Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và kỹ thuật nhân giống cây lê tại tỉnh Cao Bằng - Pdf 24


1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ PHƢƠNG OANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH NÔNG SINH HỌC
VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY LÊ
TẠI TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

mùi thơm rất hấp dẫn, trong nhân dân còn gọi lê là "quả 7 vị 5 mùi".
Trên thế giới có khoảng 78 nước trồng lê, được trồng nhiều nhất ở châu
Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương. Trên thế giới Nga, Braxin, Đức, Pháp,
Trung Quốc và các nước vùng Địa Trung Hải rất chú trọng tới việc trồng lê, ở
những nơi đó được trồng chủ yếu là những giống lê ngon và có giá trị kinh tế.
Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc, có rất nhiều tiềm năng về đất đai và
khí hậu thích hợp với nhiều loại cây ăn quả có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới
như: hạt dẻ, lê, mơ, mận, đào, cam, quýt… trong đó có cây lê là loại cây ăn quả
đặc sản, mang lại hiệu quả kinh tế cao, là cây ăn quả đã gắn liền với đời sống của
đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên ở Cao Bằng cây lê chỉ được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
trồng phân tán, nhỏ lẻ trong các vườn hộ gia đình, trồng trọt chủ yếu theo lối
quảng canh không được chăm sóc nên dẫn đến những giống lê quý đang có nguy
cơ bị thoái hoá, làm cho năng suất, chất lượng giảm sút. Đồng thời kỹ thuật nhân
giống lê của người dân vẫn còn đơn giản nên hệ số nhân giống không cao, chưa
có nhiều cây giống tốt phục vụ cho việc phát triển lê tại Cao Bằng.
Để khắc phục những hạn chế trên cần phải giải quyết rất nhiều vấn đề, đó
là điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất lê và khả
năng thích ứng của các giống lê đối với từng vùng sinh thái, nghiên cứu nhân
giống vô tính thích hợp đối với cây lê để nhân nhanh những giống lê có triển
vọng và phát triển mở rộng diện tích. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và kỹ thuật nhân giống cây lê tại
tỉnh Cao Bằng”.
2. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục tiêu
-Xác định các dạng lê hiện được trồng ở Cao Bằng, những thuận lợi và
khó khăn của việc trồng lê

dụng rộng rãi trong công tác nhân giống, nhằm nâng cao tỷ lệ sống sau ghép
và tạo ra số lượng lớn những cây con có đủ tiêu chuẩn, chất lượng cao đưa ra
sản xuất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Cơ sở khoa học của việc điều tra nghiên cứu cây lê
Cao Bằng là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, với điều
kiện khí hậu, sinh thái cũng như những đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã
hội mà đồng bào các dân tộc nơi đây sống chủ yếu dựa vào nghề nông lâm
nghiệp, điều này đã cho phép nghề trồng cây ăn quả phát triển rất rộng. Hơn
nữa Cao Bằng nằm ở độ cao so với mặt nước biển trung bình từ 600 - 1000m,
khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất 35
0
C, thấp nhất 0
0
C,
mùa đông nhiệt độ trung bình từ 5-6
0
C lạnh nhất là vào tháng 1, lượng mưa
trung bình 1.500mm, cùng với diện tích đất đai dồi dào đã cho phép Cao Bằng
có rất nhiều tiềm năng thích hợp với việc phát triển các loại cây ăn quả ôn đới,
trong đó có cây lê. Lê được trồng ở Cao Bằng từ rất lâu đời, ít nhất cũng phải
trên 100 năm trở về trước, chưa có tài liệu nào đề cập tới nguồn gốc cây lê ở
nơi đây, chỉ qua công tác điều tra phỏng vấn trực tiếp những cụ già trên 90 tuổi

