - 2011
56
Sơ đồ 3.1: Hệ thống BHXH Việt Nam 34
Sơ đồ 3.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH huyện Phú
Bình
37
tham gia BHXH cho người lao động hoặc còn cố tình tìm mọi cách trốn đóng
BHXH mặt khác nợ đọng BHXH thời gian dài, thậm chí có những đơn vị sử
dụng lao động lạm dụng quỹ BHXH, lạm dụng tiền đóng BHXH của người 2
lao động để làm vốn sản xuất kinh doanh… Do đó đã ảnh hưởng không nhỏ
đến việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH cho người lao động nói chung
và việc thực hiện công tác quản lý thu BHXH nói riêng, làm ảnh hưởng đến
việc thu, nộp BHXH.
Để đảm bảo nguyên tắc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, đáp ứng được
những yêu cầu trong công tác quản lý thu BHXH nhằm nâng cao hiệu quả
công tác quản lý thu BHXH do vậy tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý thu BHXH trên địa bản huyện Phú Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Nghiên cức đánh giá thực trạng công tác quản lý thu tại BHXH huyện
Phú Bình, quan đó tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lý thu, góp phần đảm bảo nguồn thu của Quỹ BHXH.
* Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác quản lý
thu Bảo hiểm xã hội.
Phân tích thực trạng quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Phú Bình giai
đoạn 2009 - 2011.
Đánh giá các tác động, xác định nguyên nhân của những nhân tố tác
động tới công tác quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Phú Bình.
Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lý thu BHXH ở BHXH huyện Phú Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
huyện Phú Bình.
Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH trên địa bàn
huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên.
4
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Cơ sở lý luận chung về Bảo hiểm Xã hội
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường
Trong quá trình sinh tồn và trưởng thành, mỗi con người phải lao động
để làm ra của cải vật chất, nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn,
ở, mặc, sinh hoạt… Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng
gặp may mắn, thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình
thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, trắc trở, rủi ro xảy ra do
điều kiện tự nhiên, môi trường sống, hoặc điều kiện khách quan như: Môi
trường, ốm đau, tai nạn, mất việc làm, già yếu, không có khả năng lao động,
tử vong…
Vì vậy, từ xa xưa, con người đã có ý thức san sẻ, cưu mang đùm bọc lẫn
nhau, trong cộng đồng làng, xóm, thôn, bản… theo tinh thần tương thân
tương ái. “Nhường cơm sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”. Sự tương trợ cộng đồng
dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như việc
lập quỹ tương tế, các hội đoàn bằng tiền hoặc bằng hiện vật để trợ giúp lẫn
sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết
khi tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu không thể thiếu của
người lao động và là nhu cầu tất yếu khách quan.
1.1.2. Khái niệm về BHXH
Bảo hiểm và BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã
hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập và nghiên cứu một cách
sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. BHXH đã xuất hiện và
phát triển theo cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên
bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ BHXH ốm đau vào
năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH. Đến nay, hầu hết các nước trên thế
giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách 6
xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Mặc
dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều
khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất. Bởi lẽ BHXH là đối
tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội,
pháp lý…
Theo từ điển Bách khoa: “BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp
một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp,
tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia BHXH, có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo,
an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm
bảo an toàn xã hội”.
Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về
BHXH như sau: “BHXH là sự bảo về xã hội cung cấp cho các thành viên của
hội. Với tư cách là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, nhà nước phải
can thiệp và tổ chức mối quan hệ thuê mướn lao động giữa chủ và thợ. Yêu
cầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều kiện làm việc và nhu
cầu đời sống vật chất, tinh thần cho giới thợ, trong đó có nhu cầu về tiền
lương, về chăm sóc y tế, về chăm sóc khi bị ốm đau, tai nạn, trả lương khi
người lao động đến tuổi hưu… Đồng thời bản thân người lao động cũng phải
có trách nhiệm giành một khoản thu nhập chi trả cho bản thân mình khi có
những rủi ro xảy ra. Mặt khác, Nhà nước được coi như là một người chủ sử
dụng lao động của mọi người lao động, vì vậy người lao động không đủ để
trang trải cho những khoản chi cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro thì
Nhà nước phải có trách nhiệm trích một phần ngân sách để bảo đảm đời sống
cơ bản cho người lao động.
BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng
tham gia và được hưởng BHXH. Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách
BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt
động sự nghiệp BHXH. Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng 8
góp để hình thành quỹ BHXH. Người lao động (bên được BHXH) và gia đình
của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế
độ BHXH quy định. Đó là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH.
Phân phối trong BHXH là phân phối không đều, nghĩa là không phải ai
tham gia BHXH cũng được phân phối với số tiền giống nhau. Phân phối trong
BHXH vừa mang tính bồi hoàn, vừa không mang tính bồi hoàn. Những biến
cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người là thai sản (đối với lao động
nữ) tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH phân phối mang tính bồi
hoàn vì người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó,
còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc
Thứ hai, quỹ bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của
những bên tham gia bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm phải được tính toán cân đối thu -
chi một cách khoa học dựa trên quy luật số lớn để xác định mức đóng góp của
đối tượng tham gia và mức hưởng thụ do quỹ phải chi trả; sao cho quỹ bảo
hiểm phải được ổn định, vững chắc trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn phải đảm
bảo đủ nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ các khoản bồi thường
trợ cấp cho đối tượng được thụ hưởng.
