ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÝ THỊ THANH SƠN
HƢỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 ĐỌC - HIỂU “BẾN QUÊ”
QUA BA TẦNG CẤU TRÚC CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC
Chuyên ngành: LL&PPDH Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội
Thái Nguyên - năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới TS. Hoàng Hữu Bội -
ngƣời thầy đã tận tình hƣớng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng
đào tạo - Nghiên cứu khoa học Trƣờng Đại học sƣ phạm - Đại học Thái
Nguyên đã tận tình giúp đỡ, khích lệ em trong quá trình nghiên cứu và học tập
tại trƣờng.
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Sở giáo dục và đào tạo tỉnh
Thái Nguyên, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Văn Trƣờng THCS
Đồng Bẩm và Trƣờng THCS Túc Duyên thành phố Thái Nguyên, bạn bè
đồng nghiệp cùng những ngƣời thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1. Cơ sở lý luận 7
1.1.1. Bản chất của văn chƣơng 7
1.1.2. Cấu trúc của văn bản văn chƣơng 10
1.2. Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1. Nhiệm vụ khảo sát và nội dung khảo sát 26
1.2.2. Phƣơng pháp và địa bàn khảo sát 27
1.2.3. Kết quả khảo sát 27
1.2.4. Những kết luận rút ra từ việc khảo sát thực trạng 34
Tiểu kết chƣơng 1 35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
Chƣơng 2: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VĂN BẢN
VĂN HỌC VÀO DẠY HỌC “BẾN QUÊ” CHO HỌC SINH LỚP 9 37
2.1. Sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ sau 1975 và tác phẩm “Bến quê” 37
2.1.1. Sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ sau 1975 37
2.1.2. Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm “Bến quê” 39
2.2. Hƣớng dẫn học sinh đọc và xác định bố cục, kết cấu văn bản “Bến quê” 42
2.2.1. Hoạt động đọc 42
2.2.2. Hƣớng dẫn học sinh xác định bố cục, kết cấu 43
2.3. Hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu tầng ngôn từ 45
2.4. Hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu tầng hình tƣợng 50
2.4.1. Cảnh sắc thiên nhiên trong “Bến quê” 50
2.4.2. Hình tƣợng nhân vật 51
2.5. Hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu tầng hàm nghĩa 56
Tiểu kết chƣơng 2 58
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 60
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sƣ phạm 60
Bảng 1.1. Tâm lý của học sinh với tác phẩm Bến quê 28
Bảng 2.2. Năng lực cảm thụ tác phẩm Bến quê của học sinh THCS 31
Bảng 3.1 84
Bảng 3.2 84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Về mặt lý luận
Tác phẩm văn chƣơng là một chỉnh thể gồm ba yếu tố: chất liệu ngôn
ngữ, hình thức nghệ thuật và tƣ tƣởng thẩm mĩ. Mỗi một yếu tố nói trên cũng
là một tổ chức kết cấu của mình. Đó là tầng kết cấu ngôn từ, tầng kết cấu hình
tƣợng và tầng kết cấu ý nghĩa.
Tầng ngôn từ là yếu tố nền tảng của cấu trúc văn bản nghệ thuật đảm
bảo sự ổn định tồn tại và chất văn của nó. Yếu tố này bao gồm mặt ngữ âm và
ngữ nghĩa và đặc sắc thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật (vần, nhịp, sự trùng
điệp…). Tùy theo đặc trƣng thể loại mà văn bản ngôn từ đƣợc tổ chức khác
nhau và có quy tắc riêng cho mỗi loại.
Tầng hình tƣợng đƣợc xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, trƣớc hết bao
gồm “hình ảnh ngôn từ”, “biểu tƣợng” tạo thành bởi các phép tu từ. Thứ hai,
hình tƣợng văn học còn bao gồm những cấu tạo siêu ngôn từ đƣợc kể và miêu
tả ra nhƣ sự kiện, nhân vật, môi trƣờng, hoàn cảnh.
Tầng hàm nghĩa đƣợc khái quát hóa từ hai tầng cấu trúc trên mà thành.
- Trong cuộc đời, con ngƣời khó tránh đƣợc những điều vòng vèo hoặc
chùng chình .
