1
Chuyên đề:
SỰ THAY ĐỔI CÁCH THỨC TỔ CHỨC VÀ BỐ TRÍ KHÔNG GIAN
SỐNG DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA CHÍNH SÁCH CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT
TẠI CÁC KHU VỰC ĐANG CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA
Th.s Nguyễn Văn Đáng
Viện Xã hội học
Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
1. Ngôi nhà Việt truyền thống.
Trong văn hóa nông nghiệp Việ
t Nam truyền thống (người Kinh – chiếm
đa số), ngôi nhà có một vị trí đặc biệt quan trọng. Cũng chính bởi vậy, trong
tiếng Việt, từ NHÀ đồng nghĩa với “chỗ ở”, đồng nghĩa với “gia đình”. Ngôi nhà
là cái tổ ấm để đối phó với nóng lạnh, nắng mưa, gió bão…là một trong những
yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho người dân có một cuộc sống định cư
, ổn
định. Dân gian có nhiều câu tục ngữ đề cao vai trò của ngôi nhà: “An cư, lạc
nghiệp” hoặc ‘Thứ nhất dương cơ, thứ nhì âm phần” (Trần Ngọc Thêm, 2001:
403 – 404).
3
ý và quan tâm nhiều hơn cả chính là bàn thờ vì chịu ảnh hưởng của Đạo Phật,
Đạo Lão, Đạo Khổng nên bàn thờ được đặt vào chính giữa của gian chính, xung
quanh được trang hoàng bằng các bức hoành phi câu đối, nếu gia cảnh của chủ
nhà có khiêm nhường hơn thì bàn thờ cũng luôn được đặt vào nơi trang trọng
nhất.
Ngôi nhà có thể tồn tại vững chắc vài trăm năm, nên việc dựng một ngôi
nhà được người Việ
t hết sức quan tâm, từ khâu chọn nguyên liệu đến khâu xem
ngày, xem tháng, so tuổi vì họ quan niệm thứ nhất, đây là cơ nghiệp của nhiều
đời; thứ hai, đó là sự thịnh vượng hay suy vong của cả gia đình hay lớn hơn là cả
một dòng họ nếu chọn được hay không chọn được ngày tốt và hướng tốt (Trần
Ngọc Thêm, 2001: 409-422).
Ngôi nhà người Việt thường được xây dựng bằng các nguyên vật liệu s
ẵn
có ở địa phương như gỗ, tre, nứa, đất, đá phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện
kinh tế của từng gia đình. Tường nhà có thể bằng gỗ, trát đứng đắp đất, có hệ
thống cửa “bức bàn” hay “cửa phố”. Hình thức bên ngoài của ngôi nhà rất mộc
mạc giản dị, những nhà có tường xây bằng gạch, lợp ngói âm dương thì chỉ là
mái dốc thuần túy, không được trang trí c
ầu kỳ, cùng lắm là những đường chỉ dài
khắc vạch. Dưới mái là hàng cột hiên với các bức tường quét vôi trắng, trông
giản dị, khiêm nhường
1
.
Tóm lại, ngôi nhà truyền thống của người Việt phản ánh triết lý âm dương
hài hòa. Nó phải là sự cân bằng giữa gió – nước và vị trí đất không quá cao cũng
không quá thấp (Trần Ngọc Thêm, 2001: 422). Đó thực sự là một tổ ấm có sức
sống vững bền qua cả ngàn năm lịch sử. Tuy nhiên, cấu trúc ngôi nhà Việt và
phường tính đến năm 2009 là 16.661 khẩu, 1832 hộ. Trong những năm qua, thực
hiện quyết định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc thu hồi đất phục vụ cho quy
hoạch các KCN và xây d
ựng hạ tầng, đến nay trên địa bàn phường đã có 141 cơ
quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tổng diện tích
5
đất bị thu hồi năm 2005 là 33.67 ha; năm 2006 là 65.2 ha; năm 2007 là 20.8 ha;
năm 2008 là 48 ha với 74 dự án. Do sự thu hẹp đất đai canh tác, cơ cấu kinh tế
của phường hiện nay là: công nghiệp – xây dựng – thương mại – du lịch và nông
nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 là 33.988.000đ/người.
