ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng (protein-
energy malnutrition - PEM) ở Việt Nam thường chỉ được gọi là
suy dinh dưỡng (SDD). SDD nói chung và SDD thấp còi nói
riêng hiện vẫn đang là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Theo báo cáo
năm 2000 của Uỷ ban thường trực Dinh dưỡng Liên hợp quốc
và Viện nghiên cứu chính sách thực phẩm quốc tế
(ACC/SCN/IFPRI) có khoảng 30 triệu trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng
bởi hậu quả SDD bào thai và khoảng 185 triệu trẻ < 5 tuổi
(34%) bị SDD thấp còi tại các nước đang phát triển. Năm 2005
theo ACC/SCN/IFPRI vẫn còn khoảng 178 triệu trẻ < 5 tuổi
(32%) bị thấp còi tại các nước đang phát triển.
Ở Việt Nam, SDD nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm
tương đối nhanh và liên tục so với năm 1985 và 2000, trong khi
tỷ lệ SDD thấp còi vẫn còn cao, nhất là ở các vùng nghèo, thì
thừa cân - béo phì và một số bệnh mạn tính không lây liên quan
đang có xu hướng gia tăng. Tại Hà Nội, tỷ lệ SDD nhẹ cân đã
giảm nhanh từ mức thấp (18,7% năm 2001) xuống mức rất thấp
(8,6% năm 2011), trong khi đó SDD thấp còi hầu như không
giảm mà còn gia tăng (15,6% năm 2001, 17,8% năm 2011). Sóc
Sơn là một huyện ngoại thành nghèo, tỷ lệ SDD cao (thấp còi
năm 2007 là 25%) do nhiều nguyên nhân như trình độ dân trí,
kiến thức, thực hành dinh dưỡng của bà mẹ còn hạn chế. Do đó,
nhiều chương trình can thiệp đã được triển khai, trong đó giải
pháp quan trọng là xây dựng và triển khai mô hình thí điểm chỉ
1
can thiệp bằng giáo dục truyền thông. Trong bối cảnh đó, đề tài
«Đánh giá hiệu quả giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ nhằm
giảm suy dinh dưỡng trẻ em dưới 24 tháng tuổi tại huyện Sóc
3. Bố cục của luận án
Luận án gồm 131 trang (không kể phần tài liệu tham
khảo và phụ lục), kết cấu thành các phần và 4 chương sau:
Đặt vấn đề: 02 trang
Chương 1. Tổng quan: 36 trang
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 26 trang
Chương 3. Kết quả nghiên cứu: 29 trang
Chương 4. Bàn luận: 35 trang
Kết luận: 02 trang
Kiến nghị: 01 trang
Luận án tham khảo 125 tài liệu, trong đó có 62 tài liệu
tiếng Việt và 63 tài liệu tiếng Anh.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Tình trạng dinh dưỡng và suy dinh dưỡng
SDD do thiếu protein - năng lượng bao gồm 3 thể loại:
nhẹ cân, thấp còi và gầy còm. Theo WHO 2005, 32,5% trẻ <5
tuổi ở các nước đang phát triển bị thấp còi trong đó châu Phi và
châu Á có tỷ lệ cao (33,8% và 29,9%). Trong vòng 20 năm qua
từ 1980, giảm thấp còi bình quân khoảng 0,73%/năm. Từ 1980
- 2000, ước tính giảm khoảng 6,2 triệu trẻ thấp còi. Theo WHO
và tạp chí Lancet tháng 1/2008, khoảng 40% quốc gia vẫn có tỷ
lệ thấp còi trên 40%. Đáng quan tâm là tỷ lệ thấp còi đều cao
nhất ở nhóm nghèo nhất. Ở Việt Nam, tỷ lệ SDD nhẹ cân từ
51% năm 1985, giảm xuống 33,8% năm 2000, giảm mạnh chỉ
còn 19,9% năm 2008. SDD gầy còm năm 2000 là 8,6%, giảm
xuống dưới 5% năm 2008. Thấp còi đã giảm từ 56,5% năm
1990 xuống còn 36,5% năm 2000 và vẫn ở mức cao, 29,3% vào
năm 2010 và có sự khác biệt lớn về SDD giữa các vùng miền.