- Con ngƣời ta, đến khi sắp từ giã cuộc đời mới thấm thía vẻ đẹp của
những thứ gần gũi quanh mình, mới thấu hiểu đƣợc ngƣời vợ tần tảo, giàu
tình yêu và đức hi sinh .
Vậy mà ngƣời dạy và ngƣời học chƣa có sự trải nghiệm về cuộc đời. Vì
vậy, vấn đề đặt ra ở đây là cần giải quyết vấn đề đó nhƣ thế nào? Giáo viêm
cần lựa chọn phƣơng thức dạy học ra sao để phù hợp với trình độ nhận thức
của học sinh? Luận văn chúng tôi muốn tìm ra một phƣơng thức tiếp cận tác
phẩm mới để làm sáng tỏ điều này .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Những nội dung trên của tầng hàm nghĩa đều ẩn chứa ở tầng ngôn từ và
tầng hình tƣợng. Vậy, phải dạy học nhƣ thế nào để học sinh khám phá ra điều đó?
Từ những lý do nêu trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Hướng dẫn học
sinh lớp 9 đọc - hiểu “Bến quê” qua ba tầng cấu trúc của văn bản văn học”
2. Lịch sử vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Minh Châu và
những tác phẩm của ông nói chung và về tác phẩm Bến quê nói riêng. Chúng
tôi có thể kể đến một vài bài viết, Luận văn tiêu biểu nghiên cứu về tác phẩm
Bến quê trên cả phƣơng diện phê bình lý luận lẫn phƣơng pháp dạy học .
Trần Đình Sử trong bài viết “Bến quê, một phong cách nghệ thuật giàu
chất triết lý” đã viết: Đặc sắc của Bến quê chủ yếu là “sự thể nghiệm của một
hƣớng trần thuật có chiều sâu….Nguyễn Minh Châu hƣớng ngòi bút của anh
vào việc phát hiện ra các hiện tƣợng của đời sống trong chiều sâu triết học và
lịch sử, thể hiện nhu cầu tự chiêm nghiệm, đối thoại với chính mình và ý thức
của mình. Bến quê là những kinh nghiệm có tính chất tổng kết đời ngƣời”
[9,191]
Châu” cũng đã đƣa ra những ý kiến của mình “Nguyễn Minh Châu là ngƣời
đọc say sƣa với những trang miêu tả tâm lý nhạy cảm, phát hiện ra bề sâu
khôn cùng của một thế giới bí ẩn, thầm kín của con ngƣời” [12]
Nhƣ vậy, qua các trang viết của mình các tác giả đã đánh giá truyện
ngắn Bến quê ở nhiều khía cạnh, góc độ nhƣng tựu trung lại đều khám phá,
khai thác, so sánh những biến chuyển đổi mới của ngòi bút Nguyễn Minh
Châu trƣớc và sau 1975. Qua truyện ngắn Bến quê tác giả đề cập đến nhiều
vấn đề về đổi mới cách nhìn, về thi pháp truyện ngắn mới mẻ của Nguyễn
Minh Châu (giọng điệu, điểm nhìn trần thuật, tình huống truyện….) qua đó
khẳng định vai trò ngƣời mở đƣờng của Nguyễn Minh Châu .
Tuy nhiên, chƣa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ,
sâu sắc Dạy học tác phẩm Bến quê bằng con đƣờng dẫn dắt học sinh lớp 9 đọc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
hiểu qua ba tầng cấu trúc của một văn bản văn học. Vì vậy, với Luận văn này,
chúng tôi hi vọng sẽ tìm ra biện pháp tốt nhất để hƣớng dẫn học sinh khám
phá tầng hàm nghĩa trong truyện ngắn Bến quê một cách phù hợp nhất nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Phƣơng thức hoạt động dạy và học của thầy và trò đối với việc dạy học
truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu bằng con đƣờng hƣớng dẫn học
sinh lớp 9 đọc hiểu qua ba tầng cấu trúc của văn bản.
4. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích sau:
Tìm ra phƣơng án dạy học có hiệu quả khi dạy văn bản truyện ngắn
Bến quê của Nguyễn Minh Châu để học sinh lớp 9 có thể cảm hiểu đƣợc các
nội dung trong tầng ngôn từ và tầng hình tƣợng để từ đó rút ra tầng hàm nghĩa
của tác phẩm.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn này
đƣợc triển khai thành ba nội dung lớn tƣơng ứng với ba chƣơng sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Phương án dạy học truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh
Châu bằng con đường hướng dẫn học sinh đọc hiểu ba tầng cấu trúc của văn bản
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Bản chất của văn chương
Theo giáo sƣ Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết “Về bản chất của văn
chương” đăng trên báo văn nghệ số 27 ra ngày 4/7/1995 thì bản chất văn
chƣơng từ xƣa đến nay đều đƣợc xem xét trên cả ba bình diện: bản chất tƣ
tƣởng, bản chất nghệ thuật và bản chất ngôn từ nhƣng đối với mỗi một thời kì,
một giai đoạn, một trào lƣu sáng tác ngƣời ta lại nhấn mạnh đến những mặt
khác nhau.
Việc chú trọng đến bản chất tư tưởng của văn chƣơng đã có từ xa xƣa.
gì làm cho một thông điệp bằng lời nói biến thành một công trình nghệ thuật?
Và ông cho rằng có thể tìm lời giải đáp trong chức năng thi ca của ngôn ngữ.
Dù đặt trọng tâm chú ý vào đâu, dù xuất phát từ điểm nhìn nào, từ tư
tưởng, nghệ thuật hay ngôn ngữ, thì trong thực tiễn sáng tác hay nghiên cứu
văn chƣơng hiện nay, cả ba mặt bản chất của văn chƣơng là tư tưởng, nghệ
thuật và ngôn ngữ cần đƣợc quan tâm theo cách này hay cách khác, ở mức độ
này hay mức độ khác. Chúng ta không ngạc nhiên là những nhà văn lớn xƣa
nay là những nhà tƣ tƣởng lớn, đồng thời là những nghệ sĩ tài ba và là những
bậc thầy về ngôn ngữ. Đại thi hào Nguyễn Du là một ví dụ điển hình cho một
tài năng lớn về văn chƣơng với tác phẩm Truyện Kiều. Tác phẩm là một minh
chứng rõ nét cho sự kết hợp nhuần nhuyễn cho cả bản chất tƣ tƣởng, bản chất
nghệ thuật và bản chất ngôn ngữ của văn chƣơng. Ngay cả những ngƣời cầm
bút bình thƣờng, muốn phát huy đƣợc sức mạnh riêng, sức mạnh tổng hợp của
văn chƣơng, cũng phải biết khai thác cả ba mặt tƣ tƣởng, nghệ thuật và ngôn
ngữ của nó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Đi vào văn chƣơng, dù là sáng tác hay nghiên cứu, mà không dựa vào
ngôn ngữ, không có sự hiểu biết phong phú, tinh tƣờng về ngôn ngữ thì chắc
chắn không thể nào tiến hành công việc có kết quả tốt đƣợc. Nhƣng trong tác
phẩm văn chƣơng cụ thể, ngôn ngữ dù có mặt sáng tạo riêng rất quan trọng,
trƣớc hết vẫn là phƣơng tiện để biểu đạt nội dung nhƣ một số nhà thi pháp
khẳng định. Hoặc theo một số nhà nghiên cứu khác, văn chƣơng là nghệ thuật
ngôn ngữ làm phƣơng tiện biểu đạt, là nghệ thuật ngôn từ. Muốn hiểu đƣợc
nội dung ý nghĩa của tác phẩm trƣớc hết ta phải đi tìm hiểu ngôn ngữ của tác
phẩm đó, qua lớp ngôn ngữ mới hiểu đƣợc những tƣ tƣởng mà nhà văn muốn
gửi gắm. Chẳng hạn, dòng miêu tả về nhân vật Thúy Kiều “Hoa ghen thua
thắm, liễu hờn kém xanh”, qua những từ nhƣ “hoa ghen”, “liễu hờn” tác giả
nghệ thuật, ngôn ngữ, nó là một hợp chất tƣ tƣởng - nghệ thuật - ngôn ngữ, và
đòi hỏi ngƣời sáng tác cũng nhƣ ngƣời nghiên cứu có cách khai thác có hiệu
quả nhất các mặt bản chất đó, tùy theo yêu cầu của thời đại và tài năng, sở
trƣờng của mỗi ngƣời. Đƣơng nhiên văn chƣơng cũng nhƣ nghệ thuật không
thể thay thế cho kinh tế, chính trị và những lĩnh vực quan trọng khác của đời
sống xã hội. Nhƣng, ngƣợc lại, cũng không một lĩnh vực nào có thể thay thế
đƣợc văn chƣơng trong việc giúp con ngƣời hiểu cuộc sống và hiểu chính
mình, sống có tình thƣơng, có đạo lý, có văn hóa, vƣợt qua cái tầm thƣờng,
phàm tục, giả dối, để thăng hoa, để ƣớc mơ, vƣơn đến chân, thiện, mỹ.