Phường Đồng Tâm nằm ở phía Tây thành phố Vĩnh Yên, diện tích tự
nhiên là 7.52 km2, 2815 hộ và 14500 khẩu. Cơ cấu kinh tế của phường là thương
mạ
i, dịch vụ - công nghiệp, xây dựng – nông nghiệp, thủy sản. Năm 2008,
phường đã hoàn thành công tác đền bù giải phóng mặt bằng với 8 dự án, tổng
diện tích 345.182,4m2, giá trị bồi thường hơn 6 tỷ đồng với hơn 360 lượt hộ có
đất thu hồi. Công tác xây dựng hạ tầng cơ sở trên địa bàn phường được triển khai
tốt, các thiết chế văn hóa – giáo dục và y tế được đầu tư đồ
ng bộ và hiện đại.
Thị trấn Hương Canh có diện tích tự nhiên là 1006,42 ha với 3818 hộ và
14499 khẩu. trong đó, hộ sản xuất nông nghiệp là 1670 hộ và hộ phi nông nghiệp
là 2148 hộ. Trong tổng số 7670 lao động của thị trấn thì có tới 2537 người đang
làm việc cho các doanh nghiệp, cơ quan trên địa bàn. Diện tích đất nông nghiệp
của thị trấn chỉ có 543,1 ha, đất phi nông nghiệp có 445,05 ha. Thời gian qua,
quá trình chuyển đổi mục đích s
ử dụng đất cũng được thực hiện trên địa bàn thị
trấn nhưng tốc độ chậm vì nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như giá đền bù chưa
hợp lý, ý thức trách nhiệm một số người chưa cao.
Xã Bá Hiến nằm ở phía Bắc huyện Bình Xuyên với 3216 hộ, 14 216 khẩu
đó, khi có một khoản tiền trong tay thì nhiều người sẽ nghĩ ngay đến việc chỉnh
sửa hoặc xây nhà để ở và
để tự hào với hàng xóm, láng giềng. Quan sát việc xây,
sửa nhà và cách thức bố trí nơi cư trú cũng như không gian sống, nhóm nghiên
cứu phát hiện thấy một số nét đáng chú ý sau đây:
3.1. Thiết kế và xây dựng nhà ở:
7
Như phần trên trình bày, ngôi nhà vốn có một vị trí rất quan trọng trong
suy nghĩ của người dân nông thôn Việt Nam. Với rất nhiều hộ gia đình đang phải
ở trong những ngôi nhà cũ, lạc hậu và không an toàn thì việc xây nhà là tất yếu.
Nhìn vào bảng số 14 có thể thấy: trước khi bị thu hồi đất, đa số các hộ gia đình
được hỏi đang ở trong những căn nhà truyền thống với kết cấu t
ường gạch, mái
ngói (chiếm 85.9%); thậm chí có tới 4.5% số hộ gia đình được khảo sát còn phải
ở trong nhà tranh, tre. Tỷ lệ những hộ có nhà mái bằng hoặc nhà cao tầng rất
thấp (mái bằng: 2.3%; nhà 02 tầng trở lên: 1.3%). Thực trạng nhà ở đã phản ánh
mức sống của cư dân khu vực khảo sát trước khi chuyển đổi đất.
Bảng 1: Sự thay đổi về loại nhà ở của cư dân vùng chuyển
đổi
(Tỷ lệ %)
Loại nhà ở
Thời điểm bị thu
hồi đât
Hiện nay
(2009)
1. Nhà tranh, tre 4.5 0.0
2. Nhà tường gạch, mái ngói 85.9 53.1
3. Nhà tường gạch, mái proximăng/mái
tôn
Nếu là nhà cao tầng thì các buồng được ngăn cách độc lập với nhau; gian
giữa và rộng nhất trong nhà vẫn là nơi tiếp khách và bày biện những đồ đạc có
giá trị của gia đình. Đa số các gia đình vẫn bố trí bàn thờ ở gian chính giữa
nhưng với một số nhà cao tầng thì gia chủ l
ại bố trí nơi thờ tự ở trên tầng cao
nhất, với suy nghĩ đó là nơi sạch sẽ và sang trọng, thiêng liêng.