Himalaya, Caucuse và các vùng gần đó là Iran và các nước vùng Tiểu Á là
vùng khởi nguyên quan trọng có nhiều thành phần loài. Trung tâm khởi
nguyên thứ 2 là Krưm và vùng phía đông bán đảo Balkan, Châu Âu là trung
tâm của giống lê dại P.Communis. Các giống lê trồng nổi tiếng trên thế giới
được tạo ra từ các giống lai giữa P. Communis và P.Nivalis. Cây lê được trồng
ở Liên Xô (cũ) từ rất sớm, trong đó Trung tâm cây ăn quả trên đất châu Âu là
Ycrain. Nhà cây ăn quả Nga ở cuối thế kỷ 18 Bôlôtôva A.T đã mô tả 39 giống
lê và nửa cuối thế kỷ 19 vườn thực vật Nikitxki ở Krưm đã có 1 tập đoàn các
giống lê rất lớn đến 550 giống.
Nguồn gốc của cây lê ở Việt Nam đã có một số tác giả đề cập tới. Theo
(Võ Văn Chi, 1997) [4,168] thì lê ở nước ta là lê Pyrus pyrifolia Nakai, cây
được nhập từ Trung Quốc vào trồng ở những vùng núi cao miền Bắc Việt
Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn Cây trồng chủ yếu để lấy quả ăn tươi và quả
khô dùng để làm thuốc chữa bệnh. Các tác giả (Nguyễn Văn Phú, Trần Thế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Tục, 1969) [17,110] khi điều tra về cây ăn quả ở một số tỉnh miền núi phía
Bắc đã cho rằng các giống lê ở Cao Bằng đều thuộc dòng họ Salê (Pyrus
pyrifolia Nakai) và đều có nguyên sản từ vùng Tây Nam Trung Quốc, cho đến
nay thì cây lê được trồng khá phổ biến ở các vùng cao thuộc các tỉnh miền núi
phía Bắc nước ta.
1.2.2. Phân loại
Lê thuộc chi Pyrus. Nhóm Pyrus gồm có:
- Lê châu Âu P.communis bao gồm có các giống: Clapps favorite,
Comise, Harraw delight…chúng yêu cầu có đơn vị lạnh CU từ 600 – 1400 và
có khả năng chống chịu bệnh đốm lá ở mức trung bình, nhưng có ưu điểm là
đạt năng suất cao, chất lượng quả tốt.
- Lê châu Á P. pyrifolia bao gồm có:
+ Lê Nhật Bản có những giống như: Chojuro, Hosui, Kikusui, Shinko,

P. pashia Buch . Ham, P.pseudopashia Yu, P. serrulata Rehd…trong
số này phần lớn quả nhỏ, hạt quả thô, có vị chat, ít có giá trị sử dụng và ý
nghĩa kinh tế thấp.
Tác giả (Lưu Chí Dân và cộng sự, 1998) [6], khi nghiên cứu phân vùng
các nhóm giống lê của Trung Quốc: Bạch lê, Thu tự Lê, Sa lê, Lê Châu
Âu…cho rằng các nhóm giống Sa lê có khả năng thích nghi với điều kiện
nhiệt độ cao và ẩm độ cao hơn các nhóm giống khác. Vùng thích nghi của Sa
lê là ở Giang Nam có nhiệt độ và ẩm độ cao bao gồm phía Nam sông Hoài,
các tỉnh phía Nam sông Trường Giang, nhiệt độ bình quân năm 15 – 23
0
C,
nhiệt độ tháng giêng từ 1 – 15
0
C, trong năm nhiệt độ thấp < 10
0
C có 80 – 140
ngày, lượng mưa 800 – 1900mm, đất trồng lê gồm: đất vàng, đất đỏ, đất nâu,
đất tím. Các giống lê điển hình gồm: lê thế kỷ 20, lê Thương Khê, lê Hoàng
Hoa, Minh Nguyệt, Nhị Cung Bạch, Tân Thế Kỷ, Cúc Thủy, Hạnh Thủy…
Theo (Шепелький.АИ, 1996) [39, 103] thì lê có 2 loại, đó là lê châu Á
và lê châu Âu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
- Lê châu Á: Gặp nhiều ở Trung Quốc, có khoảng 15 loài tất cả, được
gọi chung là “Sa li” .Sali có 2 biến chủng:
+ Var. Stapfiana Rchd (1)
+ Var. Culta Red (2)
Trong đó biến chủng (2) là quan trọng hơn cả, nó được trồng ở Nhật
Bản và Triều Tiên, khoảng hơn 20 năm trước đây đã được nhập vào trồng ở

