TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Khoa LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC –
LÊNIN ( PHẦN 3 ) :
NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC – LÊNIN VỀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
HIỆN THỰC VÀ TRIỂN VỌNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Khoa LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC –
LÊNIN ( PHẦN 3 ) :
NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC – LÊNIN VỀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
HIỆN THỰC VÀ TRIỂN VỌNG
TP.HỒ CHÍ MINH , 12/2009
DANH SÁCH SINH VIÊN LỚP 31 – KHÓA 34
Stt Họ Tên NgàySin
h
Nhiệm Vụ Ký tên
2
01 Lê Hồng Ân 25/09/90 Tìm tài liệu phần II
02 Trần Hải Bắc 25/09/90 Tìm tài liệu
03 Nguyễn Hữu Binh 14/07/90
04 Lê Phước Bình 16/08/90 Tìm tài liệu
05 Nguyễn Công Bình 01/07/90
06 Lê Thị Bích Chi 30/12/90 Tìm tài liệu và tổng hợp phần II
07 Đặng Huy Quốc Cường 01/01/90 Thuyết trình
08 Phan Thị Thùy Dung 27/09/90
09 Nguyễn Võ Duy 30/03/90 Tìm tài liệu phần II
10 Nguyễn Thị Mộng Đào 29/04/90
11 Nguyễn Thị Chí Hân 10/11/90 Tìm tài liệu phần III
3
42 Lưu Đức Trí 11/01/90
43 Trương Bảo Trị 13/02/90
44 Phạm Anh Tuấn 10/08/90 Tìm tài liệu phần II
45 Nguyễn Ngọc Tuyền 01/02/90 Tìm tài liệu
4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
bộ mặt giả dối, phản động của chính phủ tư sản Kê-ren-ski; mặt
khác đẩy tới khí thế cách mạng của các Xô-viết công-nông-binh ở cơ sở, nhằm lúc tình
thế nhân dân không thể sống như cũ, chính phủ tư sản Kê-ren-ski không thể tiếp tục lừa
dối nhân dân để tham gia chiến tranh thế giới thối nát như cũ, đã tổ chức và lãnh đạo
khắp nơi khởi nghĩa.
7
• Kết quả :
Ngay trong đêm 7 tháng 11 năm 1917 (25 tháng 10 theo lịch Nga), Đại hội Xô
Viết toàn Nga lần thứ hai tuyên bố khai mạc tại điện Smoniyl và tuyên bố thành lập chính
quyền Xô Viết do Lenin đứng đầu. Các sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xô Viết đã
được thông qua là Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnh ruộng đất. Chính quyền Xô Viết còn
thực hiện các biện pháp thủ tiêu các tàn tích của chế độ cũ như xóa bỏ sự phân biệt đẳng
cấp, những đặc quyền của giáo hội, nam nữ bình đẳng. Đối với các dân tộc, chính phủ Xô
Viết công bố bản Tuyên ngôn về quyền các dân tộc ở Nga khẳng định quyền bình đẳng
của các dân tộc và cho phép các dân tộc có quyền tự quyết như công nhận nền độc lập
của Ba Lan, Phần Lan. Các cơ quan trung ương và Xô Viết các địa phương được thành
lập. Tháng 12 năm 1917, Hội đồng kinh tế quốc dân tối cao được thành lập nhằm xây
dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Ngày 3 tháng 3 năm 1918, nước Nga Xô Viết kí Hòa
ước Brest-Litovsk với các nước phe Liên minh Trung tâm chính thức rút khỏi Thế chiến
thứ nhất .
Cách Mạng Tháng Mười Nga đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản
và giai cấp phong kiến địa chủ , lập nên chính quyền của những người lao động , xây
dựng một xã ội hoàn toàn mới , một xã hội không có tình trạng người bóc lột người .
• Nguyên nhân thắng lợi :
Nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là do đường lối đấu tranh
và sách lược đúng đắn của đảng Bolshevik mà lãnh đạo là Lenin, biết lợi dụng sức mạnh
quần chúng đang chịu nhiều khổ cực do chiến tranh đế quốc. Ngoài ra, cuộc cách mạng
cũng biết lợi dụng hoàn cảnh quốc tế thuận lợi khi các nước đế quốc đang tham gia vào
Thế chiến thứ nhất, không có điều kiện can thiệp vào nước Nga.
