nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng và phương pháp đánh giá sức sản suất sữa của bò lai hướng sữa tại trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ ba vì - hà nội - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM DƢƠNG NHƢ HÒA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT SỮA CỦA
BÒ LAI HƢỚNG SỮA TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BÒ
VÀ ĐỒNG CỎ BA VÌ – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành:CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT NÔNG NGHIỆP

Mã số: 60.62.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS: TRẦN TRANG NHUNG
TS: PHẠM VĂN GIỚI THÁI NGUYÊN - 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

LỜI CAM ĐOAN


Một lần nữa, cho tôi được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái nguyên, ngày tháng năm 2011
Tác giả

Dƣơng Nhƣ Hòa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa 4
1.1.1. Ảnh hưởng của giống 4
1.1.2. Ảnh hưởng của lứa đẻ 6
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước 7
1.2.1. Tình hình chăn nuôi và công tác giống bò sữa ngoài nước và
trong nước 7
1.2.2. Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhóm giống và lứa
đẻ đến năng suất sữa của bò HF con lai. 16
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

, F
3
43
3.3. Năng suất sữa theo dự đoán của 3 nhóm giống dựa vào các thông số
từ đường cong lý thuyết, năng suất sữa thực tế và sai lệch giữa chúng 51
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO
: United nations food and Agricuture Organization
HF
: Holtein Friesian
LSM
: (least square mean) Giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất
NSS
: Năng suất sữa
P
: Mức xác suất
n
: Số bò cái theo dõi
R
2


: Phẩm giống bò sữa lai 50%, 75% và 87,5% HF với Laisind

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

vi

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Năng suất sữa của một số nhóm giống HF lai 5
Bảng 1.2. Sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm 2001 - 2010 22
Bảng 1.3. Bình quân sữa tiêu dùng /người hàng năm 23
Bảng 1.4. Dự báo số lượng bò, sản lượng sữa của Việt Nam 2010-2020 24
Bảng 3.1.Sản lượng sữa bq/ck 305 ngày (kg) của bò HF lai tại Ba Vì theo
các nhóm giống và tương tác giữa chúng 35
Bảng 3.2. Kết quả phân tích phương sai về ảnh hưởng của nhóm giống, lứa
đẻ và tương tác giữa nhóm giống – lứa đẻ đến năng suất sữa cua
bò HF lai nuôi tại khu vực Ba Vì 36
Bảng 3.3. Năng suất sữa trung bình trong ngày của các cá thể trong các
tháng tiết sữa của bò HF lai tại Ba Vì* 41
Bảng 3.4. Giá trị của các hệ số, sai số chuẩn, các mức xác suất của chúng và
hệ số xác định trong phương trình Wilmink của 3 nhóm giống F
1
,
F
2
và F
3
ở lứa sữa 1 44
Bảng 3.5. Giá trị của các hệ số, sai số chuẩn, các mức xác xuất của chúng
và hệ số xác định trong phương trình Wilmink của 3 nhóm giống

1
, F
2
và F
3
ở lứa sữa 1 46
Đồ thị 3.2. Đường cong tiết sữa lý thuyết của 3 nhóm bò F
1
, F
2
và F
3
ở lứa sữa 2 48
Đồ thị 3.3. Đường cong tiết sữa lý thuyết của 3 nhóm bò F
1
, F
2
và F
3
ở lứa sữa 3 50

1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu thống kê ngày 01/10/2010 của Tổng cục Thống kê công
bố, ngành sữa Việt Nam sản xuất trong nước đạt 306.000 tấn sữa tươi nguyên

