TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TS. BÙI VĂN MƯA
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Đặt vấn đề 2
2.Đối tượng nghiên cứu 2
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐÔI NÉT VỀ ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA
1.1Khái quát lịch sử Trung Quốc thời cổ đại 2
1.2Tư Tưởng Triết Học Của Đạo Gia 4
1.2.1Sơ lược sự hình thành và phát triển Triết học Đạo gia 4
1.2.2Một số tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia 5
1.2.2.1Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử 5
a.Lý luận về đạo và đức 4
b.Quan niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử 6
c.Quan niệm nhân sinh và chính trị xã hội 7
-Quan niệm về thuyết vô vi 7
-Quan niệm về đường lối trị nước an dân 8
1.2.2.2Trang Tử và sự phát triển của Đạo gia 8
1.2.3. Nhận xét về triết học đạo gia 9
1.3 Tư Tưởng Triết Học Của Pháp Gia 9
1.3.1Sơ lược sự hình thành và phát triển triết học Pháp Gia 9
1.3.2Một số tư tưởng triết học cơ bản của Pháp Gia 9
1.3.2.1Những tư tưởng về triết học Pháp Gia trước Hàn Phi 9
1.3.2.2Những tư tưởng về triết học Pháp Gia của Hàn Phi 12
a.Quan niệm về đạo và lý 12
b.Quan niệm về lịch sử xã hội 12
c.Quan niệm về con người 12
d.Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi 13
1.3.3Nhận xét về triết học Pháp Gia 14
CHƯƠNG II. SO SÁNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA 15
PHẦN KẾT LUẬN 18
thời kỳ trị vì của Chu Bình Vương. Thời kỳ này chứng kiến những sự thay đổi về kinh
tế, chính trị:
Về kinh tế, chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt, hệ thống thủy lợi phát
triển. Cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật trồng trọt, đã tạo điều kiện tăng năng suất trong
lao động nông nghiệp. Thời kỳ này đánh dấu sự tan rã của chế độ “tỉnh điền” và ra đời
của chế độ tư hữu ruộng đất, được pháp luật nhà nước thừa nhập và bảo vệ.
Về chính trị, thời Xuân Thu chứng kiến sự ganh đua giữa các nước chư hầu, động
binh để mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ
2
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TS. BÙI VĂN MƯA
thiên hạ. Trong khoảng thời gian khoảng 242 năm đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn
nhỏ. Đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn một trăm nước (đầu thời Tây Chu có hàng
ngàn nước). Trong đó, có những nước hùng mạnh nhất thay nhau làm bá thiên hạ là
Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần.
Thời Xuân Thu khép lại, mở ra thời Chiến Quốc (năm 475 đến năm 221 trước
Công nguyên) với sự tranh giành ngôi bá chủ của bảy nước lớn: Tề, Sở, Yên, Tần,
Hàn, Triệu, Ngụy.
Về kinh tế, nghề luyện sắt đã đạt đến trình độ khá cao. Tuy nhiên, chiến tranh tàn
khốc trên quy mô lớn và liên tục giữa các nước chư hầu đã làm cho đời sống nhân dân
lao động ngày càng cùng cực hơn. Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần trở
thành quan hệ sở hữu thống trị. Đất đai tập trung vào tay lãnh chúa, địa chủ giàu có.
Nông dân mất hết ruộng đất phải đi cày thuê quốc mướn.
Về chính trị, chứng kiến sự lớn mạnh của nước Tần. Nhờ vào tư tưởng triết học của
Hàn Phi Tử với Pháp gia, đã giúp nước Tần thành công trong sự nghiệp thống nhất
Trung Quốc vào năm 221 trước Công nguyên.
Chính trong thời đại lịch sử biến đổi toàn diện và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề
triết học, chính trị xã hội, luân lý đạo đức, kinh tế, pháp luật, quân sự, ngoại giao…
kích thích long người, khiến các bậc sĩ tài đương thời quan tâm lý giải, để tìm ra các
phương pháp giải quyết “cứu đời, cứu người”, làm nảy sinh một loạt các nhà tư tưởng
nổi tiếng và các trường phái triết học lớn. Trong đó có Đạo gia của Lão Tử và Pháp gia
nhiên của “Đạo” được hiểu nó vốn như thế, mộc mạc, thuần phác, không bị nhào nặn,
gọt giũa bởi con người và nó hoàn toàn độc lập với ý muốn, nguyện vọng của con
người. Thuộc tính thứ hai của “Đạo” được Lão Tử nói là sự lặng yên, trống không. Sự
trống rỗng này là cái đầu tiên, uyên nguyên của trời đất. Nó vô cùng vô tận, chứa
đựng muôn vật vạn loài mà chẳng bao giờ đầy, biến hóa khôn lường mà chẳng bao giờ
kiệt.
Mặt dụng của “Đạo” chính là công dụng, năng lực của nó. Dụng của “đạo” là trạng
thái vận động, biến đổi với năng lực sản sinh và huyền động vạn vật. Năng lực của
“đạo” ở chỗ vô vi, trông thì có vẻ “đạo” tĩnh lặng không làm gì cả nhưng thực ra
không đâu là “đạo” không tới, không có cái gì không ảnh hưởng của “đạo”. Bằng
chính năng lực sản sinh và vô vi của “đạo” mà muôn vật vận hành theo những quy luật
tất yếu.