XX đến nay, Việt Nam đã xây dựng và triển khai Chương trình
Mục tiêu phòng chống SDD protein-năng lượng từ 1994,
5
Chương trình phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng, Kế hoạch
Hành động Quốc gia Dinh dưỡng 1995-2000, 2001-2010 và
2011-2020 với tầm nhìn đến 2030. Giáo dục truyền thông
(GDTT) dinh dưỡng luôn được coi là một giải pháp then chốt,
xuyên suốt trong khuôn khổ các chương trình, kế hoạch và
chiến lược trên. Tuy nhiên, các hoạt động GDTT còn nặng về
hình thức, mang tính phong trào, theo chiến dịch, chưa được
vận hành bài bản, dẫn đến hiệu quả thấp và thiếu bền vững.
1.3. Nghiên cứu giáo dục truyền thông phòng chống suy
dinh dưỡng
Nhiều nghiên cứu thay đổi kiến thức, thái độ và thực
hành (KAP) phòng chống thiếu vi chất và SDD đã được triển
khai trong khu vực, trên thế giới và cả ở Việt Nam. Tuy nhiên,
hầu hết các nghiên cứu này đều phối hợp GDTT với bổ sung
thực phẩm hoặc vi chất dinh dưỡng. Đề tài của chúng tôi thực
hiện dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn là: chỉ can thiệp bằng
GDTT dinh dưỡng tích cực trong bối cảnh các can thiệp chung
của quốc gia và Hà Nội có thể thay đổi được thực hành dinh
dưỡng, bữa ăn của trẻ sẽ được cải thiện, gián tiếp giảm được tỷ
lệ SDD trẻ em; Đồng thời, các thực hành dinh dưỡng cũng tác
động đến chính các bà mẹ trước và trong quá trình mang thai
tiếp theo, giúp chủ động phòng chống SDD bào thai và cân
nặng sơ sinh thấp.
6
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
1-
α
/2
= 1,96; DE: Hiệu lực
thiết kế = 2. Tính được 586 trẻ. Thêm 5% dự phòng (29 trẻ),
tổng số trẻ là 615. Chọn đối tượng trẻ <24 tháng tuổi theo
phương pháp ngẫu nhiên hệ thống. Chọn tất cả các bà mẹ của
trẻ 0-<24 tháng tuổi đã được chọn trên để phỏng vấn kiến thức,
thực hành dinh dưỡng. Tổng cỡ mẫu là 600 cặp mẹ con.
2.2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu trong thử nghiệm can thiệp cộng
đồng: Áp dụng công thức của WHO 1998:
7
__ ________
[ Z
1-
α
/2
√2pq + Z
1-
β
√p
1
q
1
+ p
2
q
2
]
2
tháng tuổi có hiểu biết và hành vi về dinh dưỡng đúng các xã
chứng, ước lượng p2 = 0,30 (30%), và q2 = 1-p2 = 0,70 (70%).
Thay vào, tính được n=217. Lấy thêm 20% dự phòng:
217+43=260/ mỗi nhóm bà mẹ, cỡ mẫu là 260.
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn bà mẹ dựa vào bộ câu hỏi KPC thiết kế sẵn
có bổ sung bảng hỏi để cho điểm xếp loại và nhân trắc dinh
dưỡng cho trẻ <24 tháng tuổi.
2.2.4. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được kiểm tra, làm sạch và xử lý bằng phần
mềm SPSS 10.5 và Epi info 6.0.
2.2.5. Đạo đức nghiên cứu
Đối tượng cam kết tự nguyện tham gia được gia đình và
chính quyền địa phương nhất trí. Đối tượng có quyền bỏ cuộc.
Các thông tin định danh đều được mã hóa; Các số liệu chỉ phục
vụ cho mục đích nghiên cứu.
8
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 24 tháng tuổi
và kiến thức thực hành dinh dưỡng của bà mẹ
Bảng 3.1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ < 24 tháng tuổi tại 6 xã
Thể SDD
Nhóm 3 xã dự kiến
can thiệp (n=309)
Nhóm 3 xã dự kiến đối
chứng (n=309)
Nhẹ cân 7,8 7,8
Thấp còi 19,1 19,1
Gầy còm 3,9 3,9
Bảng 3.20. Điểm kiến thức và thực hành phòng chống
suy dinh dưỡng ở bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi
Chỉ số Chung (n=600)
Điểm kiến thức (X±SD) 20,6 ± 12,8
Điểm thực hành (X±SD) 40,1 ± 12,1
Bảng 3.20 cho thấy, theo thang điểm của đề tài, điểm
kiến thức của bà mẹ có con có con dưới 24 tháng tuổi rất thấp,
20,6±12,8 điểm, xếp loại yếu kém; Tương tự, điểm thực hành
phòng chống SDD cũng chỉ đạt 40,1±12,1, xếp loại trung bình.