Do tận dụng diện tích cho nên các khoảng không hay diện tích cây xanh là
vô cùng hạn chế. Rất nhiều hộ gia đình đông con cái đã chia thành lô đất cho các
con nên nhiều hộ, nhất là gia đình trẻ, chỉ có đủ diện tích đất cho việc xây nhà.
9
Đất đai trở nên khan hiếm cho nên người dân có xu hướng xây nhà ở bất kỳ đâu
có thể.
Tính tùy tiện trong thói quen sinh hoạt của người nông dân có cơ hội hiện
thực hóa thành các kiểu kết cấu nhà hết sức đa dạng, với đủ loại kiến trúc và màu
sắc. Các ngôi nhà mới xây có thể quay theo bất cứ hướng nào, với bất cứ hình
thù như thế nào theo sở thích của gia chủ. Đây chính là nguyên nhân cho thấy,
mặc dù nhiề
u nhà kiên cố được xây dựng nhưng các khu dân cư mới chuyển đổi
có một bộ dạng kiến trúc hết sức pha tạp và tự do, thiếu thẩm mỹ. Nói cách khác,
hoàn toàn không có một quy hoạch tổng thể trong việc thiết kế và xây mới nhà ở
cho các khu dân cư chuyển đổi đất. Không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan chung,
việc tự do xây dựng của các hộ gia đình đã làm nảy sinh những vấn đề liên quan
đến cộng đồng, nhất là vấn đề thoát nước và vệ sinh môi trường.
“ Người dân chúng tôi mong làm sao một là giải quyết cho cái lối thoát
nước trong cái chỗ đường làm bê tông, cống rãnh và phát triển thêm cái mương
thoát nước, nếu gặp mưa nó tiêu đi nó khỏi ứ đọng, ô nhiễm cái nguồn nước thải
vì trước kia là cứ thải xuống ao, chuông. Bây giờ đất ở cũng đã thấp, bây giờ
thậm chí chỉ có đôi nhà làm nhà bây giờ còn làm được theo nh
ư nguyện vọng
sử dụng chất liệu truyền thống như than đã giảm đáng kể, từ 47.5% xuống chỉ
còn 4.1% vào thời điểm năm 2009. Như vậy, có thể thấy sự thay đổi rõ ràng
trong thói quen và cách th
ức tổ chức một khu vực hết sức quan trọng trong các
hộ gia đình khu vực chuyển đổi. Cùng với xây và sửa nhà, việc xây dựng bếp
mới cũng được nhiều hộ gia đình sử dụng nguồn tiền đền bù đất (xem bảng 14).
Bảng 2: Cấu trúc và loại bếp trong gia đình khu vực chuyển đổi
(Tỷ lệ %)
Cấu trúc bếp
Thời điểm bị thu
hồi đât
Hiện nay (2009)
11
1. Khép kín trong nhà 5.7 24.9
2. Khu riêng biệt, tách khỏi nhà 92.7 74.2
3. Không có khu bếp 1.5 0.9
Tổng 100 100
Loại bếp
4. Có sử dụng bếp điện 4.5 3.4
5. Sử dụng bếp gas 48.0 92.4
6. Sử dụng bếp than 47.5 4.1
7. Đun củi, rơm, rạ… 0.0 0.0
Tổng 100 100
Đối với nhà vệ sinh
2
, dân cư nông nghiệp truyền thống thường bố trí nhà
vệ sinh trong vườn hoặc cùng với chuồng trại để lấy phân bón ruộng. Tuy nhiên,
1. Một ngăn (thùng) 46.3 17.1
2. Hai ngăn 48.1 30.2
3. Tự hoại 3.6 51.9
4. Không có nhà vệ sinh 2.0 0.8
Tổng 100 100
Nhà tắm là công trình vốn ít được chú ý nhất trong mô hình cư trú truyền
thống của người dân nông thôn Việt Nam. Bảng số liệu dưới đây góp phần minh
chứng cho nhận định trên.