4
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TS. BÙI VĂN MƯA
Tóm lại: theo Đức Lão Tử, vũ trụ là một khoảng không gian hư vô, trong đó có
“Đạo”. “Đạo” sinh ra vạn vật. Vạn vật cùng tác động qua lại với nhau, tăng trưởng và
phồn thịnh với nhau rồi lại trở về gốc cũ. Đó là một luật chung của vũ trụ và là định
mệnh của vạn vật.
Về “Đức”, Lão Tử dạy: Đức không phải là một vật, không có thực thể, không có
hình tượng, mà nó chính là tinh tuý của mọi vật. “Đức” do “Đạo” sinh ra, dùng để nuôi
dưỡng vạn vật. Sinh ra vạn vật là “Đạo” nhưng làm cho vạn vật tồn tại là “Đức”. Như
vậy, “Đạo” là bản chất và “Đức” là thể năng.
Ông phân biệt “Đạo” với “Đức”: “Đạo” sinh ra vạn vật, “Đức” chứa đựng chúng,
vật chất biến chúng thành hình, hoàn cảnh khiến chúng thành vật. Vì thế muôn vật,
không vật nào mà không tôn “Đạo” và quý “Đức”. “Đạo” được tôn, “Đức” được quý,
không phải do cái gì sai khiến mà tự nhiên như vậy. Cho nên, “Đạo” sinh ra chúng,
“Đức” nuôi chúng , làm cho chúng sống và lớn lên, làm cho chúng hiện ra hình, làm
cho chúng thành ra chất và che chở chúng. Như vậy, “Đức” là năng lực của “Đạo”, là
công dụng của “Đạo”. “Đức” là biểu hiện cụ thể của “Đạo” trong từng sự vật.
Tóm lại: theo Lão Tử, vạn vật được sinh ra, lớn lên, phồn thịnh một thời gian rồi
của mọi sự mâu thuẫn, đó là mối quan hệ biện chứng giữa động và tĩnh giữa thống
nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Vì mối quan hệ biện chứng của các mặt đối lập
chính là nguồn gốc của mọi sự vận động, biến đổi. Nhưng các mặt đối lập trong các sự
vật, hiện tượng có thể chuyển hoá cho nhau.
c. Quan niệm nhân sinh và chính trị xã hội.
- Quan niệm về thuyết vô vi.
Khái niệm “vô vi” trong Đạo gia của Lão tử được hiểu là nghệ thuật số của con
người trong sự hòa nhập với tự nhiên. Thuận theo bản tính tự nhiên của con người, “vô
vi” trong đạo đức kinh có ba ý nghĩa chính:
+ Vạn vật đều có bản tính tự nhiên của mình, chúng tồn tại, vận động, biến hóa theo lẽ
tự nhiên, không cần biết đến ý nghĩa, mục đích của bản thân chúng
6
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TS. BÙI VĂN MƯA
+ “Vô vi” còn có nghĩa là tự do “tuyệt đối”, không bị ràng buộc bởi bất cứ ý tưởng,
dục vọng, đam mê, ham muốn nào. Theo Lão Tử, kỹ thuật, trí xảo là nguy hại đến bản
tính tự nhiên của đạo, ảnh hưởng đến tự do của vạn vật. Vì vậy vô vi chống lại tri thức
và tiến bộ xã hội. Theo Lão Tử: “Đạo lớn mất mới có nhân nghĩa. Trí tuệ sinh thì có
dối trá” (Đạo đức kinh, chương 20).
+ “Vô vi” còn có nghĩa là luôn bảo vệ, giữ kín bản tính tự nhiên của mình, biết ngăn
chặn, bài trừ những gì làm tổn hại đến bản tính tự nhiên của vạn vật mà trước hết là
chống lại mọi hành vi của con người trong xã hội.
- Quan niệm về đường lối trị nước an dân.
Trong quan điểm về chính trị - xã hội, trị nước theo đạo “vô vi”, Lão Tử chủ
trương xóa bỏ mọi lễ giáo, pháp luật, văn hóa, kỹ thuật; bỏ tất cả những gì trái với tự
nhiên, tổn hại đến bản chất tự nhiên của con người.
Theo đạo “vô vi”, Lão Tử mơ ước trở lại đời sống chất phác của thời đại công xã
nguyên thủy, không thể chế, không có chế độ tư hữu và trao đổi hàng hóa, sống tự cấp
tự túc. Đó là cảnh mộc mạc, “vô danh phi phác”, như đạo vô danh của ông: “Nước
nhỏ, dân ít” (Đạo đức kinh, Chương 80).
Theo ông, chẳng có cái gọi là vinh hay nhục gì khi thắng hay bại trong chiến tranh.
tượng cao, vượt xa những quan điểm duy vật, đồng nhất vật thể với phạm trù vật chất
lúc bấy giờ.
