BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
HỒ THỊ BÍCH NGỌC NGHIÊN CỨU TRỒNG, CHẾ BIẾN BẢO QUẢN
VÀ SỬ DỤNG CỎ STYLOSANTHES GUIANENSIS CIAT 184
CHO GÀ THỊT VÀ GÀ BỐ MẸ LƯƠNG PHƯỢNG
Chuyên ngành: Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi
Mã số: 62.62.45.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. PHAN ĐÌNH THẮM
2. TS. NGUYỄN NGỌC ANH
trình thực hiện luận án. Nhân dịp hoàn thành luận án này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đối với các thầy hướng dẫn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ,
động viên, an ủi của chồng và hai bên gia đình nội ngoại cùng các bạn bè đồng
nghiệp, thân hữu gần xa đã chia sẻ cùng tôi trong thời gian hoàn thành luận án này.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Hồ Thị Bích Ngọc iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục sơ đồ x
Danh mục hình, biểu đồ và đồ thị x
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
4. Điểm mới của đề tài 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Đặc tính của cây họ đậu 4
1.1.1. Giới thiệu về cây họ đậu và đặc điểm của cỏ Stylo CIAT 184 4
2.3.3. Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của bột cỏ Stylo CIAT 184 trong khẩu
phần đến năng suất và chất lượng thịt của gà 43
2.3.4. Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của các mức bột cỏ Stylo CIAT 184 khác
nhau trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà
Lương Phượng bố mẹ 51
2.4. Xử lý số liệu 55
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
3.1. Xác định ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến năng suất và
chất lượng của cỏ Stylo CIAT 184 56
3.1.1. Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm 56
3.1.2. Tình hình thời tiết, khí hậu trong năm 2009 và 2010 ở vùng thí nghiệm 57
3.1.3. Khả năng sinh trưởng và tái sinh của cỏ Stylo CIAT 184 58
3.1.4. Ảnh hưởng của các mức phân bón đến năng suất xanh của cỏ
Stylo CIAT 184 63
3.1.5. Năng suất và sản lượng vật chất khô, protein thô của cỏ Stylo CIAT 184
ở các mức phân bón khác nhau 66 v
3.1.6. Ảnh hưởng của các mức phân bón đến thành phần hoá học của cỏ
Stylo CIAT 184 69
3.1.7. Ảnh hưởng của thời điểm cắt khác nhau đến thành phần hoá học của
cỏ Stylo CIAT 184 73
3.1.8. Sơ bộ hạch toán kinh tế trồng cỏ Stylo CIAT 184 tại Thái Nguyên 76
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp chế biến khác nhau tới sự
hao hụt các chất dinh dưỡng của bột cỏ Stylo CIAT 184 77
3.2.1. Ảnh hưởng của các phương pháp chế biến đến thời gian phơi sấy
cỏ Stylo CIAT 184 78
3.2.2. Ảnh hưởng của các phương pháp chế biến đến thành phần hóa học
của cỏ Stylo CIAT 184 79
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADF (Acid detergent fibre)
Ash
BC
BCS
CK
CP (Crude Protein)
CF (Crude fibre)
Xơ axit
Khoáng
Bột cỏ
Bột cỏ Stylo CIAT 184
Chất khô
Protein thô
Xơ thô
cs Cộng sự
DXKĐ (NFE - Nitrogen free extractives)
Dẫn xuất không đạm
ĐC
EE (Ether extract)
Đối chứng
Lippid thô
GĐ
KL
Giai đoạn
Khối lượng
KLCX Khối lượng chất xanh
Bảng 3.2b. Chiều cao tái sinh lứa 1 và lứa 2 của cỏ Stylo CIAT 184 60
Bảng 3.3a. Tốc độ sinh trưởng của cỏ Stylo CIAT 184 61
Bảng 3.3b. Tốc độ tái sinh lứa 1 và lứa 2 62
Bảng 3.4. Năng suất và sản lượng chất xanh của cỏ Stylo CIAT 184 ở các mức
phân bón 63
Bảng 3.5a. Năng suất, sản lượng chất khô và protein thô của cỏ Stylo CIAT 184
năm thứ nhất 67
Bảng 3.5b. Năng suất, sản lượng chất khô và protein thô của cỏ Stylo CIAT 184
năm thứ 2 68
Bảng 3.6a. Một số chỉ tiêu dinh dưỡng của cỏ Stylo CIAT 184 thí nghiệm 70
Bảng 3.6b. Thành phần axit amin của cỏ Stylo CIAT 184 72
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của thời gian thu cắt khác nhau đến thành phần hoá