1.1.2. Cấu trúc của văn bản văn chương
Theo giáo trình Lý luận văn học của Trần Đình Sử (chủ biên) thì cấu
trúc của văn bản văn học đƣợc phân chia thành: Tầng ngôn từ, tầng hình
tƣợng và tầng hàm nghĩa
1.1.2.1. Tầng ngôn từ
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ là phƣơng tiện vật chất cấu
thành hệ thống hình tƣợng, truyền đạt thông tin thẩm mĩ. Ngôn từ chi phối
nhà văn trong toàn bộ quá trình sáng tác. Ngôn từ gắn bó mật thiết với quá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
trình thai nghén, phát triển, trƣởng thành của hình tƣợng nghệ thuật, cuối
cùng, đem những ý tƣởng thẩm mĩ bất định, tản mạn ngƣng kết thành một thể
thống nhất, làm cho nó đƣợc định hình hóa, sáng rõ, trở thành sự tồn tại khách
quan mang hình thái vật hóa - văn bản văn học. Trong kết cấu văn bản, tầng
ngôn từ có hai chức năng: một mặt, nó là phƣơng tiện truyền đạt ý thức thẩm
mĩ của tác phẩm, cấu thành nên cái bên ngoài mà độc giả có thể cảm nhận
đƣợc, tức là hình thức bên ngoài; mặt khác, bản thân nó có giá trị thẩm mĩ
tƣơng đối độc lập, cũng là thể thống nhất giữa nội dung và hình thức.
Tầng ngôn từ trong văn bản văn học bao gồm từ ngữ, câu văn, lời kể,
ngữ toàn dân thuộc các phƣơng diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp…
Các phƣơng tiện từ vựng nhƣ đồng nghĩa, phản nghĩa, từ cổ, từ mới, từ tục, từ
thanh…Các phƣơng tiện ngữ pháp nhƣ câu cảm thán, câu đặc biệt, câu nghi
vấn, phép đảo ngữ Các phƣơng thức chuyển nghĩa nhƣ ẩn dụ, so sánh, phúng
dụ…Các phƣơng diện ngữ âm nhƣ thanh điệu, nhịp điệu, tiết tấu….
Lời văn nghệ thuật thƣờng đƣợc tổ chức theo các nguyên tắc sau đây:
Cụ thể hóa có định hƣớng đối tƣợng đƣợc miêu tả. Lời văn trong tác
phẩm văn học có chức năng tái hiện đời sống, thể hiện sự lý giải, đánh giá,
cảm hứng đối với nó. Do đó, nó thƣờng phải làm cho đối tƣợng ngày một cụ
thể hơn, lớn lên, bắt rễ vào tâm tƣ ngƣời đọc. Ví dụ, những lời văn miêu tả
Liên trong Bến quê “Liên vẫn không đáp và biết chồng đang nghĩ gì. Chị đƣa
những ngón tay gầy guộc âu yếm, vuốt ve bên vai chồng…” [40,101]. Các
câu văn này cụ thể hóa đối tƣợng đƣợc miêu tả ở đây là Liên, từ sự miêu tả
này, nhà văn muốn nói tới những phẩm chất tốt đẹp bên trong con ngƣời Liên
đó là sự tế nhị, dịu dàng, thƣơng yêu chăm sóc chồng. Qua đó tác giả dẫn dắt
vào chủ đề: Bến quê sẽ là truyện về những điều bình dị mà thiêng liêng trong
cuộc đời mỗi con ngƣời
Đồng thời với sự cụ thể hóa có hƣớng là sự tỉnh lƣợc, sự cố tình và
thƣờng xuyên im lặng một số phƣơng diện nào đó của nhân vật. Chẳng hạn
trong Bến quê, nhà văn bỏ qua chân dung, trang phục nhân vật Nhĩ, bỏ qua
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
cuộc sống của Nhĩ ở những ngày còn mạnh khỏe. Bên cạnh việc tỉnh lƣợc,
nhà văn lại tập trung khắc họa tâm trạng, cảm xúc của nhân vật Nhĩ trong
những ngày cuối đời, gắn chặt vào giƣờng bệnh. Cách tỉnh lƣợc này giúp lời
văn hàm súc, lời chật ý rộng, bỏ qua những chi tiết không phục vụ cho chủ đề
tác phẩm.