Bảng 3.21. Điểm kiến thức, thực hành đa dạng hoá bữa ăn
và chế biến thức ăn bổ sung hợp lý ở bà mẹ
Chỉ số Chung (n=600)
Điểm kiến thức (X±SD) 25,15 ± 10,3
Điểm thực hành (X±SD) 45,3 ± 12,6
Bảng 3.21. cho thấy, điểm kiến thức đa dạng hoá bữa ăn
và chế biến thức ăn bổ sung ở bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi
rất thấp, chỉ đạt mức yếu kém 25,15±10,3. Tương tự, điểm thực
hành đa dạng hoá bữa ăn và chế biến thức ăn bổ sung của bà
mẹ cũng chỉ đạt mức trung bình, 45,3 ± 12,6.
11
3.2. Hiệu quả giáo dục truyền thông thay đổi kiến thức,
thực hành phòng chống suy dinh dưỡng của bà mẹ sau 12
tháng can thiệp
3.2.1. Hiệu quả thay đổi kiến thức, thực hành phòng chống
suy dinh dưỡng của bà mẹ sau 12 tháng can thiệp
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ bà mẹ biết cách nhận biết suy dinh dưỡng
Sau 12 tháng can thiệp, kiến thức bà mẹ về cách nhận
biết trẻ SDD, các nguyên nhân gây SDD trẻ em đã được cải
thiện rõ rệt. Tương tự, các tỷ lệ hiểu biết về chế độ ăn cho phụ
nữ có thai, chế độ ăn cho trẻ khi bị tiêu chảy cũng tăng.
T0 20,0 24,0
T12 23,2 95,2*
CSHQ 13,8 74,8
HQCTT 61,0
*: p<0,001 so với T0 cùng nhóm và T12 nhóm chứng,
χ
2 test.
Bảng 3.34 cho thấy, ở nhóm can thiệp, CSHQ đối với
kiến thức, thực hành các biện pháp phòng chống SDD cao hơn
rõ rệt (74,8%) và HQCTT cao (61,0%).
13
Bảng 3.35. Chỉ số hiệu quả và hiệu quả can thiệp thật về
kiến thức, thực hành đa dạng hoá bữa ăn ở bà mẹ (%)
Chỉ số Thời điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp
Điểm kiến
thức từ trung
bình trở lên,
CSHQ và
HQCTT
T0 6,0 10,0
T12 10,0 98,0
*
CSHQ 40 89,8
HQCTT 49,8
Điểm thực
hành từ trung
bình trở lên,
CSHQ và
HQCTT
T0 24,0 26,0)
tháng, sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,001) tại cả 2 thời điểm với
ưu thế thuộc về nhóm can thiệp. Khác biệt về giá trị tuyệt đối
của cân nặng và WAZ chỉ có ý nghĩa tại T12.
Bảng 3.37. Hiệu quả thay đổi chỉ số chiều cao (X±SD)
Chỉ số
Nhóm chứng
(n=252)
Nhóm can
thiệp (n=255)
So sánh
(p)
Chiều cao T0 (cm) 73,1±6,9 73,2±6,7 >0,05
Chiều cao T6 (cm) 79,5±5,6 80,2±5,6 >0,05
Chiều cao T12 (cm) 84,8±5,6 85,8±5,7 <0,05
Tăng lên (T6-T0) 6,42±3,59 7,03±3,62 >0,05
Tăng lên (T12-T0) 11,72±3,45 12,56±3,56 <0,01
15
Bảng 3.37 cho thấy, sự khác biệt về chiều cao tuyệt đối chỉ
thấy tại T12 (p<0,05). Nhóm can thiệp tăng nhiều hơn nhóm chứng
là 0,61cm sau 6 tháng và 0,84 cm sau 12 tháng, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p<0,01) tại T12 với ưu thế thuộc về nhóm can
thiệp. Nhóm can thiệp có xu thế tốt hơn (p<0,05) về giá trị HAZ,
ngược lại HAZ nhóm chứng lại ngày càng xấu đi (p<0,05 so với
T0). WAZ tại T6, T12, nhóm can thiệp có xu hướng tốt hơn nhóm
chứng, sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) chỉ thấy tại T12.