K
4-5
C
4-5
A
5-18
G
(2-5
1.3. Tình hình sản xuất lê trong và ngoài nƣớc
1.3.1. Tình hình sản xuất lê ở ngoài nƣớc
Trên thế giới có khoảng 78 nước trồng lê, được trồng nhều nhất ở châu
Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương. Lê thích nhiệt độ lạnh nhưng
kém chịu rét đậm. Những vùng trồng lê chính của Nga là: Cranođaxki,
Capkaja, Ucraina. Đặc biệt là vùng Địa Trung Hải và Nam Capkaja, người
ta rất chú trọng tới việc trồng lê, ở những nơi đó được trồng chủ yếu là
những giống lê ngon và có giá trị kinh tế nhất.
Ở Pháp, lê được trồng rộng rãi ở tất cả các vùng với diện tích khá lớn,
trong năm 1981 sản lượng lê của Pháp đứng thứ ba, sau Italia và Etats-Unis
với 420 nghìn tấn/ năm trên diện tích 22.000 ha. Trung bình hàng năm
trong những năm 1990 ở Pháp sản xuất được 3,5 triệu tấn quả các loại
(đứng thứ ba trong khối Tây Âu, sau Italia và Tây Ban Nha), trong đó lê
chiếm 8,5%, sản phẩm lê của nước này dùng để ăn tươi khoảng 87-89%,
còn lại 11-13% là sử dụng làm nguyên liệu chế biến.
Theo số liệu thống kê của FAO thì hiện nay sản lượng lê tại một số nước
trên thế giới khá cao và liên tục tăng trong những năm qua.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Bảng 1.1: Sản lƣợng lê tại một số nƣớc trên thế giới giai đoạn 2007 -2009
Đơn vị tính: tấn

6
Ai Cập
50,414
48,908
52,000
7
Pháp
202,708
159,865
185,857
8
Đức
49,918
38,076
52,319
9
Italia
835,700
770,100
847,500
10
Kazaktan
11,070
7,990
11,000
11
Thổ Nhĩ Kỳ
356,281
355,476
384,244

2.837,848
3.299,926
5
Châu Đại Dương
169,764
162,992
152,176
(Nguồn: FAOSTAT. FAO. ORG)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
Nếu xét tại một số quốc gia thì sản lượng tăng không đều, nhưng ở các
châu lục và trên thế giới tăng liên tục qua các năm. Trên thế giới năm 2007
sản lượng là hơn 20 triệu tấn, đến năm 2009 đã đạt trên 22 triệu tấn. Giữa các
châu lục thì Châu Á tăng nhanh hơn cả, năm 2007 đạt trên 15 triệu tấn đến
năm 2009 đã hơn 16 triệu tấn.
1.3.2. Tình hình sản xuất lê ở trong nƣớc
Cây lê được trồng ở Việt nam từ bao đời nay tại các tỉnh miền núi
phía Bắc, nơi có mùa đông lạnh như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào
Cai, Lai Châu, Tuyên Quang, Bắc Kạn… với các giống lê phổ biến là lê
Nâu quả tròn, lê Xanh quả tròn…có năng suất, chất lượng khá tốt. Lê chủ
yếu được dùng để ăn tươi trên thị trường tiêu thụ nội địa, chưa có cơ sở chế
biến nào đối với lê, bởi sản lượng chưa cao và còn phân tán. Trong những
năm qua công tác nhập nội một số giống lê mới đã được tiến hành tại một
số địa phương, cây lê Tai Nung 6 (Đài Loan) đã được đưa vào trồng khảo
nghiệm tại huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai từ tháng 8 năm 2002 và tỏ ra khá
phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của địa phương. Lê Tai Nung có
ưu điểm là ra hoa muộn hơn đào và mận nên có thể tránh được thời điểm
rét đậm trong mùa đông; thời gian thu hoạch vào tháng 7 (sau mùa thu
hoạch đào và mận) và chín trước lê Trung Quốc khoảng 1 tháng nên rất