• Bài học lịch sử từ cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại :
xa như thế ” .
Đối với cách mạng nước ta, Cách mạng Tháng Mười là ngọn đuốc soi đường cho
dân tộc ta thoát khỏi gông xiềng nô lệ, tối tăm, nghèo nàn để vươn lên ấm no, hạnh phúc.
Từ đó, Người dẫn dắt dân tộc ta đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười - gắn độc
lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Đó là
con đường duy nhất đúng đắn, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta, phù
hợp với xu thế phát triển của thời đại.
II. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN
THỰC:
Giai đoạn thứ nhất: Từ sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917 đến kết thúc
Chiến tranh thế giới lần thứ hai năm 1945.
9
Giai đoạn này là giai đoạn chủ nghĩa xã hội mới hình thành trên phạm vi một số
nước như Liên Xô, Mông Cổ. Cuộc cách mạng Tháng Mười là cuộc Cách mạng đầu tiên
trong lịch sử đưa nhân dân lao đông từ những người làm thuê trở thành những người làm
chủ đất nước. Sức mạnh của chế độ mới đã giúp nhân dân lao động Nga đứng vững trong
cuộc nội chiến, đập tan âm mưu can thiệp của chủ nghĩa đế quốc. Với khí thế lao đông
của những con người được giải phóng, thông qua chính sách kinh tế mới, thông qua con
đường hợp tác hóa trong nông nghiệp, công nghiệp hóa đất nước, sau 20 năm Liên Xô đã
tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế. Đó là những nguyên nhân giúp Liên Xô
đánh bại chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, cứu nhân loại khỏi chủ
nghĩa phát xít.
Giai đoạn thứ hai: Từ sau năm 1945 đến đầu những năm 1970.
Đây là giai đoạn chủ nghĩa xã hội phát triển thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế
giới.
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời,
nhất là từ sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xuất hiện, cùng với những thành
tựu to lớn của xã hội chủ nghĩa về kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học kĩ thuật, v.v., hệ
thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh
vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh của những thế lực phản
chống phá quyết liệt của kẻ thù và sự phản bội của một số người cộng sản, chứ hoàn toàn
không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội và lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội như
một số người vẫn đang rêu rao.
Đây cũng là bài học kinh nghiệm trong quá trình đổi mới của các nước xã hội chủ
nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn từ đầu những năm 1990 tới nay.
Giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa xã hội thế giới tạm thời lâm vào thoái trào. Cùng
với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, nhiều đảng cộng sản
và công nhân bị tan rã, nhiều đảng viên xin ra khỏi đảng. Nhiều nước dân tộc chủ nghĩa
đã định hướng lên chủ nghĩa xã hội, nhưng giờ đây mất chỗ dựa về vật chất và tinh thần,
các lực lượng phản động giành lại chính quyền đưa đất nước theo con đường khác.
Ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới giảm đi nghiêm trọng.
Những thế lực phản động quốc tế đang dùng trăm phương, nghìn kế bằng nhiều
luận điệu khác nhau để xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và phá hoại sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, nhằm xác lập sự thống trị tuyệt
đối của chủ nghĩa tư bản trên thế giới.
Lịch sử đang đặt ra những thử thách to lớn cho chủ nghĩa xã hội, phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế.
Để vượt qua những thử thách đó, các nước xã hội chủ nghĩa phải tự đổi mới, phải
khắc phục những yếu kém, nhược điểm hạn chế trong các lĩnh vực của đời sống xã hội,
tranh thủ những điều kiện thuận lợi do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra,
không ngừng nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân, để nâng cao sức
mạnh mọi mặt của đất nước.