Bảng 4: Sự thay đổi mô hình nhà tắm của các hộ gia đình (Tỷ lệ %)
Loại nhà tắm
Thời điểm bị thu
hồi đât
Hiện nay
(2009)
1. Tranh tre (tạm) 9.5 1.0
2. Xây tường, không mái 62.4 21.8
13
3.Xây tường, có mái 24.0 51.3
4. Khép kín trong nhà 1.8 25.1
5. Không có nhà tắm 0.8 0.8
Tổng 100 100
Cho đến trước thời điểm thực hiện chính sách chuyển đổi mục đích sử
dụng đất ở địa phương, vẫn có tới 9.5% số hộ gia đình được hỏi có nhà tắm được
làm bằng tranh, tre (tạm thời). Tỷ lệ nhà tắm đơn sơ cũng rất cao với 62.4% là
nhà tắm không mái, chỉ có tường. Loại nhà tắm kiên cố chiếm tỷ lệ rất thấp: 24%
số hộ có nhà tắm xây tường và có mái; chỉ 1.8% có nhà tắm khép kín. Tuy nhiên,
đến thời điểm khảo sát, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tắm khép kín và xây kiên cố đã
Có thể thấy rõ một thực tế là tỷ lệ những hộ không có chuồng trại tăng lên
rất đáng kể tại hai thời điểm, từ 11.5% tăng lên 42.9%; chuồng nuôi gia súc giảm
từ 71.6% xuống còn 37.3%. Chỉ duy nhất các hộ gia đình chăn nuôi gia cầm là
vẫn giữ nguyên khu vực chuồng trại (16.1% số hộ tại thời điểm bị thu hồi đất và
17.5% số hộ hiệ
n nay). Những thông tin này cho thấy sự biến đổi của một chiều
cạnh thuộc về lối sống hết sức rõ nét tại khu vực chuyển đổi. Theo đó, các hoạt
động sản xuất nông nghiệp truyền thống (chăn nuôi, trồng trọt) đã giảm đáng kể;
các thành viên hộ gia đình có xu hướng tìm việc làm bên ngoài phạm vi nơi ở.
Bởi vậy, với đa số hộ gia đình khả
o sát, ngôi nhà dần trở thành nơi chỉ để cư trú
thuần túy.
4. Kết luận:
Các thông tin thu được một lần nữa khẳng định quá trình chuyển đổi mục
đích sử dụng đất là tác nhân quan trọng nhất dẫn đến những biến đổi về cách
thức tổ chức không gian sống của người dân tại các khu vực đang thực hiện
15
chính sách này. Đại đa số các hộ gia đình được khảo sát đã dùng nguồn tiền đền
bù đất để xây mới hoặc sửa chữa nhà cửa. Mức độ đầu tư cho nơi cư trú tỷ lệ
thuận với lượng tiền được đền bù. Đây là kết luận nghiên cứu đã được khẳng
định trong rất nhiều nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như Nguyễn V
ăn Đáng
(2003), Nguyễn Hữu Minh (2003), Đỗ Văn Quân (2006), Phan Thị Mai Hương
(2006), Bùi Thị Ngọc Lan (2007), Hoa Hữu Lân (2007), Nguyễn Thị Kim Hoa
(2008), Ngô Thị Phượng (2008) vv.
Với tâm lý truyền thống của người nông dân, ngôi nhà luôn giữ một vị trí
hết sức quan trọng vì đó không chỉ là nơi ở mà còn là biểu tượng thể hiện thể
diện của gia đình. Hơn nữa, do mức thu nhập từ nông nghiệp quá thấp nên khả
năng xây nhà
17
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Duy Bắc (chủ biên, 2008): “Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong
bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”. Nhà xuất
bản Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa. Hà Nội.
2. Mai Huy Bích (2003): “Xã hội học gia đình”. Nhà xuất bản Khoa học xã
hội, Hà Nội.
3. Nguyễn Văn Đáng (2003): “Chuyển đổi ngh
ề nghiệp của người nông dân
trong quá trình đô thị hóa”. Tạp chí Lý luận chính trị.