Tỉnh
2006
2010
Diện tích
(ha)
Sản lƣợng
(tấn)
Diện tích
(ha)
Sản lƣợng
(tấn)
1
Cao Bằng
159,0
630,6
203,0
1.280,45
2
Hà Giang
571,2
4.056,8
580,0
4.656,8
3
Lào Cai
180,0
750,0
230,0
1.100,5

thay rau xanh lúc giáp vụ Ngoài giá trị dinh dưỡng, giá trị sử dụng của quả lê đã
được các nhà khoa học khẳng định thì bên cạnh đó giá trị kinh tế mà cây lê đem lại
là rất lớn, chính vì vậy tại một số hộ gia đình ở một số tỉnh đã trồng lê và cho thu
nhập rất khá. Theo tác giả (Trần Hoàn, 2001) [11, 10] đã đề cập tới cây lê ở Ngân
Sơn- Bắc Kạn như sau: “Năm 1999 toàn huyện Ngân Sơn có 4,25 ha lê đang cho
thu hoạch và 8,43 ha trồng mới. Đến năm 2001 đã trồng thêm được 11 ha và
người trồng lê không phải trăn trở tìm đầu ra cho sản phẩm của mình. Theo tính
toán 1 cây lê tốt có tuổi thọ cao thì cho thu nhập 500.000-600.000đ, 1kg quả to bán
tại thị trường Ngân Sơn hiện nay với giá dao động từ 8.000-12.000đ”. Theo tác giả
(Lê Phương Bắc, 2003) [2, 10] thì ở huyện Simacai tỉnh Lào Cai thì có thể coi cây lê
là cây xóa đói giảm nghèo, nhất là cây lê xanh với giá bán 5.000đ tại chợ huyện,
ông Vàng A Chứ ở xã Mản Thẩn cho biết: “Tôi có 6 cây lê trồng từ vài năm nay đã
cho thu hoạch. Ngày nào tôi cũng bán ít nhất là một gùi lê, chưa bao giờ bị ế. Loại lê
này được bà con, đặc biệt là những khách dưới xuôi mê lắm. Ông khoe hôm nọ có
mấy người vào tận vườn của ông chọn và xin chiết mấy cây về để trồng”.
Tại bản Khau Tràng, xã Hồng Thái, tỉnh Tuyên Quang có gia đình
ông Đặng Văn Tình là chủ vườn lê lớn nhất, hiện nay vườn của ông có tới
100 cây lê, mỗi vụ cũng có thu nhập gần 20 triệu đồng. Như vậy hiệu quả
từ cây lê đem lại là rất lớn, thực sự là cây ăn quả quý mang đến cho người
dân vùng cao cuộc sống ngày ổn định và được nâng cao.
1.4. Những nghiên cứu về cây lê trong và ngoài nƣớc
1.4.1. Các giống lê và đặc điểm nông sinh học
Hiện nay trên thế giới lê được trồng ở rất nhiều nước, nhất là những
nước có khí hậu lạnh.Vì vậy thành phần giống lê cũng khá phong phú, mỗi
giống ở mỗi vùng, miền lại có những đặc điểm khác nhau, sau đây là mô tả
tóm tắt về đặc điểm nông sinh học của một số giống mang tính đại diện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Kết quả nghiên cứu của Chevalier A(1942) [30, 373-376] đã mô tả một

