SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1 - Pdf 24

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1
KIỀU THANH HUY
Giáo viên trường Tiểu học Bán trú “B” Tân Châu
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chúng ta đã biết, việc dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học mục
tiêu quan trọng nhất là: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử
dụng Tiếng việt ( nghe, nói, đọc, viết ) để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng việt, góp
phần rèn luyện các thao tác tư duy…
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và
những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn
học của Việt Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Việc giao tiếp bằng tiếng Việt được thực hiện thông qua hai dạng
ngôn ngữ : lời nói và chữ viết. Để có thể hiểu được nội dung giao tiếp, người
ta phải nghe và đọc được tiếng Việt. Để có thể bày tỏ ý nghĩ, tình cảm của
mình, người ta phải nói hoặc viết được tiếng Việt trong cả hai dạng ngôn
ngữ ( lời nói và chữ viết ). Dạy sử dụng tiếng Việt là dạy cách dùng tiếng
Việt trong cả hai dạng ngôn ngữ ; là dạy cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết;
là dạy học sinh lĩnh hội và sản sinh các ngôn bản bằng tiếng Việt.
Hình thức giao tiếp bằng lời ( nghe – nói ) và hình thức giao tiếp bằng
chữ ( đọc – viết ) có mối quan hệ mật thiết với nhau, thực hiện tốt việc giao
tiếp bằng lời sẽ làm cơ sở để dạy hình thành giao tiếp bằng chữ và ngược lại
dùng hình thức giao tiếp bằng chữ làm cơ sơ để hoàn thiện hình thức giao
tiếp bằng lời.
Trong việc giảng dạy môn Tiếng việt lớp Một, giáo viên cần có những

phân biệt rõ nguyên âm và phụ âm, dựa vào tiêu chí phát âm mà giáo viên
hướng dẫn học sinh phát âm chính xác, đồng thời đối với học sinh cũng phải
biết phân biệt được nguyên âm, phụ âm. Cái khó đối với học sinh là, qua
việc phát âm các em phải nhận ra được đâu là nguyên âm, đâu là phụ âm,
dựa vào khi phát âm luồng hơi phát ra như thế nào. Điều này khiến cho các
em gặp nhiều lúng túng gây ảnh hưởng đến thời gian tiết học. Vì giáo viên
phải giải thích nhiều lần mà chưa chắc gì học sinh nắm được.
Qua nhiều năm thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới tôi thấy
tâm đắc, bởi chương trình không đặt nặng vấn đề trên, miễn sao khi đứng
lớp giáo viên dạy học sinh phát âm đúng theo yêu cầu đã đề ra là đạt. Nói
như vậy, không phải là chúng ta không còn coi trọng vấn đề trên trong lúc
dạy học sinh phát âm, mà ngược lại còn đòi hỏi người giáo viên phải nắm
một cách chắc chắn hơn nữa đặc điểm phát âm của hệ thống nguyên âm và
phụ âm. Các tiêu chí phát âm của âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối. Đồng
thời giáo viên còn sử dụng một số biện pháp bổ trợ nhằm giúp các em phát
âm chính xác.
2. Nội dung – Biện pháp tiến hành :
2.1) Dạy học phần âm:
a) Biện pháp thứ nhất:
Dạy học sinh phát âm dựa vào tiêu chí khu biệt nguyên ân, phụ âm:
2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 1
Để học sinh phát âm đúng, thì đây là vấn đề quan trọng mà giáo viên
nào cũng phải nắm tường tận trong việc hướng dẫn học sinh phát âm và
cũng là yếu tố quyết định sự thành công của tiết dạy âm.
Đặc trưng chung của nguyên âm:
Để thấy rõ những đặc điểm của nguyên âm nên đối chiếu nó với phụ
âm.
Nguyên âm do thanh tạo nên còn phụ âm về cơ bản là tiếng động.