4. Đôbơrianốp, V (1985): “Xã hội học Mác-Lênin”. Nhà xuất bản Thông tin lý
luận, H.1985.
5. Evans, Grant (2001): “Bức khảm văn hóa châu Á: Tiếp cận nhân học”.
Người dịch: Cao Xuân Phổ. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
6. Ngô Văn Giá (2006): “Những biến đổi về giá trị văn hóa của các làng ven
đô Hà Nội Nội trong th
ời kỳ đổi mới”. Đề tài cấp Bộ, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền.
7. Mai Văn Hai-Mai Kiệm (2003): “Xã hội học văn hoá”. Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội.
8. Vũ Tuấn Huy (2003): “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố
ảnh hưởng”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 2003.
9. Vũ Tuấn Huy (2004): “Xu hướng gia đình ngày nay”. Nhà xuất b
ản Khoa
học xã hội, Hà Nội.
10. Tương Lai (chủ biên, 1996): “Những nghiên cứu về xã hội học gia đình Việt
20. Nguyễn Thu Linh (2008): “Cấu trúc của Văn hóa doanh nghiệp”. Nguồn:
/>.14:45,9/7/2008(GMT+7).
21. Trịnh Duy Luân (2008): “Biến đổi tâm lý-xã hội của cộng đồng dân cư đô
thi dưới tác động của đô thị hoá”, Tạp chí Xã hội học số 1.
22. Trần Lê (2007): “Quyền lợi của người nông dân bị thu hồi đất”. Nguồn:
vneconomy ngày 6/7/2007).
23. Nguyễn Hữu Minh (2003), "Đô thị hoá và sự phát triển nông thôn Việt Nam-
Một số vấn đề cần quan tâm nghiên cứu", Tạp chí Xã h
ội học, (3).
24. Nguyễn Hữu Minh (2003), "Những biến đổi kinh tế -xã hôi ở vùng ven đô
Hà Nội trong quá trình đô thị hóa", Đề tài cấp Viện.
25. Mai Quỳnh Nam (chủ biên, 2002): “Gia đình trong tấm gương xã hội học”.
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
26. Trần Ngọc Thêm (2001): “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”. Nhà xuất
bản Thành phố Hồ Chí Minh.
19
27. Trương Xuân Trường: “Động thái của mô hình văn hoá gia đình nông thôn
những năm đầu thập kỷ 90” in trong Mai Quỳnh Nam (2002: 311-326):
“Gia đình trong tấm gương xã hội học”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
Nội.
28. Nguyễn Hữu Tiến: “Vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nông
trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá”. Tạp chí Cộng sản điện tử
ngày 4/7/2007).
29. Lê Du Phong (2007): “Thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống của người
dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp, đô thị và cho nhu cầu công
cộng, lợi ích quốc gia” sgtt.com.vn ngày 30/12/2007.
30. Lê Du Phong, Nguyễn V. áng, Hoàng V. Hoa (2002): “ảnh hưởng của đô thị
hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội-Thực trạng và giải pháp”. Nhà xuất
41. Đình Quang (2005): “Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt nam.
Nhà xu
ất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội
42. Trần Văn Thạch (2005), Biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau tái định
cư ở Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Xã hội học, Hà Nội.
43. Nguyễn Đức Truyến (2003): ‘‘Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở
nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ Đổi mới’’, Nhà xuất bản
Khoa học xã h
ội, Hà Nội.
44. UBND xã Bá Hiến (2008): Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008, phương hướng
nhiệm vụ năm 2009.
45. UBND thị trấn Hương Canh (2008): Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008,
phương hướng nhiệm vụ năm 2009.
46. UBND phường Khai Quang (2008): Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008,
phương hướng nhiệm vụ năm 2009.
47. UBND phường Đồng Tâm (2008): Báo cáo kinh tế xã hội năm 2008,
phương hướng nhiệm v
ụ năm 2009.
48. Lê Ngọc Văn (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình
thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
49. Lê Ngọc Văn (2002), "Một số đặc điểm biến đổi gia đình từ xã hội nông
nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hoá", Tạp chí Khoa học về
Phụ nữ, (1).