Thứ ba, quỹ bảo hiểm được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính
và luật pháp của nhà nước quy định. Quỹ bảo hiểm tạm thời nhàn rỗi
được thực hiện các hoạt động đầu tư vừa góp phần cung cấp nguồn vốn để
phát triển nền kinh tế - xã hội; vừa để bảo đảm toàn và tăng trưởng quỹ. Khi
thực hiện hoạt động đầu tư quỹ phải đảm bảo an toàn; hạn chế rủi ro, thất
thoát quỹ đến mức thâp nhất, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo khả
năng thanh toán linh hoạt.
1.1.4. Đối tượng Bảo hiểm xã hội
BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi
do người lao động bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động, bị mất việc làm vì
các nguyên nhân rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, già yếu… Chính vì vậy
đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm 10
hoặc bị mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của
những người tham gia BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động.
Tuy vậy, tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối
tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó.
Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH
đối với các viên chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương. Việt
BHXH gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động,
giữa người lao động với xã hội, giải quyết được mâu thuẫn giữa giới chủ và
giới thợ, đồng thời làm cho họ gắn bó và hiểu nhau hơn. Đối với Nhà nước và
xã hội, chi cho BHXH là cách thức chi ít nhất và có hiệu quả nhất, giải quyết
được khó khăn về đời sống cho người lao động.
1.1.6. Hệ thống các chế độ trong BHXH
Hệ thống các chế độ trong BHXH là những quy định cụ thể về điều kiện
mức trợ cấp, thời gian trợ cấp, mức đóng góp và mức hưởng BHXH. Hệ
thống này được xây dựng trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và cơ
sở pháp lý của mỗi nước. Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) có khuyến cáo
BHXH gồm 9 chế độ.
(1) Chế độ chăm sóc y tế.
(2) Chế độ trợ cấp ốm đau.
(3) Chế độ trợ cấp thất nghiệp.
(4) Chế độ trợ cấp tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp.
(5) Chế độ trợ cấp tuổi già.
(6) Chế độ trợ cấp gia đình.
(7) Chế độ trợ cấp thai sản.
(8) Chế độ trợ cấp khi tàn phế.
(9) Chế độ trợ cấp cho những người còn sống.
Tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi nước mà có thể thực hiện các chế độ
khác nhau. Nhưng nhất thiết phải thực hiện được ba chế độ trong đó có các
chế độ (3, 4, 5, 8, 9). ở nước ta mới thực hiện được 5 chế độ (2, 4, 5, 7, 9) và 12
từ năm 2010 thực hiện thêm chế độ (3) do đó đã góp phần đảm bảo được
quyền lợi cho những người lao động làm công ăn lương.
1.1.7. Quỹ bảo hiểm xã hội
- Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH. Nó
là khâu tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhà nước và tài chính doanh
nghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia.
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế - xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhất
định của đất nước. Kinh tế - xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực
hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thỏa mãn về BHXH đối với người lao
động càng được nâng cao. Đồng thời kinh tế - xã hội phát triển, người lao động
và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập cao hơn, dó đó họ càng có điều kiện
tham gia và đóng góp BHXH…
Nguồn hình thành quỹ BHXH:
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động góng góp.
- Người lao động đóng góp.
- Nhà nước đóng góp và hỗ trợ thêm.
- Các nguồn khác (Như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu
tư phần quỹ nhàn rỗi).
Trong nền kinh tế hàng hóa, trách nhiệm tham gia đóng BHXH cho
người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao
động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro,
mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một
phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra
một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê
mướn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo
được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ. Về phía người lao động, sự đóng
góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi 14
Những vấn đề liên quan đến trợ cấp thai sản và ốm đau tại Hoa kỳ đối
với người lao động( hoặc người lao động và người sử dụng lao động) được
các công ty bảo hiểm tư nhân thực hiện.
Bảo hiểm y tế đối với những người nghỉ hưu từ 65 tuổi trở lên do Bộ Y
tế và Dịch vụ con người đảm nhận. Chương trình hỗ trợ y tế cho người nghèo
được thực hiện bởi chính quyền các bang( ngân sách bang hỗ trợ nửa chi phí
). Bảo hiểm y tế cho người lao động do các công ty bảo hiểm y tế tư nhân
thực hiện.
Bảo hiểm tai nạn lao động do cơ quan lao động từng bang thực hiện, cơ
quan này có trách nhiệm quy định mức phí, kiểm tra công tác thu phí, chi trả
trợ cấp và giải quyết tranh chấp, khiếu nại. Chương trình bảo hiểm tai nạn lao
động của bang được thực hiện tại 6 bang, các bang còn lại do các công ty tư
nhân thực hiện. Một vài doanh nghiệp thực hiện chương trình bảo hiểm tai
nạn lao động do họ tự xây dựng trên cơ sở có sự chấp thuận của chính quyền.
Bảo hiểm thất nghiệp do cơ quan lao động các bang quản lý, cơ quan
này có trách nhiệm xây dựng phương thức quản lý chương trình theo quy định
chung do Bộ lao động đưa ra. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp từng bang sẽ được
nhập vào tài khoản đặc biệt do Bộ ngân khố lậ ra.
* Quản lý thu BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức.
So với các nước trên thế giới, Cộng hoà Liên bang Đức là nước có lịch
sử phát triển được coi như sớm nhất. Điều luật BHXH đầu tiên đã ra đời và
thực hiện từ những năm 1850. Cho đến nay, chính sách BHXH ở Đức bao
gồm 6 chế độ sau:
+ Bảo hiểm thất nghiệp.
+ Bảo hiểm y tế.