: hẹp – hơi hẹp – hơi rộng – rộng. Ta có:
+ Nguyên âm hẹp : ( miệng mở hẹp ) : i, ư, u.
+ Nguyên âm hơi hẹp : ( miệng mở hơi hẹp ) : ê, ơ, ô, â.
+ Nguyên âm hơi rộng: ( miệng mở hơi rộng ): e, o.
3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 1
+ Nguyên âm rộng ( miệng mở rộng ): a, ă.
- Hình dáng của môi : Khi phát các nguyên âm, hai môi có thể
khép thành vòng tròn hoặc không.
Ta có:
+ Các nguyên âm tròn môi : u, uô, ô, o.
+ Các nguyên âm không tròn môi: i, ê, iê, e, ư, ơ, â, ươ, a, ă.
Chỉ cần 3 tiêu chí này mà không cần hơn vì chúng đáp ứng điều kiện
cần và đủ cho việc xác định khả năng cộng hưởng của một khoang rỗng vốn
phụ thuộc vào thể tích , hình dáng và lối thoát của không khí.
• Bảng phân loại và miêu tả hệ thống phụ âm tiếng Việt:
Phương
thức
phát
âm
Độ rung của
dây thanh
Vị
trí
phát
âm
môi đầu lưỡi
mặt
lưỡi

nhóm riêng. Khi phát âm lưỡi con hạ xuống . Không khí không ra qua miệng
được, trở ra bằng đường mũi. Vì dây thanh trấn động mà không khí ra tự do
nên tỉ lệ thanh so với tiếng động là rất lớn và những âm này được gọi là âm
vang. Các âm : m, n, nh, ng ( ngh).
+ Âm xát: Được chia thành 2 loại: ph, x, s, kh, h. v, d, gi, r, g (gh),l.
Âm rung: Xét về độ rung của dây thanh có vô thanh, hữu thanh.
Âm vang: / l / ( Còn gọi là âm bên. Vì khi phát âm luồng hơi từ phổi
lên thoát ra ngoài ở một trong số hai bên cạnh lưỡi).
4
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 1
- Về vị trí cấu âm:
Từ ngoài vào trong có nhiều vị trí, ở đó các âm tố được cấu tạo do sự
nhích lại gần nhau của các bộ phận cấu âm. Một bộ phận tĩnh như: răng, lợi,
ngạc, mạc, một bộ phận động như : môi, lưỡi con, lưỡi với sự phân chia khu
vực kèm theo các tên gọi khác nhau : đầu lưỡi, mỏm lưỡi mặt lưỡi trước,
mặt lưỡi giữa, mặt lưỡi sau, gốc lưỡi. Để tạo nên một chướng ngại cần phải
có hai bộ phận .
Ở cùng một vị trí, với những phương thức cấu âm khác nhau người ta
có những âm khác nhau . Dưới đây ta sẽ phân loại các âm quan sát theo từng
vị trí.
Âm môi trong đó có hai tiểu nhóm:
+ Môi – môi : p, b, m
+ Môi – răng: ph, v
Âm đầu lưỡi trong đó có hai tiểu nhóm:
+ Đầu lưỡi – răng : t, đ, th, n, x, d, gi, l
Các âm này được phát với đầu lưỡi và mặt răng trong của hàm răng
trên :t, đ, th, n, l ; mặt răng trong của hàm dưới : x, gi, d.
+ Đầu lưỡi – ngạc cứng ( còn gọi là âm quặt lưỡi ): tr, s, r
Các âm này được phát với đầu lưỡi nâng cao và quặt về phía sau để mặt

viên phát âm mẫu để học sinh quan sát theo dõi, học sinh nắm được vị trí
phát âm và việc phát âm của học sinh sẽ dễ dàng và chính xác hơn.
Cách này chủ yếu giáo viên dựa vào tiêu chí phát âm của hệ thống
nguyên âm và phụ âm đã nêu ở phần trên.
Cách tiến hành:
- Giáo viên phát âm mẫu, đứng ở vị trí cả lớp dễ quan sát khuôn
miệng , phát âm rõ, chính xác.
- Giáo viên mô tả cách phát âm ( nêu đặc điểm hoạt động của bộ máy phát
âm – chú ý: độ mở của miệng, vị trí của lưỡi, hình dáng của môi )
- Phát âm thị phạm một cách rõ ràng để học sinh theo dõi.
- Phát âm thị phạm lại kết hợp dùng 2 ngón tay mô tả (nếu cần thiết).
- Học sinh phát âm theo mẫu vài lượt, sau đó từng em phát âm lại -
giáo viên nhận xét sửa chữa hoặc cho học sinh biết phát âm đúng thực hiện
lại cho bạn nghe và sửa phát âm sai.
- Luyện phát âm ( Cá nhân – nhóm – cả lớp ).
VD:
+ Hướng dẫn học sinh phát âm : /b/, /p/, /m/.
Ta xác định đây là phụ âm : môi – môi
Giáo viên mô tả cách phát âm và kết hợp dùng hai ngón tay cong lại.
Hai vùng vân tay của hai ngón tay chạm vào nhau vừa phát âm vừa thị phạm
chậm rãi vừa bật hai ngón tay ra theo độ mở vừa phải của miệng.
+ Hướng dẫn học sinh phát âm : /ph/, /v/.
Ta xác định đây là phụ âm môi vùng cản ở môi – răng
Cũng theo cách trên giáo viên dùng 2 ngón tay cong lại, đầu ngón tay trỏ
chạm vào vùng giữa vân tay của ngón cái bật ra.
+ Hướng dẫn học sinh phát âm : /t/, /đ/, /th/, /n/, /l/.
Ta xác định đây là phụ âm lưỡi : đầu lưỡi – răng
Trường hợp này ngón tay cái giữ vai trò là lưỡi, ngón tay trỏ giữ vai
trò của răng. Dùng hai ngón tay cong lại, đầu ngón tay của ngón cái chạm
6