học của cỏ Stylo CIAT 184 73
Bảng 3.8. Sơ bộ hạch toán kinh tế trồng cỏ Stylo CIAT 184 76 ix
Bảng 3.9. Thời gian phơi, sấy để đạt độ ẩm ≤ 13% (số giờ phơi) 78
Bảng 3.10. Thành phần hóa học của cỏ Stylo CIAT 184 với các phương pháp
chế biến khác nhau 79
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến chất lượng cỏ Stylo CIAT 184
khô 81
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của bột cỏ Stylo CIAT 184 đến sinh trưởng của gà
thí nghiệm 84
Bảng 3.13. Thu nhận thức ăn, protein, năng lượng và chỉ số sản xuất 88
Bảng 3.14. Năng suất thịt của gà thí nghiệm 91
Bảng 3.15. Chất lượng thịt của gà thí nghiệm 92
Bảng 3.16. Thành phần hóa học của thịt gà thí nghiệm 94
Bảng 3.17. Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 95
Bảng 3.18. Tỷ lệ loại thải và khối lượng gà thí nghiệm 96
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi gia cầm công nghiệp ngày càng phát
triển. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê đến 1 tháng 4 năm 2011 tổng đàn gia cầm
cả nước đạt 293,7 triệu con, tăng 5,9%; thịt gia cầm hơi đạt 386,3 nghìn tấn, tăng
16,8% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, chăn nuôi gia cầm theo hướng công
nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn (Tổng cục Thống kê, 2011) [50]. Tuy nhiên, giá thành
các loại thức ăn truyền thống giàu protein trong sản xuất thức ăn hỗn hợp ngày càng
tăng. Giá thức ăn chăn nuôi tại thị trường Việt Nam hiện cao hơn giá sản phẩm cùng
loại tại các nước trong khu vực khoảng 8 - 12%. Bình quân giai đoạn 2005 - 2010, tốc
độ tăng trưởng của ngành thức ăn chăn nuôi đạt 14% năm (Hoàng Ngân, 2011) [30].
Bên cạnh đó, nhằm đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng, các công ty sản xuất thức
ăn đã phải sử dụng chế phẩm tạo màu trong thức ăn cho gia cầm, việc này không
chỉ làm cho giá thành thức ăn hỗn hợp tăng, mà còn gây ra những nguy cơ không tốt
cho sức khoẻ của con người. Vì vậy, xu hướng tìm kiếm thức ăn vừa giàu protein lại
giàu caroten và xanthophylls đáp ứng nhu cầu của gia cầm và cải thiện chất lượng
sản phẩm đang được các nhà khoa học quan tâm.
Stylosanthes sp là cỏ bộ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, có khả năng
thích nghi rộng với các vùng sinh thái, được trồng phổ biến tại nhiều nước Châu Á
và trên thế giới. Các nghiên cứu đã cho thấy Stylosanthes guianensis CIAT 184
(Stylo CIAT 184) là cỏ trồng có năng suất và chất lượng khác nhau tùy thuộc vào điều
kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác. Nhìn chung, đây là cỏ có giá trị dinh dưỡng
cao, giàu protein, β caroten, khoáng,… Trên thế giới đã có một số công trình nghiên
cứu về cỏ Stylo CIAT 184 như là một nguồn protein và chất tạo màu trong khẩu
phần cho gia súc, gia cầm. Cỏ Stylo CIAT 184 có protein thô dao động từ 12,1 -
18,1% CK trong thân lá (Sukkasem và cs, 2002) [259], và có thể lên đến 21% CK ở
lá (Huy và cs, 2000) [143]. Cỏ chứa β caroten có thể chuyển đổi với hiệu quả khác
nhau trong cơ thể động vật để thành vitamin A và cùng với các xanthophylls, nó có
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào nguồn tư liệu về trồng cỏ
Stylo CIAT 184, giá trị dinh dưỡng, phương pháp chế biến và thời gian bảo quản, 3
hiệu quả sử dụng các tỷ lệ bột cỏ Stylo CIAT 184 trong chăn nuôi gà thịt và gà sinh
sản bố mẹ.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Sử dụng cỏ Stylo CIAT 184 làm nguồn protein thực vật, thay thế một phần
nguồn protein khác trong khẩu phần ăn của vật nuôi, làm giảm giá thành sản xuất
nâng cao chất lượng thịt, trứng gà, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về thực
phẩm chất lượng cao.