F
2
, F
3
có năng
suất sữa cao, thích nghi tốt với khí hậu Việt Nam, đặc biệt là Ba Vì - Hà Nội.
Ba Vì cách trung tâm Thành phố Hà Nội chưa đến 60 km. Ba Vì là cơ
sở chăn nuôi bò sữa HF lai đã nhiều năm nay và đã có nhiều đóng góp cho sự
phát triển ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam, cung cấp con giống, đào tạo kỹ
thuật, xây dựng mô hình chăn nuôi vì Ba Vì là nơi phù hợp về cả điều kiện tự
nhiên và khí hậu. Ở đây có khoảng hơn 1000 đầu con (Cả trong Trung tâm và
các hộ chăn nuôi lân cận Trung tâm) có một lượng ít bò HF thuần, còn lại chủ
yếu là bò HF lai, cung cấp sữa cho Thành phố Hà Nội và cho cả nước. Tuy
nhiên, sản lượng sữa (SLS) sản xuất hàng năm mới chỉ đáp ứng được một
lượng nhất định so với nhu cầu. Để góp phần vào việc duy trì ổn định sự phát
triển và đưa năng suất sữa của bò HF lai ngày một cao hơn, việc đánh giá để
chọn lọc đàn bò cái vắt sữa và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến SLS của
đàn bò là vô cùng quan trọng và cần thiết. Song, để rút ngắn thời gian, công
sức và tiền của đầu tư cho công tác này thì cần thiết phải tiến hành các nghiên
cứu, đánh giá sức sản xuất sữa, sự ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến
năng suất sữa và dự đoán sớm được năng suất, sản lượng sữa của đàn bò sữa
lai tại đây. Tuy nhiên vấn đề này từ trước đến nay vẫn chưa được triển khai
một cách toàn diện, đầy đủ. Trước thực tiễn đó, chúng tôi đã chọn đề tài:
“Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng và phương pháp đánh giá sức sản
suất sữa của bò lai hướng sữa tại trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba
Vì - Hà Nội”.
2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá được năng suất sữa và sự ảnh hưởng của một số yếu tố tới
sức sản xuất sữa của các nhóm bò lai hướng sữa F
1

SLS1 bị ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê rõ rệt bởi tất cả các yếu tố: tuổi
đẻ, khu vực chăn nuôi, nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc và mùa vụ đẻ với
mức xác suất rất cao và tính trạng SLS2 cũng bị ảnh hưởng rõ rệt bởi tất cả
các yếu tố với mức xác suất cao, ngoại trừ tuổi đẻ. Trong số các yếu tố đó,
khu vực chăn nuôi, nguồn bố và nguồn gia súc gây ảnh hưởng có ý nghĩa với
mức xác suất rất cao, yếu tố nguồn mẹ và mùa vụ đẻ gây ảnh hưởng với mức
xác suất thấp. Tương tự, tính trạng SLS3 bị ảnh hưởng rõ rệt bởi tất cả các
yếu tố với mức xác suất cao, ngoại trừ tuổi đẻ và nguồn mẹ. Trong lúc đó,
tính trạng SLS bị ảnh hưởng có ý nghĩa bởi các yếu tố tuổi đẻ, khu vực chăn
nuôi, nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc, mùa vụ và lứa đẻ với mức xác suất
cao (Phạm Văn Giới và cộng sự, 2006) [12].
1.1.1. Ảnh hưởng của giống
Các giống bò sữa khác nhau có sức sản xuất sữa khác nhau, giống HF
cao hơn HF lai vì trong đó có một phần gen của giống bò Sind và giống bò
vàng Việt Nam mà các giống này có SSX sữa thấp.
Như vậy, sản lượng sữa giữa các nhóm bò lai HF và HF thuần có sự
khác biệt rõ rệt (Nguyễn Xuân Trạch và cộng sự, 2003 [33]). Theo Nguyễn
Văn Trung (2010) [34] thì SLS1, SLS2, SLS3 của giống bò HF thuần nuôi tại
Mộc Châu và Tuyên Quang khá cao, lần lượt là 4.982,4; 5.310,63; 5.586
kg/chu kỳ.
5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đối với sản lượng sữa của 3 lứa sữa đầu của 3 nhóm bò lai, theo tác giả
Nguyễn Văn Đức (2005) đã đánh giá “mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố
đến khối lượng, sản lượng, tỷ lệ mỡ 3 lứa sữa đầu bò lai hướng sữa Việt Nam”