* Hiệu quả can thiệp đến thay đổi các tỷ lệ suy dinh dưỡng
của trẻ:
Bảng 3.41. Hiệu quả can thiệp thực đến suy dinh dưỡng
sau 12 tháng
Thể
- 16,9
49
(19,6)
15,8 32,8
T12 54
(21,4)
42
(16,5)
SDD
gầy
còm
T0 10 (4,0)
- 30,0
11 (4,3)
44,2
74,2
T12 13
(5,2%)
6 (2,4)
16
Bảng 3.41 cho thấy, chỉ số hiệu quả (CSHQ) ở nhóm
can thiệp với 3 thể SDD đều mang giá trị dương, là 23,17,
15,82 và 44,19 %. Trong khi đó, SDD ở nhóm chứng lại tăng,
nên CSHQ đều âm, -18,39, -16,94 và -30,0%; HQCTT đối với
hạ thấp tỷ lệ 3 thể SDD đều mang giá trị dương. Sau 12 tháng,
GDTT đã có tác động gián tiếp giảm 74,2% SDD gầy còm,
41,6% SDD nhẹ cân và 32,8% SDD thấp còi.
17
Chương 4
BÀN LUẬN
(gầy còm); Hơn 2 tỉ người bị thiếu vi chất dinh dưỡng như vi-ta-
min A, iốt, sắt và kẽm, trong khi đó thừa cân và béo phì ở cả trẻ
em và người lớn đã tăng lên nhanh chóng Tại Việt Nam, theo số
liệu của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ SDD nhẹ cân giảm khá nhanh: từ
mức SDD rất cao theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới
(51,5% vào năm 1985) xuống mức trung bình (18,9% vào năm
2009). Số liệu giám sát dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng gần đây
nhất cho thấy năm 2012 và 2013 tỷ lệ suy dinh dưỡng cả 3 thể ở
trẻ em dưới 5 tuổi trung bình toàn quốc vẫn tiếp tục thuyên giảm
(SDD nhẹ cân tuần tự là 16,2 và 15,3%, SDD thấp còi là 26,7 và
25,9%, SDD gầy còm là 6,7 và 6,6%). Tỷ lệ SDD ở Hà Nội năm
2012 và 2013 tương ứng là SDD nhẹ cân 8,1 và 7,0%, SDD thấp
còi 21,9 và 15,5%, SDD gầy còm 5,5 và 2,8%. Có thể nhận thấy,
trong những năm gần đây, tốc độ giảm tỷ lệ SDD rất chậm. Điều
đáng ngạc nhiên là SDD thấp còi trẻ em dưới 5 tuổi Hà Nội 2012
lại tăng lên trên 20% là mức cao theo WHO, vẫn đang tiếp tục là
vấn đề cần quan tâm.
4.1.2. Thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống suy
dinh dưỡng và đa dạng hóa bữa ăn của bà mẹ có con dưới 24
tháng tuổi
Nghiên cứu cắt ngang năm 2011 cho thấy, kiến thức
phòng chống SDD của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi Sóc
Sơn còn nhiều hạn chế. Về thực hành các biện pháp phòng
chống SDD và đa dạng hóa bữa ăn của bà mẹ còn nhiều bất
cập. Theo thang điểm của đề tài, điểm kiến thức phòng chống
SDD ở bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi đều xếp loại yếu kém
19
(20,6±12,8), trong khi điểm thực hành cũng chỉ đạt trung bình
(40,1±12,1), và hầu như chưa có bà mẹ nào đạt điểm khá và
giỏi. Tương tự, về đa dạng hoá bữa ăn và chế biến thức ăn bổ
dưỡng sớm trên trẻ từ sơ sinh đến <24 tháng, đã có hiệu quả rõ
rệt cải thiện kiến thức, thực hành dạng hóa bữa ăn và các biện
pháp phòng chống SDD của bà mẹ.