- Thúc đẩy sự phát triển việc sản xuất cây thức ăn tại chỗ, cung cấp cho chăn
nuôi tạo nên sự phát triển nông nghiệp bền vững tại các tỉnh miền núi phía Bắc nói
riêng và nông nghiệp cả nước nói chung.
4. Điểm mới của đề tài
- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật canh tác cỏ Stylo CIAT 184 cho
năng suất cao.
- Đưa ra sự lựa chọn nguồn protein thực vật và sắc tố tự nhiên từ cỏ Stylo CIAT 184
sử dụng trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ.
- Xác định được thành phần hóa học và giá trị một số chất dinh dưỡng quan
trọng trong cỏ tươi và bột cỏ Stylo CIAT 184 được trồng tại Thái Nguyên để sử
dụng làm thức ăn chăn nuôi gà.
- Xác định được các tỷ lệ bổ sung bột cỏ Stylo CIAT 184 vào khẩu phần nuôi
chăn nuôi gà thịt và gà sinh sản bố mẹ cho hiệu quả cao nhất.
hòa thảo, ở hòa thảo tỷ lệ protein trong cây sẽ bị giảm rồi mới đến năng suất.
Cây họ đậu đang được đề nghị sử dụng làm thức ăn ở các vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới. Một trong các cây họ đậu được khuyến cáo như là thức ăn bổ sung
protein cho gia súc, gia cầm là cỏ Stylosanthes. Stylosanthes là một chi thực vật có
hoa thuộc họ Fabaceae. Nó thuộc phân họ Faboideae và được APGII (2003) [68]
phân loại như sau: 5
Giới (regnum): Plantae
(không phân hạng): Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo): Fabales
Họ (familia): Fabaceae
Phân họ (subfamilia):
Faboideae
Tông (tribus): Aeschynomeneae
Chi (genus): Stylosanthes Sw.
Trong chi Stylosanthes , cỏ Stylo CIAT 184 là loài đậu lưu niên ngắn, được chọn
tạo từ Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT). Chúng mọc thành bụi nhỏ với
vài cành hóa gỗ, có tiềm năng năng suất chất xanh và hàm lượng protein cao. Stylo
CIAT 184 thích nghi rộng với các loại đất và vùng khí hậu, mọc tốt trên đất cằn cỗi, đất
chua nhưng không phát triển trên đất quá kiềm (pH > 8). Stylo CIAT 184 có khả năng
chống chịu tốt đối với bệnh nấm cổ rễ ở Đông Nam Á. Một đặc điểm nổi bật của Stylo
CIAT 184 là có ít lông và mềm hơn so với các loài Stylosanthes trước đây. Cỏ là thức
ăn bổ sung tốt cho hầu hết động vật, bao gồm gia cầm, lợn và cá (Guptan và Singh,
1983) [138]. Ngoài ra, nó còn có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn và ngăn chặn cỏ
năm đạt 4.180 kg/ha/năm, 4.600 kg/ha/năm ở Zambia và 11.000 kg/ha/năm ở phía
bắc Queensland, Australia. Ở Nigeria, năng suất CK của cỏ Stylosanthes guianensis
đạt 3771 kg/ha (Ajayi và cs, 2007) [59].
Ở Việt Nam, Stylosanthes cũng được nghiên cứu từ nhiều năm trước đây.
Các nghiên cứu cho thấy, các vùng chăn nuôi, mức phân bón và nước tưới, đất
đai, khác nhau, sẽ cho năng suất khác nhau.
Tại Đắc Lắc, năng suất chất xanh của Stylo CIAT 184 đạt 12,34 tấn/ha/lứa;
3,08 tấn CK/ha/lứa (tương ứng 21,56 tấn/ha/năm), cao hơn so với năng suất ở các
vùng sinh thái khác (Lê Hòa và Bùi Quang Tuấn, 2009) [16].