Bảng 1.1 năng suất sữa của một số nhóm giống HF lai
Giống

SLS giữa 3 lứa sữa đầu đều biểu thị rất rõ rệt (p<0,01). Kết quả này phù hợp
các kết quả nghiên cứu về SLS bò HF lai của Việt Nam và các nước khác
(Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức, 1991[23]; Nguyễn Văn Thưởng
và cộng sự, 2000[30]; Nguyễn Quốc Đạt và cộng sự, 2000 [7]).
Sản lượng sữa trung bình của 3 lứa sữa đầu bò lai hướng sữa Việt Nam
biến động lớn, đó là 2,247; 3,380 và 3,209 kg/chu kì đối với các nhóm bò HF
lai F
1
(1/2HF), F
2
(3/4HF) và F
3
(5/8HF). Như vậy, nhóm bò lai 7/8HF có sản
lượng sữa cao nhất. Kết quả này cao hơn giá trị 1,830-1,889 kg/chu kì tìm
được của Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức (1991)[23] trên đàn bò
lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì và Phù Đổng, song giá trị này tương đương các
tiêu chuẩn giống của bò lai thuộc vùng nhiệt đới của một số nước như India
và Thailand. Các kết quả ở báo cáo này cao hơn so với kết quả nghiên cứu
trên đàn bò lai HF×Hariana tại Bang Hariana - India của Nguyễn Văn Đức và
Taneja (1985) [45]. Balain D.S and Raheja K.L (1999) [40].
6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.2. Ảnh hưởng của lứa đẻ
Yếu tố lứa đẻ gây ảnh hưởng rất rõ rệt đến các tính trạng SLS của đàn
bò HF lai với mức xác suất cao (P<0,0001). Kết quả này phù hợp với quy luật
chung về quá trình sinh trưởng phát triển và sản xuất sữa của bò sữa. Ở lứa đẻ
đầu, cấu trúc cơ thể, các chức năng sinh lý, bầu vú chưa phát triển hoàn chỉnh
nên chưa có khả năng sản xuất sữa cao. SLS tăng dần và đạt đỉnh ở các lứa 3

F
1
(3153,05 kg/chu kỳ) nhưng cao không rõ rệt với giống F
2
(3900,69 kg/kỳ).
Từ kết quả này có thể xác định lứa sữa cho SLS cao để xây dựng kế
hoạch phát triển chăn nuôi, chọn lọc, sử dụng khai thác thích hợp, loại thải và
thay thế đàn đạt hiệu quả cao vì yếu tố SLS trên từng lứa tương đối chính xác.
Tùy theo giống bò, lứa đẻ mà cho lượng sữa khác nhau, nếu bò sữa mà cho
sữa đạt SLS yêu cầu thì giữ để khai thác và khai thác ở những lứa tiếp theo.
Cụ thể trong nghiên cứu này, bò đẻ lứa thứ nhất phải đạt SLS 2868,37 -
7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

3254,42 kg/chukỳ, lứa thứ hai phải đạt 3142,49 - 4296,39 kg/chukỳ, lứa thứ
ba phải đạt 3153,05 - 3927,84 kg/chukỳ thì đạt yêu cầu và được giữ lại tiếp
tục nuôi dưỡng và khai thác, những bò có SLS thấp hơn nhưng thấp hơn nhiều
so với SLS tiêu chuẩn thì loại thải và thay mới, đồng thời cần lưu ý với lứa
thứ nhất có sản lượng sữa kém hơn lứa thứ 2, 3 và giảm dần khi đẻ nhiều (khi
không còn khả năng sinh sản bò bị loại thải). Điều này giúp cho người chăn
nuôi quản lý tốt đàn bò sữa lai và chủ động về giống đồng thời có một kế
hoạch lâu dài và chủ động đạt hiệu quả kinh tế cao.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc và trong nƣớc
1.2.1. Tình hình chăn nuôi và công tác giống bò sữa ngoài nước và
trong nước
1.2.1.1. Ngoài nước
Các nước trên thế giới đã nghiên cứu thu được kết quả tốt về yếu tố
giống có ảnh hưởng đến SLS và đưa ra những giải pháp thích hợp.
Ở một số nước nhiệt đới, các nhà chăn nuôi đã tìm cách phát triển chăn