Quả trung bình hoặc to, màu sắc của vỏ quả có màu xanh vàng pha lẫn hơi đỏ.
Thịt quả mịn, nhiều nước và ngọt, là giống có sản lượng cao.
- Conference: Đây là giống chín giữa mùa, cỡ quả trung bình và có hình
dạng của lê điển hình, vỏ quả có màu xanh pha chút nâu đỏ. Thịt quả màu
hồng, vị ngọt và nhiều nước. Đó là giống tốt có giá trị tương đối và nhiều quả,
thu hoạch quả từ cuối tháng 6 tới đầu tháng 8.
Lê không những cho sản phẩm là quả, mà nó còn là cây cảnh rất có giá
trị, các loài điển hình như: P.amygdaliformis Will, P.elaeagrifolia Pall,
P.pyrifolia (Burm)Nakai và P.ussuriensis Maxim, chúng đang được trồng phổ
biến tại Washington State University ở trung tâm nghiên cứu Puyallup.WA.
Chúng được lựa chọn bởi khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, có đặc
điểm là: cây xanh, hình dáng nhỏ gọn, đẹp, rất phù hợp khi chọn chúng làm
cây cảnh.
Ở Việt Nam lê được trồng ở vùng núi cao nơi có mùa đông lạnh, đặc
điểm chung về cây lê là loại cây thân gỗ, sống lâu năm có thể cao tới 9-11m,
tán hình mâm xôi, đường kính tán từ 7- 13m, đường kính thân có thể đạt tới
30-40cm, độ cao phân cành từ 37 - 102cm, cành cấp 1 có góc phân cành 30-
70
0
. Lá lê hình mai rùa, có 90 đến 140 răng cưa và rụng vào mùa đông. Lê ra
hoa vào cuối tháng 2 đầu tháng 3, màu hoa trắng và khi nở rộ tạo cảnh rất đẹp
cho vườn lê. Lộc phát vào mùa xuân, quả hình thành sau khi hoa tàn và phát
triển tới cuối tháng 8 thì chín. Quả lê hình tròn hơi dẹt (lê nâu) xong đa phần
hình bóng điện với trọng lượng bình quân 350 - 500g/quả. Khi chín vỏ quả
chuyển nâu hoặc xanh vàng, vỏ nhẵn. Thịt quả màu trắng, giòn, ngọt mát hơi
pha chua chát, đặc biệt có mùi thơm dễ chịu. Các tác giả Hoàng Ngọc Đường
và các cộng sự (1996) [8, 18 - 23] nghiên cứu cây ăn quả đặc sản ở vùng núi
Đông Bắc Việt Nam, đã nghiên cứu và mô tả quả lê và mác cọt của một số
tỉnh phía Bắc:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
- Giống Thương Khê: Chín cuối tháng 8. Quả hình trứng, quả trung
bình 250-260 gram, vỏ quả màu nâu vàng sẫm, thịt quả màu trắng.
- Giống Kim Hoa: Chín trong tháng 8. Quả hình bóng điện trung bình
280 - 300 gram. vỏ quả màu xanh vàng có chấm nhỏ màu rỉ sắt.
Các giống lê Tai Nung 6 có nguồn gốc (Đài Loan) đã được trồng khảo
nghiệm tại huyện Bắc Hà đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT có kết luận tốt
đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận giống đặc cách, được trồng gần 50 ha
ở một số xã: Bắc Hà, Sa Pa, Mường Khương, Bát Xát, Si Ma Cai, Thành phố
Lào Cai, là giống chín sớm đầu tháng 7. Quả hình tròn dẹt, trọng lượng quả
trung bình 350 gram, khi chín vỏ quả màu xanh vàng. Thịt quả trắng mịn, lõi
nhỏ, vị ngọt mát, tỷ lệ phần ăn được cao 85-90 %, hàm lượng Ta nin thấp [22].
Ngoài ra còn có một số giống như:
- Giống lê Đại Hồng: Giống này có nhiều ở Lạng Sơn. Cây mọc khoẻ,
phân cành thưa, sai quả và có chất lượng cao được thị trường ưa chuộng. Quả
dài, đỉnh hơi nhọn và chính giữa lõm xuống, vỏ quả màu xanh vàng, thịt quả
mịn nhiều nước, cát nhỏ, vị ngọt, mùi thơm giống lê Vân Nam (Trung Quốc).
- Lê đen Cao Bằng: Giống này được trồng phổ biến ở các địa phương
tỉnh Cao Bằng. Đây là giống lai tự nhiên giữa lê và táo dại. Quả nhỏ giống
Mắc coọc nhưng hương vị thơm ngon hơn.
- Lê Sali Hà Giang: Giống được trồng nhiều ở các huyện của tỉnh Hà
Giang cây tương đối khoẻ, phân cành mạnh. Chống chịu điều kiện bất thuận
khá. Thịt quả cứng, mùi vị thơm ngon, thị trường ưa chuộng.
- Giống lê xanh: Giống thường trồng những vùng có độ lạnh cao từ
600m trở lên. Cây sinh trưởng khoẻ, năng suất khá cao, tính chống chịu lạnh tốt
.Ra hoa vào tháng 4,chín cuối tháng 7 đầu tháng 8 trọng lượng quả tương đối
lớn từ 300 - 400 gram, màu sắc vỏ quả khi chín xanh mịn, dám màu hồng, vỏ
nhẵn, cuống ngắn.Quả có dạng bầu hoặc hình trứng. Thịt quả màu trắng xốp,