11
Trải qua những thăng trầm của lịch sử, những người cộng sản ở các nước thuộc
Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu hiện nay đã nhận rõ bộ mặt kẻ thù, đang ra sức
tập hợp lực lượng, tiến hành cuộc đấu tranh bền bỉ nhằm khôi phục những giá trị của chủ
nghĩa xã hội để đưa đất nước trở lại con đường xã hội chủ nghĩa.
Từ thực tế những năm vừa qua giúp cho giai cấp công nhân, nhân dân tiến bộ trên
thế giới thấy được bộ mặt thật và tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại, từ
12
định xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Đó cũng là chiến công của chủ nghĩa xã hội
hiện thực
Ngày nay, sự nghiệp cải cách và đổi mới đang được các nước XHCN như Trung
Quốc, Việt Nam, Cuba tiến hành đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Đó chính là
tấm gương, trở thành nguồn cổ vũ, động viên các dân tộc, đặc biệt là các nước ở Châu
Mỹ Latinh đấu tranh chống lại sự bóc lột, bất bình đẳng và sự áp đặt chủ nghĩa tự do mới
của các nước đế quốc. Đồng thời, ở Châu Âu, nhiều đảng cánh tả đã hoạt động trở lại và
tham gia ngày càng tích cực vào đời sống chính trị ở các nước tư bản.
Chế độ xã hội chủ nghĩa không chỉ đảm bảo quyền làm chủ trên thực tế cho nhân
dân lao động ở các nước xã hội chủ nghĩa mà còn thúc đẩy phong trào đấu tranh cho
quyền tự do dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa và trên toàn thế giới.
Trong hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, dù gặp phải nhiều khó khăn từ sau
cuộc chiến tranh chống phatxit và gặp phải sự chống phá từ các nước phương Tây nhưng
nền kinh tế ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa vẫn đạt được sự phát triển mạnh mẽ
về tiềm lực kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn với trình độ
hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện.
Về kinh tế : Trước CM tháng mười, Nga bị lạc hậu so với các nước phát triển khác
từ 50 đến 100 năm.Khi mới bắt đầu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, thu nhập quốc dân
bình quân đầu người chỉ bằng 1/22 của Mỹ cùng thời nhưng chỉ sau thời gian ngắn, Liên
Xô chỉ cần 20 năm để trở thành một nước siêu cường công nghiệp đứng đầu châu Âu và
đứng thứ nhì thế giới trong suốt hơn 40 năm. Trong suốt 70 năm sau Cách mạng tháng
Mười, nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Liên Xô luôn gấp đôi Mỹ. Liên Xô đã thực hiện
nhiều kế hoạch dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và
đã thu được nhiều thành tựu to lớn.Năm 1972, so với năm 1922 – 50 năm sau khi thành
lập Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết, sản lượng công nghiệp tăng 321 lần, thu
nhập quốc dân tăng 112 lần.
Trong những thập niên 50, 60 và nửa đầu 70, Liên Xô là cường quốc công nghiệp
đứng hàng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Mĩ); tới giữa thập niên 70, sản lượng công nghiệp
của Liên Xô đã chiếm khoảng 20% tổng sản lượng công nghiệp của toàn thế giới.Trong
dân chủ và hòa bình. Năm 1919, chỉ một nước XHCN với 16% diện tích và 7,8% dân số
thế giới; sau gần 70 năm đã có 15 nước XHCN, chiếm 26% lãnh thổ và 1/3 dân số thế
giới; và với sự ủng hộ, giúp đỡ toàn diện của các nước XHCN, từ sau Chiến tranh thế
giới lần thứ II phong trào giải phóng dân tộc đã giành được những thắng lợi nhất định -
hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc với 72% diện tích và 70% dân số thế giới hầu
như hoàn toàn tan rã và đã có hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi ra đời.
Không ai có thể phủ nhận được rằng, Liên Xô và phong trào cộng sản quốc tế đã
có công lao vĩ đại góp phần cứu loài người thoát khỏi thảm họa phát xít trong Chiến tranh
thế giới lần thứ II. CNXH hiện thực cũng là lực lượng đấu tranh tích cực để bảo vệ, củng
cố nền hòa bình thế giới; ngăn chặn và làm thất bại nhiều âm mưu xâm lược và gây chiến
tranh hủy diệt của chủ nghĩa đế quốc.
Ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa có sức lan mạnh mẽ, cá nước phương
Tây cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, nhân dân lao động ở các nước này cũng đã đấu tranh
đòi các quyền dân sinh, dân chủ, phúc lợi xã hội… Với sức ép từ các nước xã hội chủ
nghĩa, các nước phương Tây đã phải nhượng bộ và chấp nhận rất nhiều các yêu sách đó.
Trong suốt quá trình tồn tại của mình, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã trải qua một
thời kì phát triển rực rỡ, đạt được những thành tựu hết sức to lớn, góp phần vào tiến trình
14
phát triển của lịch sử xã hội loài người.Mặc dù thời gian tồn tại của hệ thống xã hội chủ
nghĩa chỉ tồn tại trong thời gian ngắn 70 năm để rồi sau đó rơi vào khủng hoảng và bị sụp
đó nhưng không ai có thể phủ nhận được một Liên Xô, một hệ thống các nước xã hội chủ
nghĩa phát triển rực rỡ.
2. Hạn chế:
Những đặc điểm tập trung hóa, kế hoạch hóa cao độ dưới sự lãnh đạo của Đảng
như vậy có tác dụng dễ dàng tập trung được nguồn lực quốc gia cho các mục tiêu trọng
điểm, những ưu tiên của đất nước . Nhưng đồng thời nó thường không gắn liền với hiệu
quả kinh tế nên thường gây lãng phí rất lớn: Kinh tế phát triển nhanh nhờ khai thác rất
lớn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và năng suất lao động tăng không tương xứng. Các
chỉ tiêu phát triển được duy trì cao nhưng mức sống của nhân dân ngày càng kém so với
các đối thủ tư bản ở nước ngoài.
khó khăn cực kỳ to lớn, ngay lúc mới ra đời nằm trong vòng vây thù địch của chủ nghĩa
đế quốc và sự phản loạn từ bên trong, dù bị bao vây kinh tế hay chiến tranh thế giới đều
không thể đánh đổ được Liênxô, không thể đánh đổ được chủ nghĩa xã hội. Không những
thế trong khó khăn thử thách đã làm cho chủ nghĩa xã hội không ngừng lớn mạnh, từ một
nước đã trở thành hệ thống thế giới. Liênxô từ một nước kinh tế, văn hoá lạc hậu phát
triển thành một “siêu cường”, đối trọng với Mỹ- cường quốc tư bản chủ nghĩa số một thế
giới. Nhưng tại sao trong một thời gian ngắn lại xảy ra những thay đổi to lớn đến thế?
Nguyên nhân của nó ở đâu? Cần có lời giải xác đáng.
Trước hết, là do quan niệm giản đơn, phiến diện quy luật về mối quan hệ giữa sản
xuất và lực lượng sản xuất; cho rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xây dựng nhanh
quan hệ sản xuất tiên tiến trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém và lạc hậu,
và cho rằng, quan hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển
mạnh mẽ.
Sau khi V.I.Lênin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếp tục
thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ. Thời gian đầu, kế hoạch hóa
tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập trung
quan liêu, bao cấp. Sau chiến tranh thế giới lần 2, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình
này. Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy
ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính
chủ động, sáng tạo của người lao động.
Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây dựng năng lực cầm quyền của
một chính đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền chưa thực hiện đầy đủ, khiến
Đảng không phát huy được vai trò của người lãnh đạo, người tổ chức nhân dân; vừa
không phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội , dẫn đến tình trạng quan liêu, tham
nhũng, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn.
Một nguyên nhân chủ quan khác là đánh giá quá cao CNXH hiện thực và đánh giá
quá thấp chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc; chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn
trong việc hoạch định các bước đi của tiến trình xây dựng CNXH (như quan điểm của
Liên Xô về “CNXH đã hoàn toàn thắng lợi”, “xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”,
“CNXH phát triển” ), không thấy hết tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của thời kỳ
này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới, phủ định quá khứ được các đài, báo phương Tây
tiếp sức mạnh mẽ và lái theo những ý đồ, mục đích của phương Tây.