việc cải tiến di truyền đàn bò sữa chủ yếu phải dựa vào giá trị gây giống (khả
năng sản xuất sữa) của các cá thể bò đực và bò cái, còn tỷ lệ máu các loại chỉ
là vấn đề tham khảo. Chính vì vậy Thailand giữ lại làm giống tất cả những
con bò sữa có khả năng sản xuất sữa cao và thích nghi với điều kiện nóng, ẩm
bất kể tỷ lệ máu HF là bao nhiêu.
- Từ năm 1994 đến nay, Thailand đã gây tạo đàn bò sữa theo 2 hướng:
+ Tạo đàn bò sữa có tỷ lệ máu HF cao (trên 75%) bằng cách phối bò
đực giống HF Canada với bò cái giống HF Canada trong 3 đời (nhóm 1), phối
giống bò đực giống HF Canada với bò cái lai HF có tỷ lệ máu HF bằng hoặc
trên 75% ( sản lượng sữa trên 3,500kg) trong 3 đời (nhóm 2). Sau đó dùng bò
đực giống HF thuần tạo ra trong nước (nhóm 1) phối với bò cái lai HF ở
nhóm 2. Đàn bò sữa này có sản lượng sữa khoảng 4.500kg/chu kỳ tiết sữa.
+ Tạo đàn bò sữa có tỷ lệ máu HF 75% bằng cách: phối giống bò đực
giống HF với bò cái Zebu, bò cái địa phương. Sau đó cố định đàn bò lai HF
9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

có tỷ lệ máu 75%. Đàn bò sữa này có sản lượng sữa khoảng 3.500kg/chu kỳ
tiết sữa.
- Hiện nay phần lớn đàn bò sữa đang nuôi ở Thailand là bò lai HF
(89,52%) với các tỷ lệ máu khác nhau: 50% máu HF có tỷ lệ 1,8%; 62,5%
máu HF có tỷ lệ 6,10%; 75% máu HF có tỷ lệ 30,99%; 87,5% máu HF có tỷ
lệ 42,12%; 93,75% máu HF có tỷ lệ 16,08% và 100% máu HF có tỷ lệ 1,43%.
Thailand có thể phát triển chăn nuôi bò sữa với tốc độ nhanh như vậy
còn phải kể đến chính sách bảo hộ mạnh mẽ của Chính phủ và chương trình
sữa học đường được triển khai rộng khắp cả nước. Lượng sữa cung cấp cho
các trường học hiện nay chiếm hơn 50% lượng sữa tiêu thụ trong cả nước.
* Chăn nuôi bò sữa ở Đài Loan.
Đài Loan nằm về hướng Tây của Thái Bình Dương, thuộc vùng gió mùa

gian vắt sữa lứa thứ 2, chỉ khoảng 30 - 35% số bò vắt sữa được 3 - 4 lứa và có
khoảng 5% số bò sống được và cho sữa đến 10 năm tuổi.
Chương trình cải tạo giống (DHI) của Đài Loan: Nhập tinh đông lạnh
bò đực thuần giống HF cao sản, tuyển chọn bò đực giống thuần giống HF của
Đài Loan để sản xuất tinh đông lạnh trong nước, sử dụng thụ tinh nhân tạo
cho trên 90% tổng số bò sữa để cải tiến lượng sữa. Chương trình DHI đề ra các
chỉ tiêu chọn lọc cụ thể: Sản lượng sữa/chu kỳ trên 7.000lít; Tỷ lệ protein phải
đạt 3,2 - 3,3%; Tỷ lệ mỡ sữa đạt 3,75 - 3,9%; Chỉ tiêu vi sinh vật của sữa dưới
300.000 tế bào/ml và Tỷ lệ loại thải đàn hàng năm là 10 - 15%.
Đặc điểm của giống bò HF của Đài Loan là chịu được nóng, ẩm, sinh sản
mùa nóng, điều tiết phối giống sinh sản vào đầu mùa hè và sản sinh sữa vào mùa
hè. Hướng sản xuất sữa của Đài Loan tập trung chính vào các trang trại với
quy mô lớn. Có kế hoạch “bình chọn trại nuôi” đạt 4 giải “hoa mai” trở lên,
lượng sữa DHI bình quân cao và tư liệu hệ phổ hoàn chỉnh. Chọn lấy 40 hộ
chăn nuôi lấy sữa để trở thành điển hình “kinh doanh trại bò giống”. Mục tiêu
để nâng cao chất và lượng của bò sữa.
Phát triển bò sữa ở Đài Loan luôn áp dụng các thành tựu khoa học của
thế giới, áp dụng các công nghệ mới trong nuôi dưỡng, quản lý và các công
nghệ sinh sản (Viện Chăn nuôi, 2005) [36].
* Chăn nuôi bò sữa ở Ixraen.
11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bò HF là giống bò chuyên sữa nổi tiến thế giới có nguồn gốc là của Hà
Lan. Những nơi có khí hậu lạnh và ôn đới (nhiệt độ dưới 21
0
C) nuôi bò HF là
thích hợp nhất. Những nước nhiệt đới và á nhiệt đới thường được khuyến cáo
nuôi bò lai có tỷ lệ máu HF không quá 3/4. Thế nhưng ở Ixraen, một nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