4.2.3. Hiệu quả can thiệp lên tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Sự gia tăng cân nặng đã có ý nghĩa ngay sau 6 tháng can
thiệp, nhưng gia tăng chiều cao tuyệt đối chỉ có ý nghĩa sau 12
tháng. Sự thay đổi Z-scores tại T6 và T12 ở nhóm can thiệp có
xu hướng tốt hơn nhóm chứng, tuy nhiên sự khác biệt có ý
nghĩa chỉ thấy được tại T12 với p<0,05 cho WAZ và WHZ,
p<0,001 với HAZ. Can thiệp bằng GDTT sau 12 tháng đã có
tác động gián tiếp đến hạ thấp tỷ lệ SDD. Do cân nặng được cải
thiện sớm hơn và nhiều hơn so với chiều cao, nên hiệu can
thiệp quả hạ thấp SDD thực đến sớm nhất và cao nhất với SDD
gầy còm, 74,2%, sau đó đến giảm SDD nhẹ cân, 41,6%, thấp
nhất và lâu hơn là giảm SDD thấp còi, 32,8%. Điều đó khẳng
định việc phòng chống SDD thấp còi luôn là công việc khó
khăn, đòi hỏi phải có những can thiệp sớm, đồng bộ và lâu dài.
Trong hơn hai thập kỷ gần đây, nhiều chương trình quốc
gia và thành phố đã và đang được triển khai tại Sóc Sơn, góp
phần nâng cao kiến thức, thực hành dinh dưỡng của bà mẹ, tăng
cường sử dụng nguồn thực phẩm đa dạng tại chỗ. Nghiên cứu
này rõ ràng đã được hay chia sẻ hiệu quả của các chương trình
nói trên nhất là về tăng cường sử dụng nguồn thực phẩm đa
21
dạng tại chỗ, thúc đẩy tăng trưởng cân nặng, chiều cao và hạ
thấp tỷ lệ SDD trẻ em.
22
KẾT LUẬN
1. Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 24 tháng tuổi và
kiến thức, thực hành dinh dưỡng của bà mẹ tại 6 xã huyện
rệt (74,8%) và hiệu quả can thiệp thực cao (61,0%).
Hiệu quả cải thiện tăng trưởng cân nặng và chiều cao:
tại T6 và T12, cân nặng nhóm can thiệp tăng (2,1kg và 3,3kg)
cao hơn (p<0,05) so với nhóm chứng (1,8 và 2,8kg); Chiều cao
của nhóm can thiệp tăng (7cm và 12,6cm) cao hơn nhóm chứng
(6,4cm và 11,7cm) nhưng chỉ có ý nghĩa tại T12 (p<0,01). Sự
thay đổi Z-scores ở nhóm can thiệp cũng chỉ có ý nghĩa tại T12
với WAZ và WHZ (p<0,05) và HAZ (p<0,001).
Hiệu quả can thiệp thực sau 12 tháng đối với giảm cả 3
thể SDD đều dương tính: giảm SDD gầy còm cao nhất (74,2%),
sau đó đến giảm SDD nhẹ cân (41,6%) và thấp nhất là giảm
SDD thấp còi (32,8%). Điều này chứng tỏ giảm SDD thấp còi
luôn là công việc khó khăn, đòi hỏi phải có những can thiệp
sớm, đồng bộ và dài hạn.
24
KIẾN NGHỊ
1. Giáo dục truyền thông thay đổi hành vi dinh dưỡng
phối hợp với các hoạt động can thiệp khác có thể coi là giải
pháp “dài hạn”, khả thi, cần được nghiên cứu phối hợp đồng
bộ với các can thiệp khác và mở rộng ra các địa bàn có hoàn
cảnh kinh tế, xã hội tương tự, đặc biệt là mạng lưới y tế và
cộng tác viên dinh dưỡng.
2. Các cấp chính quyền, ngành y tế địa phương cần chủ
động chỉ đạo thống nhất và chặt chẽ thực hiện các can thiệp
phòng chống SDD cho trẻ càng sớm càng tốt, ngay từ khi còn
trong bào thai, sau khi sinh cho đến <24 tháng tuổi, như khuyến
nghị của Tổ chức Y tế thế giới.
3. Để duy trì bền vững hiệu quả can thiệp, sau khi
chương trình/ dự án kết thúc, các địa phương cần tiếp tục củng
cố và phát huy những nỗ lực đóng góp có trách nhiệm của các