tính toán chính xác để xác định, thì tổng giờ lạnh tối thiểu phải là 1000 giờ.
Các giống lê Châu Âu trồng ở phía Tây nước Mỹ cây phát triển bình thường,
độ lạnh đòi hỏi nhiệt độ từ 70 - 80
0
F (21,1 - 29,4
0
C) trung bình cho một ngày
trong suốt thời kỳ hoa nở, nhưng tốt nhất là ở nhiệt độ 55
0
F (12,8
0
C).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
Tác giả (Richard, 2002) [36] nghiên cứu sự sinh trưởng của cây lê ở
vùng Virginia đã khảng định: Khí hậu ở vùng này rất mát mẻ và thích hợp cho
cây lê phát triển, hầu hết các giống lê yêu cầu khoảng 1.000 đến 1.200 giờ
dưới 45
0
F (7,2
0
C) trong suốt mùa đông để cây hoàn thành giai đoạn ngủ nghỉ.
Mặc dù cây cần có độ lạnh như vậy, nhưng nếu nhiệt độ quá thấp cũng sẽ ảnh
hưởng tới vấn đề nở hoa. Kết quả theo dõi cho thấy cây lê bắt đầu xuất hiện
nụ hoa và cả trong giai đoạn hoa nở đều có thể bị chết nếu gặp mùa xuân quá
lạnh giá, ở nhiệt độ 26
0
F (-3,3
0

lê đạt được kết quả cao thì nên trồng lê ở những nơi có độ lạnh từ 0 - 3
0
C trong
3 - 6 ngày, sau khi quả chín nên bảo quản ở nhiệt độ 20
0
C trong phòng là tốt
nhất. Tác giả (Vũ Công Hậu, 1982) [10, 81-82] cho rằng: lê được xếp vào hàng
thứ ba trên thế giới trong các cây ăn quả rụng lá vào mùa đông, và là cây của
miền ôn đới. Nhiệt độ cần có hai tháng mùa đông có nhiệt độ bình quân từ 10 -
12
0
C [5, 118].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
Đối với cây ăn quả ôn đới như: lê, đào, mận…cần phải có mức độ lạnh
cần thiết để phân hóa mầm hoa. Nhìn chung, chúng đều có yêu cầu đơn vị
lạnh cao (high chill), nếu nhóm cây này trồng ở những vùng không đủ độ lạnh
theo yêu cầu thường có những biểu hiện: lá phát triển kém, khả năng đậu quả
thấp, chất lượng quả kém. Năm 1980 các nhà khoa học ở George và Florda –
Mỹ đã đưa ra nhận định chỉ có những tháng lạnh nhất trong năm mới có tác
động tới khả năng tích lũy đơn vị lạnh mà cây cần. Từ đó Alan George và Bob
Nissen (1998) đã đưa ra công thức tính số đơn vị lạnh cho một vùng dựa vào
nhiệt độ bình quân của tháng lạnh nhất, công thức tính rất đơn giản như sau:
phương pháp đánh giá đơn vị lạnh CU (Chilling units) cho từng tiểu vùng, theo
công thức tính đơn vị lạnh CU của (George. A.P et al., 1998) [12], dựa trên nhiệt
độ trung bình cao nhất và thấp nhất của tháng lạnh nhất trong năm.
Y = a + b√x
2
Y = Đơn vị lạnh CU