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi và cs, 2008 [28], năng suất CK
Stylosanthes guianensis Plus (Stylo Plus) đạt từ 13,6 đến 19,2 tấn/ha/năm; tương đương 7
với Stylosanthes guianensis Cook (Stylo Cook) trong thí nghiệm của Lê Hà Châu
(1999a) [4]; cao hơn giống Stylo Cook (12,5 tấn CK/ha/năm) trong nghiên cứu của
Trương Tấn Khanh và cs (1999) [22].
Theo Lê Hà Châu (1999b) [5], giống Stylo Cook có thể cho năng suất xanh 21
tấn/lứa cắt/ha (4 lứa/năm) hoặc giống S. guianensis FM05-2 và Stylo CIAT 184 được
trồng ở các vùng khác có khả năng cho năng suất CK đạt 11,4 - 12,5 tấn/ha/năm
(Nguyễn Ngọc Hà và cs, (1995) [11]; Trương Tấn Khanh và cs, (1999) [22].
Hoàng Văn Tạo và cs (2010) [37], cho biết cỏ Stylo CIAT 184 trồng tại Nghĩa
Đàn đạt sản lượng từ 52,5 đến 65,2 tấn/ha/năm; năng suất CK đạt từ 12,48 đến
15,31 tấn/ha/năm; năng suất protein từ 2,01 đến 2,46 tấn/ha/năm ở hai mức phân
bón hóa học và ba mức phân bón hữu cơ khác nhau. Tương tự, Hoàng Văn Tạo và
cs (2010) [37] cho biết sản lượng chất xanh của cỏ Stylo Plus đạt từ 49,70 đến 62,00
tấn/ha/năm; năng suất CK đạt từ 11,70 đến 14,92 tấn/ha/năm; năng suất protein từ
1,99 đến 2,53 tấn/ha/năm ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân bón hữu cơ
khác nhau.
1.1.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá một số loại cây họ đậu
alfalfa trồng tại Lâm Đồng chứa 17,7% CK, protein thô 24,46%, khoáng 11,38%,
lipit 3,55% (Lê Văn An, Đặng Thị Diệu, 2008) [1]. Zehnder và cs (1998) [275]: bột
cỏ alfalfa chứa từ 93,77 - 96,8% CK; protein thô 21,85 - 22,88%; xơ trung tính:
28,59 - 32,73%; xơ axit 15,96 - 19,20%. Cỏ alfalfa ở dạng viên chứa 23,6% protein
thô và 44,5% xơ trung tính. Cỏ khô có 22,0% protein thô và 43,9% xơ trung tính
(Akayezu và cs, 1997) [61].
Keo giậu được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi. Hàm lượng protein thô của
keo giậu biến động theo loài và giống. Gupta và cs (1986) [136], khi nghiên cứu
trên 9 loài keo giậu cho thấy: CK dao động từ 15,56% đến 22,34%. Keo giậu trồng tại
Việt Nam có hàm lượng protein thô khá cao. Theo Lê Hòa Bình và cs (1993) [3] hàm
lượng protein thô đạt 25% CK. Các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà (1996) [12] cho
biết protein thô dao động từ 26,4 - 26,7% CK. Keo giậu trồng tại Thái Nguyên chứa
6,3%; 29,56% protein; 0,6%; 2,7% lipit tương ứng lá tươi và bột lá (Từ Quang Hiển
và cs, 2008) [14].
Một số nghiên cứu khác cho thấy cây keo giậu tương đối giàu protein thô (22 -
34%) và các axit amin thiết yếu, khoáng, carotenoit và vitamin (D'Mello và Fraser, 9
1981) [100]; (Aletor và Omodara, 1994) [64]; (Munguti và cs, 2006) [188], (Dhar và
cs, 2007) [110]; (Onibi và cs, 2008) [210]; (Atawodi và cs, 2008) [72].
Cây keo củi được nhập và trồng ở một số địa phương của Việt Nam.
Keo củi có hàm lượng protein khá cao, khoảng 22 - 24,5% tính theo CK
(Nguyễn Ngọc Hà, 1994) [10]; (Nguyễn Thị Mùi và cs, 2004) [26]. Hàm lượng các
chất dinh dưỡng trong cây keo củi trồng tại Cần Thơ từ 27,54 - 31,95% CK, 22,12 -
27,84% protein thô (Nguyễn Thị Hồng Nhân và cs, 2008) [31].