Biện pháp này sẽ giúp học sinh dựa vào những tiếng trong giao tiếp
quen thuộc hằng ngày để điều chỉnh việc phát âm sai.
Giáo viên áp dụng cách này vào cuối tiết học. Tổ chức cho học sinh
tham gia vào các hoạt động ‘chơi mà học’ để học sinh tìm tiếng có chứa âm
vừa học. Giáo viết những tiếng mà học sinh vừa tìm được lên bảng, gọi học
sinh đọc và theo dõi sửa chữa phát âm cho học sinh.
Đối với những học sinh thường xuyên phát âm sai , giáo viên dưa âm
vào các tiếng đơn giản, vào câu có vần điệu dễ nhớ …nhằm giúp học sinh
luyện tập kĩ năng phát âm .
7
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 1
VD:
+ Đưa tiếng đơn giản vào các dấu thanh:
thanh
tiếng
ngang huyền sắc hỏi ngã nặng
mơ mơ mờ mớ mở mỡ mợ
vo vo vò vó vỏ võ vọ
ta ta tà tá tả tã tạ
+ Câu có vần điệu dễ nhớ: Giáo viên tư đặt ra hoặc sưu tầm.
VD:
- Cá rô bỏ vô rổ nghe rồ rồ.
- Vô ý vô tứ.
- Nhổ cỏ nhổ cả rễ…
2.2) Dạy học phần vần :
Như chúng ta đã biết, âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất được phân
định trong chuỗi lời nói, bao gồm một số yếu tố ngữ âm tạo thành.
Mỗi âm tiết được phát ra thành một tiếng, nên âm tiết còn gọi là tiếng.
Sơ đồ cấu tạo âm tiết:

âm cuối, giáo viên chỉ căn cứ vào các tiêu chí phát âm của nguyên âm và
phụ âm nêu trên để hướng dẫn học sinh phát âm dễ dàng.
VD: tha, thi, thư, thua, thưa, thia…
- Âm cuối : là âm kết thúc âm tiết, có chức năng khu biệt âm tiết.
- Các âm cuối : p, t, c (ch ), m, n, ng ( nh ), và 2 bán âm /u/, /i/.
 Các tiêu chí khu biệt:
- Tiêu chí ồn – vang: Tiêu chí này phân âm cuối ra:
+ Các âm ồn : / p, t, c/
+ Các âm vang : /m, n, ng (nh), u, i /
VD: “sắp” với “sắm” và “sáu”
- Tiêu chí mũi – không mũi:Tiêu chí này khu biệt:
+ Các âm mũi: / m, n, ng(nh)/
+ Các âm không mũi : / u, i /
VD: “sắm” với “ sáu”.
- Tiêu chí định vị môi – lưỡi phân các âm cuối ra :
+ Các âm môi : / p, m, u /
+ Các âm lưỡi : / t, c (ch), n, ng(nh), i / . Chia ra:
. Các âm đầu lưỡi : / t, n /
. Các âm mặt lưỡi là : / c(ch), ng (nh) /
Với 4 tiêu chí khu biệt vừa kể trên đây, tiếng Việt có 9 âm vị làm âm
cuối, trong đó có một âm vị / zéro / ( âm tiết khuyết âm cuối ),2 bán
nguyên âm và 6 phụ âm.
Định vị
Phương
thức
Môi
Lưỡi
Đầu lưỡi Mặt lưỡi
Ồn p t c(ch)
Vang Mũi m n ng (nh)