nghiên cứu đơn vị lạnh CU bình quân tại một số vùng từ năm 1998 – 2002 và
có kết quả cụ thể như sau: tại Trùng Khánh (Cao Bằng) 291,30; thị xã Cao
Bằng 229,20; Nguyên Bình (Cao Bằng) 236,70; Bắc Sơn (Lạng Sơn) 217,50;
Sa Pa (Lào Cai) 615; Hoàng Su Phì (Hà Giang) 139,70…tác giả cũng chỉ ra
rằng những vùng có nhiệt độ trong mùa đông thấp, đủ đơn vị lạnh CU tích lũy
từ 150 – 350 CU cho phép phát triển một số giống cây ăn quả ôn đới như:
mận, hồng, đào, táo, lê.
- Lượng mưa:
Ngay cả tại Trung Quốc là nơi có diện tích và sản lượng lê rất cao,
nhưng lượng mưa trung bình hàng năm chỉ có 600mm. Các loại cây ăn quả ở
đây bao gồm: lê, táo, mận, do thiếu nước nên năng suất thấp và chất lượng quả
rất kém. Những người dân nơi đây đào những hố xung quanh cây để giữ nước,
hoặc trực tiếp tưới nước cho cây, nhờ đó mà năng suất của các loại quả được
tăng lên một cách đáng kể, đặc biệt là có khả năng duy trì và cải thiện chất
lượng quả, ngoài ra khi nghiên cứu về chất lượng của nước mưa, cụ thể là đo
độ pH trong nước mưa, nếu nước có độ pH là 3,0 - 4,0 thì sẽ ảnh hưởng tới
năng suất và chất lượng của quả lê (Willett. I, 1994) [38].
- Ánh sáng:
Lê là thuộc loại cây thích ánh sáng, yêu cầu từ 1600 - 1700 giờ trong 1
năm, cường độ ánh sáng mạnh quang hợp càng có hiệu quả tốt, trong toàn bộ
tán cây thì phần trên tán quang hợp sẽ chiếm tới 70%, còn bên trong tán và
nửa cuối tán trở xuống quang hợp chỉ chiếm 30%. Do đó những lá ở phía
ngoài tán và ở phía trên tán luôn đủ ánh sáng nên có màu đậm hơn, cành sung
sức và khoẻ, quả có hàm lượng đường cao nên có phẩm chất ngon (Lục Thu
Nông, 1999) [15, 41-42]. Theo (Trần Kiết Trung, 2003) [21, 110-202] thì
cường độ quang hợp của lê tương đối lớn, từ 30.000 - 50.000 lux, tuy nhiên
nếu lớn hơn 100.000 lux thì cường độ quang hợp lại giảm. Nếu ánh sáng quá
yếu không đủ cho cây quang hợp thì sẽ có hiện tượng cây mọc vống, thân cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



24
giống chín muộn, kết quả quan sát về sự tiếp hợp và hình thức bên ngoài cho
thấy với phương pháp này sự tiếp hợp giữa gốc ghép và cành ghép rất tốt đồng
thời sự sinh trưởng cũng khả thi (Gil-Albert,-F; Perez-de-Oteyza,-A;
Lissarrague,-JR, 1989) [33, 77-84].
Liên quan giữa gốc ghép và cành ghép (Elkins R.B, DeJong T.M, 2002)
[32, 603-607] còn nhận thấy ảnh hưởng của cành ghép và gốc ghép đến sự ra
hoa của lê. Cụ thể là vào vụ trồng thứ 3 và thứ 4(1987-1988) về việc ghép 10
giống lê Châu Á (Pyrus pyrifolia) được ghép trên 3 loại gốc ghép (Shinko,
Niitaka và Tsu Li) thì ra hoa rất sớm. Nói chung sự trao đổi qua lại giữa chồi
ghép và gốc ghép có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh sản, đó là ra hoa và số lượng
quả nhiều hoặc ít, thậm chí là ảnh hưởng cả tới chất lượng của quả, ngoài ra tác
giả cho thấy việc chọn lựa gốc ghép và cành ghép phù hợp còn thúc đẩy sự tăng
trưởng về thân, cành rất nhanh, tạo điều kiện để tăng năng suất và chất lượng.
Ở nước ta hiện nay đã có những công trình nghiên cứu về nhân giống
lê, đó là kỹ thuật nhân giống vô tính: ghép cành, giâm cành và chiết cành.
- Kỹ thuật nhân giống lê bằng phương pháp ghép:
Ghép là sự kết hợp một bộ phận của cây này với một bộ phận của cây
khác, sao cho tầng sinh gỗ (mô phân sinh) trên mặt cắt của phần ghép tiếp hợp
với tầng sinh gỗ trên mặt cắt của cây gốc ghép, tạo thành một tổ hợp ghép
cùng sinh trưởng phát triển bình thường. Ghép là phương pháp nhân giống vô
tính được thực hiện bằng sự kết hợp của bộ phận cây này với bộ phận cây
khác tạo thành một tổ hợp ghép cùng sinh trưởng, cùng phát triển như một cây
thống nhất. Khi ghép ta gắn một bộ phận của cây giống (mắt ghép hay cành
ghép) sang một gốc cây khác (gọi là gốc ghép) để tạo nên một cây mới mà vẫn
giữ được các đặc tính của cây giống ban đầu.
Trên thân cây ta thấy có 2 phần (phần vỏ và phần gỗ), ở giữa vỏ và gỗ
có một lớp chất nhầy, lớp này gọi là "tượng tầng". Lớp này gồm các tế bào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status