Ở miền núi khu vực phía Bắc, cây họ đậu được trồng kết hợp chống xói
mòn với làm thức ăn chăn nuôi. Từ Quang Hiển và cs (2008) [14] cho biết thành
phần hóa học của lá tươi và bột lá của 2 giống họ đậu trồng tại Thái Nguyên như sau:
D. rensoni chứa 4,7%; 15,6% protein; 0,5%; 1,7% lipid tương ứng lá tươi và bột lá,
- 45 ngày tại Lào chứa 20,2% CK; tính theo CK có 19% protein thô; 64,2% xơ trung
tính; 5,5% khoáng (Phengsanvanh, 2003b) [225]. Theo Chanphone Keoboualapheth
và cs, 2003 [93], Stylo CIAT 184 có 22,3% CK; protein thô 19,3%; Xơ thô 30%;
khoáng 5,1%, Ca 0,2%; P 0,4%. Toum Keopaseuht, (2004) [266] cho biết hàm lượng
CK đạt từ 20,0 - 28,0%; protein thô 13,3%; xơ trung tính 16,9% tính theo CK.
Omole và cs (2007) [209] cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria
có CK 19,75%; protein thô 19,91%; 13,28% xơ thô; 1,34% lipit thô; 9,38% khoáng
tổng số; DXKĐ 56,03% CK. Stylosanthes scabra trồng tại Rwanda có hàm lượng của
protein thô là 21% (Mupenzi và cs, 2008) [189]. Giá trị dinh dưỡng của cỏ
Stylosanthes guianensis khô 6 tuần sau thu hoạch ở Nigeria 92,1% CK; tính theo CK
có 10,6% protein thô, 32,8% xơ thô; 7,3% khoáng (Bamikole và Ezenwa, 1999) [74].
Cỏ Stylosanthes trồng tại Zaire, có thành phần dinh dưỡng biến động từ 15 -
17% protein thô, 33 - 40% xơ thô 0,1 - 0,2% P, 0,8 - 1% Ca, 1,2 - 1,8% K, 0,3-0,8%
Mg, 0,02% Na và 0,1 - 0,8% Cl tính theo vật chất khô. (Ecoport, 2001) [113].
Hỗn hợp bột cỏ Stylosanthes bao gồm 45% S. guianensis, 45% S. hamata và
10% S. scabra có chứa 13% protein thô, 2,7% chất béo thô, 32% chất xơ thô, 37,4%
DXKĐ, tro 4,1%; 1,13% Ca và 0,11% P trong CK (Bai Changjun và cs, 2004) [73].
Ở Việt Nam, thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylosanthes
cũng được các nhà khoa học công bố. Theo Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn (2009) [16]:
cây đậu Stylo CIAT 184 có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ protein thô đạt 16,86%. Tỷ
lệ sử dụng của cỏ Stylosanthes cũng tương đối cao (87,6%). Trên cả ba vùng nghiên 11
cứu (Thái Nguyên, Lâm Đồng, Ba Vì), hàm lượng protein của cỏ Stylo Plus đạt bình
quân 17% (Nguyễn Thị Mùi và cs, 2006) [27].
Cũng như các cây họ đậu khác, cỏ Stylosanthes cũng chứa nhiều axit amin
quan trọng (Bảng 1.1).
Bảng 1.1.
Thành phần một số axit amin của cỏ
Nguồn: Kopinski và cs, 2011 [165]
Như vậy, cỏ Stylosanthes guianensis, khi trồng ở các nước, các vùng sinh
thái khác nhau, thời gian thu mẫu, phương pháp phân tích khác nhau thì hàm lượng
các chất dinh dưỡng trong cỏ cũng khác nhau: protein dao động từ 13,3% - 19,0%,
Xơ thô 13,28% - 40,0%, lipit 1,34% - 2,7% CK. 12
1.1.3. Chất kháng dinh dưỡng trong cây họ đậu
Trong các cây họ đậu, sự cố định nitơ làm thoả mãn nhu cầu đạm của chính
nó. Trước tiên nitrogen liên kết tạo những sản phẩm alkaloide hoặc những axit amin
bất thường không thông dụng, có cấu trúc gần giống với những axit amin thiết yếu.