Cùng với hai nguyên tắc trên, lời văn nghệ thuật còn truyền cho ngƣời
bản cũng không phải là cái gì đó trống rỗng, nó bao hàm hiện tƣợng vô cùng
đa dạng phong phú mang tính phát hiện của văn bản văn học, những điều này
đƣợc gọi là tầng hình tƣợng. Nói một cách đơn giản, tầng hình tƣợng của văn
bản văn học là nội dung của văn bản văn học, do hệ thống hình tƣợng của
chỉnh thể tác phẩm tạo thành, nhƣ nhân vật, sự kiện, cốt truyện, hoàn cảnh,
cảnh vật… Tầng hình tƣợng của văn bản văn học biểu hiện ra hoặc là hoàn
chỉnh hoặc là phiến đoạn cụ thể, tình cảnh cuộc sống cụ thể, cảm tính, chính
bối cảnh cuộc sống ấy cấu thành thế giới hƣ cấu thẩm mĩ đầy đủ, độc lập.
Tầng hình tƣợng của văn bản tự sự đƣợc tạo dựng lên nhờ các yếu tố
nhƣ sự kiện, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh… Trong đó sự kiện và cốt truyện
mang đến phạm vi và bối cảnh quy định sự hiển thị, phát triển của tính cách,
số phận, tâm lí nhân vật; nhân vật là nguyên nhân vận động nội tại, biến hóa
phát triển của cốt truyện và tình tiết, cũng là trung tâm của văn bản; hoàn
cảnh chính là bối cảnh cụ thể để nhân vật hoạt động, là quan hệ giữa ngƣời và
ngƣời, bối cảnh lớn của lịch sử và thời đại.
* Sự kiện (biến cố) và cốt truyện:
Theo giáo trình Lý luận văn học thì “Sự kiện nói chung là những hành
vi (việc làm) của nhân vật hay sự việc xảy ra đối với nhân vật dẫn đến hậu
quả, làm biến đổi hay bộc lộ một ý nghĩa nào đó” [35 ]. Ví dụ, Kiều cùng các
em đi chơi xuân gặp mả Đạm Tiên, tiếp theo đó gặp Kim Trọng và quyến
luyến với chàng. Hai sự kiện đó ảnh hƣởng tới toàn bộ cuộc đời Kiều.
Sự kiện có hai đặc trƣng cơ bản: thứ nhất là giữa các sự kiện trong biến
cố có quan hệ nhân quả, có nguyên nhân này mới có kết quả kia, có mâu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
thuẫn xung đột nhƣ thế này mới dẫn đến sự thay đổi tình huống kia. Ví dụ, hệ
thống sự kiện trong Chí Phèo của Nam cao đƣợc xây dựng theo mối quan hệ
nhân quả. Bao gồm 7 sự kiện sau: sự kiện 1 là: Chí Phèo chửi đổng, tiếng
quá trình phát triển của sự kiện hiện ra tuần tự, có ý vị thẩm mĩ. Vì vậy, cốt
truyện và biến cố không giống nhau. Ví dụ, hệ thống sự kiện của Bến quê
đƣợc trình bày nhƣ trên, nhƣng cốt truyện của Bến quê có thể tóm tắt nhƣ sau:
Bến quê kể về ngƣời đàn ông “đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ”,
nhƣng cái bãi bồi bên kia sông Hồng, sát bến đò ngang gần nhà mình lại chƣa
hề đặt chân tới. Cuối đời lại bị căn bệnh hiểm nghèo nằm liệt trên giƣờng,
phải trông cậy vào vợ con và hàng xóm chăm sóc. Trong những ngày cuối
đời, nằm trên giƣờng bệnh, ngƣời đàn ông đó mới chiêm nghiệm ra bao điều:
cuộc sống và số phận con ngƣời chứa đầy những điều bất thƣờng, nghịch lý,
ngẫu nhiên, vƣợt ra ngoài những dự định và ƣớc muốn, cả những hiểu biết
toan tính khôn ngoan; “con ngƣời ta trên đƣờng đời thật khó tránh đƣợc
những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình”; thức tỉnh vẻ đẹp của đời sống ở
những cái bình dị, gần gũi, thân thuộc nhƣ một “bến quê”, nhƣ bãi bồi bên kia
sông Hồng; thức tỉnh về vẻ đẹp tâm hồn của ngƣời vợ “vẫn giữ nguyên vẹn
những nét tần tảo, chịu đựng, hi sinh từ bao đời xƣa”.