các giống bò có sản lượng sữa cao như bò trắng đen (có máu bò HF), đến năm
1978 đàn bò sữa đã tăng lên 500.000 con. Để thoả mãn nhu cầu sữa; trong các
năm 1980 - 1985, Quảng Đông đã nhập 3.318 bò HF từ New Zealand, Đan
Mạch, Hoa Kỳ, Canada, Úc về nuôi thâm canh, với biện pháp kỹ thuật chọn
lọc, nuôi dưỡng, chuồng trại, vắt sữa và quản lý cao; trong năm 2002 đã nhập
10.000 con bò sữa HF từ New Zealand, Úc, Canada, Mỹ đưa về nuôi ở các tỉnh
phía Bắc Trung Quốc. Cuối năm 2002 Trung Quốc đã có 5,66 triệu bò sữa,
tổng sản lượng sữa sản xuất trong nước đạt 11,23 triệu tấn, bình quân đạt
8,8kg/người, đã đáp ứng được 78 - 80% nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Do nhu cầu tiêu thụ sữa ngày càng tăng, năm 2002 là 12kg/người/năm,
dự kiến đến năm 2010 sẽ tăng lên 20kg/người/năm. Chính phủ Trung Quốc đã
ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát
triển sản xuất sữa, nhờ đó đàn bò sữa tăng nhanh chóng, bình quân trong 10
năm trở lại đây tốc độ tăng đàn bò sữa của Trung Quốc đạt 12%/năm. Hơn
90% bò sữa nuôi tại các trang trại tư nhân, bình quân mỗi trại nuôi từ 40 - 50
con, nhiều trại gia đình đã nuôi tới 200, 300, 400 con bò sữa.
1.2.1.2. Trong nước
Ngày nay, chăn nuôi bò sữa không còn xa lạ đối với người dân Việt
Nam. Nước ta có được đàn bò sữa chất lượng khá tốt như hiện nay là kết quả
của bao nhiêu năm dài thăng trầm và vất vả của ngành sữa và người chăn nuôi
bò sữa. Đến năm 2010, tổng đàn bò sữa của ta đã đạt 128.583 con và sản xuất
được một khối lượng sữa hàng hoá 336.000 tấn (Cục Chăn nuôi, 2010) [2].
Thực tế, ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam đã có từ những năm đầu của thế
kỷ XX, dưới thời kỳ Pháp thuộc và phong kiến, song tốc độ phát triển chậm.
Tại Miền Nam: Từ những năm 1920-1923, người Pháp đã đưa các
giống bò chịu nóng tốt như Red Sind của Ấn Độ và bò Ongole vào nuôi tại
Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và Hà Nội với mục đích nuôi thử nghiệm và lấy sữa
phục vụ cho người Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng bò sữa thời đó còn