Chúng không thực hiện được chức năng sinh học như những axit amin thiết yếu, trở
thành yếu tố đối kháng với axit amin gần giống với nó. Khi động vật ăn vào và hấp
thu axit amin này vào cơ thể, nó làm thay đổi một số phản ứng trong trao đổi axit
amin, gây rối loạn quá trình trao đổi chất và gây độc cho cơ thể. Theo D'Mello
(1992) [104], nhiều loại cây bộ đậu nhiệt đới có chứa axit amin bất thường. Đã có
nhiều trường hợp ngộ độc trên vật nuôi do ăn phải hạt một số cây họ đậu nhiệt đới
như hạt cây đậu chàm (Indigofera spicata) hoặc hạt cây Lathryus cicera
Chất kháng dinh dưỡng, nói chung là không gây chết, nó chỉ làm giảm khả
năng sinh trưởng nhưng cũng có thể gây độc khi cho ăn với số lượng lớn. Chúng ức
chế trypsin, gây ảnh hưởng bất lợi cho động vật dạ dày đơn, nhưng không ảnh
hưởng bất lợi ở động vật nhai lại vì chúng bị phân hủy trong dạ cỏ (Cheeke và
Shull, 1985) [95].
Các chất kháng dinh dưỡng có thể được chia thành hai loại chính: Thứ nhât
là protein (các lectin và chất ức chế protease) - rất nhạy cảm với nhiệt độ, thứ hai là
các chất khác như hợp chất polyphenolic (chủ yếu là ngưng tụ tannin) , các axit
amin không protein (Osagie, 1998) [213]. Các chất kháng dinh dưỡng đã được
chứng minh là có hại cho sức khỏe của người và động vật nếu tiêu thụ vượt quá số
lượng cho phép (Sugano và cs, 1993) [256].
trong cỏ alfalfa làm chậm sự phát triển của động vật dạ dày đơn do giảm lượng
thức ăn tiêu thụ (Cheeke và Shull, 1985) [95]. Tương tự, saponin cũng được tìm
thấy trong lá cây điền thanh (3, 71%) (Shqueir và cs, 1989) [249]. Bột lá điền
thanh chứa 0,71% saponin làm giảm sinh trưởng của gà, lợn và bê. Trong dịch ép cỏ
alfalfa cũng có chất ức chế enzyme tiêu hoá protein (antiproteinase).
Alkaloide
Alkaloide là những hợp chất hữu cơ có chứa nitơ, có tính kiềm nhẹ, phần lớn
có nguồn gốc từ thảo mộc, chỉ với một liều nhỏ cũng tạo ra tác dụng sinh học rất
mạnh. Hiện nay, người ta đã tìm thấy có trên 3000 chất alkaloide khác nhau và 30
trong số đó đã được sử dụng rộng rãi trong y học và được nghiên cứu kỹ. 14
Trong thực tiễn, khi thả động vật trên đồng cỏ có một số cây họ đậu như cỏ
ngôi sao (Lupinus) là loại cây họ đậu hoa trắng (Lupinus albus), hoặc hoa vàng
(Lupinus luteus), chúng sẽ bị bệnh lupinozis. Sau này, người ta xác định do cỏ
Lupin có chứa chất kinolizidin là rất độc gây hại cho gan, làm thoái hoá và mỡ hoá
gan. Alkaloid gây ra rối loạn tiêu hóa và thần kinh (Aletor, 1993) [63]. Alkaloide
trong loại cỏ này không bị phá hủy bởi qúa trình phơi và sấy, do đó sự ngộ độc trên
gia súc thường xảy ra cả khi cho bò ăn cỏ Lupin khô. Sự ngộ độc do loại cỏ này xảy
ra ở bò sữa mang thai kỳ cuối hoặc mới đẻ còn gây ra bệnh ketosis cho bò.
Một số chất kháng dinh dưỡng khác
Chất ức chế trypsin và chymotrypsin là các protein phổ biến trong thực vật.
Nó làm giảm tiêu hóa protein và giảm nồng độ của các axit amin, đặc biệt là axit
amin chứa lưu huỳnh (Wang và cs, 1998) [271]. Liener và Kakade (1980) [169] đã
chỉ ra rằng các chất ức chế protease có thể gây ra chậm tăng trưởng, phì đại tuyến
tụy ở gà. Nó ức chế tuyến tụy tiết ra enzyme (Liener, 1989) [170], (các enzym
tuyến tụy rất giàu các axit amin lưu huỳnh) gây ra sự mất methionine và cysteine để
tổng hợp các mô trong cơ thể.
Các glycoalkaloids, solanine và chaconine gây rối loạn đường tiêu hóa và