Cốt truyện là hình thức tổ chức sơ đẳng nhất của truyện. Bất cứ truyện
lớn, nhỏ, cốt truyện nói chung bao gồm các thành phần chính: thắt nút, phát
triển, cao trào, mở nút. Ngoài ra, phần mở đầu là điều kiện, bối cảnh để mâu
thuẫn xung đột phát sinh và là tình huống để nhân vật xuất hiện trƣớc khi
xung đột chính thức bắt đầu; vĩ thanh lại là tình huống sau khi kết thúc sự
kiện cơ bản liên quan đến nhân vật chính. Hai bộ phận này không thuộc bộ
phận cơ bản của cốt truyện. Ví dụ trong truyện Người coi trạm của Puskin bao
gồm các thành phần chính nhƣ sau: Phần mở đầu: ngƣời coi trạm có cô con
gái đẹp Đunha. Phần thắt nút: một chàng kị binh thấy cô đẹp, giả vờ ốm, xin ở
lại. Phần phát triển: chàng kị binh bắt cóc cô con gái đẹp mang đi. Phần cao
trào: ngƣời coi trạm tìm con gái khắp nơi mà không đƣợc. Phần mở nút:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
18
đổi, phát triển của tính cách, tâm hồn, tình cảm nhân vật, chúng đều thuộc về
sự sáng tạo hình tƣợng nhân vật. Sự sáng tạo hình tƣợng nhân vật thƣờng
quyết định thành công thất bại của toàn bộ tác phẩm. Thông thƣờng, hình
tƣợng nhân vật có tính hình tƣợng, tính tình cảm và tính điển hình. Sáng tạo
hình tƣợng nhân vật điển hình thƣờng là mục tiêu tối cao mà các nhà văn
muốn đạt tới.
Nhân vật là phƣơng tiện để khái quát hiện thực
Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con
ngƣời, thể hiện những hiểu biết, những ƣớc ao kì vọng về con ngƣời. Nhà văn
sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm
về các cá nhân đó. Nói cách khác, nhân vật là phƣơng tiện khái quát các tính
cách, số phận con ngƣời và các quan niệm về chúng. Trong Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng, với nhân Vật Xuân tóc đỏ - một nhân vật mang tính cách đa
diện của con ngƣời thời Âu hóa và có số phận may mắn lạ lùng Vũ Trọng
Phụng có thể thâu tóm thần tình bản chất của cả một xã hội mà ông định
nghĩa bằng hai từ “chó đểu” trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng. Theo chân
hắn, tác giả và tiếp sau là ngƣời đọc, khám phá dần biết bao xó tối, biết bao
ung nhọt của xã hội thƣợng lƣu trong một thời buổi Âu Á, Tây Tàu lẫn lộn,
lai căng, pha tạp.
Nội dung khái quát của nhân vật không chỉ là tính cách xã hội lịch sử,
mảng đời sống gắn liền với nó, mà còn là quan niệm nghệ thuật của nhà văn
về thế giới và con ngƣời. Tìm hiểu nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù
của Nguyễn Tuân, nếu chỉ thấy ở đó hình ảnh một con ngƣời khí phách,
tài hoa, có thiên lƣơng trong sáng thì hoàn toàn chƣa đủ. Huấn Cao là
Huấn Cao mà cũng là Nguyễn Tuân - một kẻ “ngông” ở thái độ tự tôn, sự
tôn sùng cái đẹp tuyệt đối, ở việc sẵn sàng đƣa ra một bảng giá trị riêng
để đánh giá con ngƣời