Về tổ chức. Chế độ tập trung trong Đảng bị phá hoại, không những làm cho Đảng
mất khả năng của bộ chỉ huy chiến đấu mà ngay mâu thuẫn trong đảng cũng không giải
quyết nổi. Tính chất quan liêu, giáo điều bảo thủ rất nặng nề ở bộ phận lãnh đạo cấp cao
của Đảng và nhà nước tác động to lớn đến đời sống xã hội. Nhân danh cải tổ với khẩu
17
hiệu dân chủ hoá, công khai hóa trong bộ phận lãnh đạo cấp cao đã hình thành các phe
nhóm. Với chiêu bài phi chính trị lực lượng vũ trang, quân đội có nhiệm vụ bảo vệ tổ
quốc chứ không thuộc đảng phái nào để tách lực lượng vũ trang khỏi sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản, từng bước vô hiệu hoá và giải tán Đảng Cộng sản. Sự phân liệt Đảng
Cộng sản thành các phe nhóm chính trị khác nhau, nhiều tổ chức, đảng phái chính trị ra
đời đấu tranh giành quyền lực chính trị. Khuynh hướng dân tộc ly khai nảy sinh, những
cuộc xung đột đẫm máu xảy ra tạo môi trường cho các lực lượng phản động trỗi dậy, xã
hội mất phương hướng gây thảm hoạ cho nhân dân.
- Âm mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc
Chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, thực hiện
được “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và các nước Đông Âu.
Lực lượng phản bội trong nước tìm chỗ dựa từ các chính phủ tư sản bên ngoài, các
thế lực chống chủ nghĩa xã hội cũng xem đây là cơ hội tốt để thực hiện ý đồ “diễn biến
hoà bình”. Chúng ra sức cổ vũ lôi kéo những phần tử cơ hội, phản bội giữ địa vị cao ở
các cơ quan đảng, nhà nước để đưa đất nước theo xu hướng tư bản. Khi bộ phận lãnh đạo
tối cao đã liên kết với lực lượng đế quốc bên ngoài thì chủ nghĩa xã hội theo mô hình
Xôviết dễ dàng sụp đổ.
Các chiến lược gia phương Tây sớm nhận ra “gót chân Asin” của cải tổ: đó là
đường lối xét lại, là hệ tư tưởng tư sản, là chính sách thỏa hiệp, nhân nhượng vô nguyên
tắc với Mỹ và phương Tây thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới”. Hứa hẹn viện trợ
kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộc cải tổ theo quỹ đạo mà
phương Tây mong muốn. Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”
trong nội bộ Liên Xô và Đông Âu.
đã có sự cải cách đổi mới mô hình đi lên chủ nghĩa xã hội và đã đạt được những thành
tựu đáng kể, điển hình là Việt Nam và Trung Quốc; ngoài ra hiện nay đã xuất hiện các
yếu tố xã hội chủ nghĩa đang nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư bản và những nhân tố mới
của xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở một số quốc gia trong thế giới đương đại
I. Bản chất của chủ nghĩa tư bản không thay đổi:
Không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của chủ nghĩa tư bản đối với lịch sử phát
triển của nhân loại. C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng đánh giá rất cao vai trò lịch sử của
giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của đảng cộng sản, các
ông viết “giai cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”; song các ông
cũng dự báo và chứng minh những dự báo của mình “sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự
thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”
Tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” đã chỉ ra
những mâu thuẫn, xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa đế quốc là giai
đoạn “tột cùng”, ăn bám, giãy chết và là phòng chờ của chủ nghĩa xã hội. Nhưng tình
hình thực tế trong mấy thập niên vừa qua, do biết “tự điều chỉnh và thích ứng”, đồng thời
nhờ sử dụng triệt để những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, các nước tư
bản chủ nghĩa đã vượt qua một số cuộc khủng hoảng và vẫn còn khả năng phát triển.