bị bỗng hơn ; “inh” cường độ mạnh.
- Những vần có “ n ” đứng sau với những vần có “ ng ” đứng sau:
. Những vần có “ n ”: kết thúc đầu lưỡi, có âm sắc bỗng hơn.
. Những vần có “ ng ”: kết thúc mặt lưỡi, có âm sắc trầm đi.
3. Kết quả đạt được :
- Qua quá trình áp dụng các biện pháp nêu trên, tôi thấy hiệu quả các
tiết dạy của tôi ngày càng cao, kĩ năng phát âm của các em có cải thiện đáng
kể, đa số các em đều phát âm chính xác các âm, vần đã học ( ngoại trừ
những em bị ngọng, đớt ở một số âm ). Điển hình như em : Võ Minh Tiến bị
đớt âm “ th “ ( em phát âm “th “ thành “thời” ). Đồng thời không khí tiết học
cũng thêm phần sinh động hơn vì giáo viên tổ chức nhiều hoạt động học tập
gây hứng thú cho học sinh, học sinh tiếp thu bài nhanh, phát âm chính xác.
Ở năm học 2006 – 2007, qua việc áp dụng những biện pháp nêu trên,
sau khi học hết phần âm,vần thì hầu hết càc em đều phát âm một cách chính
xác. Đến cuối năm học, các em đã đọc trôi trải đoạn văn, khổ thơ đồng thời
10
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 1
phát âm rất tốt các tiếng mang vần có âm “n” làm âm cuối, “t”làm âm cuối,
tiếng mang vần: au, âu…Các tiếng có âm đầu v, x, s, r, tr. Chỉ còn 2 trường
hợp :
STT Họ và tên Âm, vần hay sai Lí do
1 Trần Thị Ngọc Nhi
- au thành ao
- khó phát âm :r, s
- tiếng có thanh nặng
thành thanh ngã
VD:’mẹ’ thành ‘mẽ’
- chậm tiếp thu
- Đọc được nhưng phải

11
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM ĐÚNG KHI HỌC MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 1
- Trao đổi với đồng nghiệp, tổ chuyên môn những kinh nghiệm,
những nghi vấn nhằm tìm ra tiêu chí phù hợp để có sự thống nhất trong quá
trình giảng dạy.
- Nhà trường nên chăng có sự thống nhất về chính âm .
III. KẾT LUẬN:
Như trên đã nói, chính âm tiếng Việt chỉ tồn tại như là những yêu cầu,
những mong muốn mà không hoặc ít tồn tại trong đời sống, trong thực tiễn
giao tiếp của người bản ngữ. Bên cạnh đó, trong giới nghiên cứu tiếng Việt
lại tồn tại quan niệm cho rằng “ không cần thống nhất giọng nói “, cần phải
tôn trong màu sắc của địa phương trong giọng nói, cần có một quan niệm
uyển chuyển và thực tế về vấn đề chính âm trong tiếng Việt, về hệ thống ngữ
âm chuẩn trong tiếng Việt.
Thực tế nói trên cho thấy, chính âm tiếng Việt là vấn đề gây không ít
đau đầu cho các nhà nghiên cứu giáo dục và có thể nói là gánh nặng không
nhỏ cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt . Vì
trong khi giảng dạy, tất cả giáo viên đều cố gắng phát âm chuẩn để học sinh
thực hành theo nhưng trong thực tế giao tiếp thì do thói quen phát âm của
từng địa phương, vùng, miền …chưa có sự thống nhất trên phạm vi toàn
quốc nên việc thống nhất chính âm là vấn đề phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
chứ không đơn thuần là công việc của ngành giáo dục, của nhà trường.
Trở lại việc dạy môn Tiếng Việt lớp 1, thiết nghĩ, đây là vấn đề phải
đòi hỏi sự chính xác cao, vì trong ngữ âm tiếng Việt đã có quy định rạch ròi
các tiêu chí phát âm, chứ đây không còn là vấn đề vùng, miền, địa phương
nữa.
Nếu có điều kiện tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu về đề tài này . Tiếp tục
hoàn thiện các tiêu chí phát âm của các bộ phận âm tiết : Am đầu, âm đệm,
âm chính, âm cuối và thanh điệu. Nghiên cứu sự khác biệt ở tiêu chí của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status