Trung - Thanh Hoá và một số trạm trại được xây dựng để nghiên cứu về
14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

giống, kỹ thuật chăn nuôi bò sữa. Năm 1960, giống bò sữa Lang trắng đen
Bắc Kinh có nguồn gốc Hà Lan, lần đầu tiên được nhập vào nước ta, nuôi thử
nghiệm tại Ba Vì, Sa Pa, Mộc Châu.
Đến thập kỷ 70, nước ta đã được Chính Phủ Cu Ba viện trợ 1000 con
bò sữa Holstein Friesian về nuôi thử nghiệm tại Mộc Châu, đồng thời xây
dựng Trung tâm bò đực giống Môncada để sản xuất tinh bò đông lạnh. Đây là
Trung tâm bò đực giống sản xuất tinh đông lạnh duy nhất và hiện đại nhất của
Đông Nam Á.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn
và thử thách lớn như không có lợi thế về khí hậu, trình độ và kinh nghiệm về
quản lý giống của cán bộ còn hạn chế, kỹ thuật chăn nuôi bò sữa của nông
dân vẫn thấp, hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật về chăn nuôi còn yếu, lạc hậu và
hệ thống giống chưa rõ ràng dẫn đến hiệu quả chăn nuôi chúng chưa cao, đặc
biệt đối với bò HF thuần. Vì vậy, định hướng tạo chọn giống bò lai hướng sữa
là cần thiết cho sự phát triển ngành sữa Việt Nam.
Do những lý do hạn chế đối với chăn nuôi bò sữa HF thuần nêu trên,
chúng ta cần phải chú trọng đến việc phát triển bò lai hướng sữa. Hiện tại,
điển hình các loại bò lai hướng sữa của ta là 1/2HF, 3/4HF, 7/8HF. Các nhóm
bò sữa HF lai này có nguồn gốc từ bò HF và bò Lai Sind.
Những bò cái Lai Sind có tầm vóc lớn hơn bò vàng Việt Nam, đạt khối
lượng trên 240 kg, sinh sản tốt được cho lai với giống HF để tạo ra nhóm bò lai
hướng sữa Việt Nam với tỷ lệ nguồn gen HF và LS khác nhau. Đến nay, những
nhóm bò lai hướng sữa này đã chứng tỏ được khả năng thích nghi tốt đối với
môi trường sinh thái của nước ta, đã nuôi được ở nhiều vùng của đất nước và
đạt hiệu quả kinh tế khá cao. Trong thực tế, bò lai hướng sữa đã thích ứng với

năng cho sữa của bò lai hướng sữa F
1
, 3/4HF, 7/8HF nuôi ở Ba Vì, Hà Nội và
vùng phụ cận. Nguyễn Quốc Đạt (1998) [6], Một số đặc điểm về giống của
đàn bò lai (Holstein Frisian x Lai sindLai Sindhi) hướng sữa nuôi tại Thành
Phố Hồ Chí Minh. Phạm Văn Giới và Nguyễn Văn Đức (2007) [11] đã nghiên
16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

cứu hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa tuổi đẻ lần đầu, SLS và tỷ lệ
mỡ sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam. Nguyễn Văn Đức, Trần Trọng Thêm,
Phạm Văn Giới (2011) [9], "Nghiên cứu các giải pháp về giống để nâng cao
năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa. Phạm Văn Giới,
Nguyễn Văn Đức và Trần Trọng Thêm (2006) [12] đã nghiên cứu khả năng
sản xuất sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam. Nguyễn Đăng Vang và Phạm Sỹ
Tiệp (2006) [35] đã có sự nghiên cứu về Sinh thái vật nuôi và ứng dụng trong
chăn nuôi gia súc gia cầm. Nguyễn Văn Thưởng và cs (2000) [28] đã đạt giải
thưởng KHCN nhà nước về nghiên cứu tạo bò lai hướng sữa ở Việt Nam. Lê
Việt Anh (1995)[1] xác định công thức lai và xây dựng qui trình công nghệ
nuôi dưỡng các cặp lai đã có và công thức lai mới, đưa vào xây dựng mô hình
chăn nuôi bò sữa ở Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
1.2.2. Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhóm giống và lứa
đẻ đến năng suất sữa của bò HF con lai.
1.2.2.1. Kết quả nghiên cứu ngoài nước.
a. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhóm giống
Msanga và cs (2000) [60] nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố và
tỷ lệ của máu bò HF đến năng suất sữa và thời gian cho sữa của bò con lai ở
các trang trại quy mô nhỏ tại miền Đông-Bắc của Tanzania. Trong nghiên cứu
này kết quả cũng chỉ rõ năng suất sữa cũng khác nhau của các nhóm con lai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status