Nhưng đó không phải là chế độ xã hội tương lai của nhân loại bởi bản chất bóc lột, phản
dân chủ, vô nhân đạo phản dân chủ của chủ nghĩa tư bản không thay đổi. Chính phương
thức sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa gây ra những ung nhọt
không thể chữa khỏi. Đó là tình trạng khủng hoảng kinh tế, ngoài khủng hoảng mang tính
chu kỳ ra còn có khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng thể chế, khủng hoảng tài chính tiền
tệ… Các loại khủng hoảng và những khó khăn của chủ nghĩa tư bản đã dẫn tới hàng loạt
vấn đề xã hội nảy sinh như tình trạng thất nghiệp, nghèo khó và chênh lệch giàu nghèo xã
hội, mâu thuẫn dân tộc tăng lên, trật tự xã hội hỗn loạn, hoạt động tội phạm gia tăng…
Trong cuốn sách “Ngoài vòng kiểm soát” (xuất bản năm 1993), Brêdinxky đã cay
đắng thừa nhận 20 khuyết tật của xã hội Mỹ vào thời điểm đó và dự báo Mỹ sẽ mất vai
trò siêu cường vào thế kỷ XXI. Trong 20 khuyết tật ấy, có những khuyết tật đã trở thành
phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa như: chăm sóc y tế không đầy đủ, giáo dục trung
học kém chất lượng, vấn đề phân biệt chủng tộc, nghèo đói ngày càng sâu sắc, tội ác bạo
nghiệp bằng 85% của Mỹ. Với công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, Liên Xô đã trở
thành một nước có trình độ học vấn cao, thu được những thành tựu đáng kể trong việc
chăm sóc sức khỏe, phát triển y tế và đảm bảo phúc lợi cho nhân dân lao động. Trước
Cách mạng tháng Mười, ¾ nhân dân Liên Xô bị mù chữ, chỉ sau 20 năm, nạn mù chữ đã
bị xoa bỏ. Vào cuối những năm 1980, Liên Xô là một trong những nước có trình độ học
vấn cao nhất thế giới (164 triệu người có trình độ trung học và đại học, số lượng các nhà
khoa học trên nhiều lĩnh vực cũng đứng vào hàng đầu thế giới). Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa trước đây đã đạt được nhiều bước tiến trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học,
chinh phục vũ trụ, có tiềm lực quân sự và công nghiệp quốc phòng hùng mạnh. Trong các
lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học và công nghệ cũng có những thành tựu rất to lớn.
2. Sự sụp đổ của Liênxô và các nước Đông Âu không có nghĩa là sự cáo chung
của chủ nghĩa xã hội
Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, sự kiện Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới bị tổn thất nghiêm trọng. Kẻ thù thì vội
vã vui mừng rêu rao về “cái chết của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác-Lênin nói
chung”, còn người dân cũng không khỏi hoang mang bối rối.
22
Sự thật, sự tan rã của Liên xô, Đông Âu không phải là sự thất bại của chế độ và
nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà chỉ là sự thất bại của một mô hình thực tiễn
nhất định trong quá trình đi đến mục tiêu xã hội chủ nghĩa-mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu
Liên Xô và Đông Âu, mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc-nó không đồng nghĩa với sự
sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một hình thái kinh tế xã hội mà loài người
đang vươn tới. Sự sụp đổ của Liênxô và Đông Âu cũng không vì thế mà thay đổi nội
dung, tính chất của thời đại. Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội, sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên xô và Đông Âu chỉ chứng tỏ
tính quanh co, phức tạp của sự phát triển xã hội mà thôi. Tương lai của xã hội loài người
vẫn là chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử. Tính chất của
thời đại hoàn toàn không thay đổi, loài người vẫn trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã họi trên phạm vi toàn thế giới mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười
Nga vĩ đại. Các mâu thuẫn của thời đại vẫn tồn tại, chỉ thay đổi hình thức biểu hiện và đặt
khai, minh bạch, gia tăng sự giám sát của các cấp, của công luận, của Quốc hội, của Hội
đồng nhân dân các cấp, của các tổ chức xã hội, tinh giản bộ máy và biên chế,…
- Xây dựng các tổ chức xã hội phi chính phủ đa dạng gồm các nghề nghiệp, văn
hóa, tôn giáo, xã hội,…; các tổ chức này ngày càng có vai trò to lớn trong các lĩnh vực
mà Nhà nước không với tay tới, như từ thiện, cứu trợ người nghèo,…
- Hội nhập quốc tế sâu rộng, tham gia vào hầu hết các tổ chức quốc tế, Liên hợp
quốc, các tổ chức khu vực, đặc biệt là đã gia nhập WTO, trở thành những quốc gia tích
cực trong hội nhập khu vực ASEAN, Đông Á.
- Bảo đảm sự cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng Sản đối với công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước trên tất cả các mặt. Sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng
Cộng Sản Trung Quốc, của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang được đổi mới theo
hướng khoa học, dân chủ và hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Trung Quốc
và Việt Nam.Xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường khó khăn lâu dài,
trải qua nhiều giai đoạn.
Tổng kết gần 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc(1978-2007), Đại hội XVI
Đảng cộng sản Trung Quốc (tháng 10 năm 2007) đã khẳng định: Cuộc đại cải cách, đại
mở cửa chưa từng diễn ra trong lịch sử đã huy động tính tích cực của hàng trăm triệu
người khắp các địa phương, làm cho nước ta thực hiện thành công bước ngoặt lịch sử vĩ
đại từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ sang kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa tràn đầy sức sống, từ đóng cửa, hé cửa đến mở cửa toàn diện… Thực tế chứng
minh một cách hùng hồn rằng, cải cách, mở cửa là sự lựa chọn then chốt của vận mệnh
Trung Quốc đương đại, là con đường tất yếu phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung
Quốc, thực hiện chấn hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại; chỉ có chủ nghiã xã hội mới cứu
được Trung Quốc, phát triển được chủ nghĩa xã hội và phát triển được chủ nghĩa Mác.
Tổng kết 20 năm đổi mới của Việt Nam(1986-2006), Đại hội X của Đảng Cộng
Sản Việt Nam (tháng 4 năm 2006) đã khẳng định:”Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta
phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền
tảng tinh thần cuả xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết
dân tộc; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
Theo quan điểm của C.Mác “sự thay thế của các hình thái kinh tế-xã hội là một
quá trình lịch sử-tự nhiên”. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội với tư cách là hai hình
thái kinh tế xã hội khác nhau, kế tiếp nhau, xã hội trước tất yếu bị xã hội sau thay thế, xã
hội sau vừa phủ nhận xã hội trước vừa kế thừa và phát triển những thành tựu mà xã hội
trước tạo ra. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã phát triển đến giai đoạn cao nhất của nó- chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhà nước- đã gần với chủ nghĩa xã hội hơn. Theo V.I. Lênin chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là giai
đoạn trước của chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa tư bản hiện đại sẽ còn tiếp tục phát triển thông qua chính những cuộc
khủng hoảng, những cuộc cải cách để thích ứng, và quá trình phát triển đó cũng chính là
quá trình quá độ sang một xã hội mới. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã tạo ra nền sản xuất
lớn với khoa học công nghệ ngày càng hiện đại, sự phát triển xã hội hoá sản xuất đang
“nẩy mầm” những nhân tố của chủ nghĩa xã hội. Trong xã hội tư bản hiện đại, về mặt sở
hữu, sự xuất hiện quốc hữu hoá, chế độ hợp tác, công ty cổ phần… làm cho tính chất xã
hội của sở hữu ngày càng gia tăng; nhà nước đóng vai trò điều tiết quản lý về vốn, nguồn
lao động tham gia quản lý xí nghiệp… ở các mức độ khác nhau ngày càng hữu hiệu; sự
rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; lao động trí óc với lao động chân tay;
tính dân chủ và xã hội của nhà nước tăng lên; những vấn đề phúc lợi xã hội và môi
trường ngày càng được giải quyết tốt hơn… tất cả những cái đó nếu không nói đó là
25