- Lão Tử đã vạch ra được mối quan hệ biện chứng của các mặt đối lập chính là
nguồn gốc của mọi sự vận động, biến đổi. Tuy nhiên, ông lại cho rằng sự đấu tranh,
chuyển hóa của các mặt đối lập không theo khuynh hướng phát triển, xuất hiện cái mới
mà theo vòng tuần hoàn của quy luật “phản phục”.
1.3. Tư Tưởng Triết Học Của Pháp Gia.
1.3.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển triết học Pháp Gia.
Pháp gia xuất hiện ở thời kỳ Xuân Thu (771 tr. CN – 475 tr. CN) – Chiến Quốc
(475 tr.CN – 221 tr. CN). Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ, quyết
liệt từ chế độ tông pháp nhà Chu đã suy tàn sang chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên.
Những nhân vật đại biểu chủ yếu của Pháp gia có thể chia làm bốn phái: phái trọng
hực với Quản Trọng (khoảng thế kỷ VI tr. CN), Lý Khôi (455 tr. CN – 395 tr. CN),
8
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TS. BÙI VĂN MƯA
Ngô Khởi (? – 381 tr. CN); phái trọng thế với Thận Đáo (370 – 290 tr. CN); phái trọng
thuật với Thân Bất Hại (401 – 337 tr. CN); pháp và biến pháp với Thương Ưởng (? –
339 tr. CN). Hàn Phi (280 – 233 tr. CN) là nhà chính trị, nhà lý luận pháp luật, nhà văn
kiệt xuất, chủ trương pháp trị của ông là sự tổng hợp giữa “pháp”, “thế”, “thuật”. Pháp
gia là tiếng nói đại diện cho đại vị và lợi ích của giai cấp quý tộc mới đã tiến hành đấu
tranh kien quyết chống lại tàn dư của quan hệ xã hội tông pháp huyết thống.
1.3.2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của Pháp Gia.
1.3.2.1. Những tư tưởng về triết học Pháp Gia trước Hàn Phi.
Quản Trọng là người đầu tiên bàn về pháp như một cách cai trị và cần phải công
bố pháp luật rộng rãi, ông cho rằng trong phép trị nước phải coi trọng luật, lệnh, hình
và chính. Luật là để định phận cho mỗi người mà dân không tranh. Lệnh là để cho dân
biết việc mà làm. Hình để trừng trị những kẻ làm trái luật, lệnh đã ban. Chính là sửa
cho dân theo đường ngay lẽ phải. Theo ông, lập pháp cần phải rõ rang, minh bạch, tùy
từng điều kiện, thời thế và ý cầu của dân; phải dạy cho dân biết rõ pháp luật mới thi
hành; khi thi hành pháp luật phải luôn giữ được lòng tin với dân chúng.
"thuật", tức phương tiện, mưu mô để đạt được mục đích: vua chọn và dùng bề tôi cách
nào, thử tài họ, điều tra họ ra sao.
Phái trọng thế: Thế được hiểu là tính chính thống, quyền lực hay uy tín. Chính
vị trí của nhà vua cai trị, chứ không phải nhà vua, nắm giữ quyền lực. Pháp gia đặt địa
vị, quyền thế lên trên tài đức; miễn là tài đức trung bình mà có quyền thế là trị nước
được rồi. Trọng cái “thế” tức là trọng sự cưỡng chế. Đại diện cho phái này là Thận
Đáo (370 – 290 TCN ). Vì trọng "thế" nên Thận Đáo chủ trương tập quyền, cấm không
được lập bè đảng, địa vị và quyền lợi của vợ lớn bé, con cả con thứ phải rõ ràng, đại
thần không được lấn vua, phải bỏ ý riêng mà chỉ theo luật.
Phái trọng pháp: Pháp được hiểu là luật hay quy tắc. Pháp luật tức là một thứ
tiêu chuẩn để biết đâu là chính, đâu là tà, để khen đúng người phải, trách đúng kẻ
quấy. Đại diện cho phái này là Thương Ưởng (388 TCN– không rõ). Chủ trương của
ông là:
+ Pháp luật phải rất nghiêm, ban bố khắp trong nước, và từ trên xuống dưới ai
cũng phải thi hành, không phân biệt giai cấp; pháp đã định rồi thì không ai được bàn ra
10
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TS. BÙI VĂN MƯA
bàn vào nữa, không được "dùng lời khéo mà làm hại pháp", nghĩa là làm sai ý nghĩa
của pháp để tìm lợi cho mình.
+ Tội dù nhẹ cũng phạt rất nặng, để cho dân sợ, mà sau khỏi phải dùng hình phạt.
Đó là cách "dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạt"
+ Tổ chức liên gia và cáo gian lẫn nhau, khuyến khích khai hoang, cày cấy, nuôi
tằm, dệt lụa, thưởng người có công, phạt người phạm tội.
1.3.2.2. Những tư tưởng về triết học Pháp Gia của Hàn Phi.
3. Quan niệm về đạo và lý.
Hàn Phi đã kế thừa và phát triển quan điểm duy vật về thế giới của Lão Tử, ông đã
giải thích sự phát minh, phát triển của vạn vật theo “đạo” và “lý” của chúng. Hàn Phi
cho rằng, một mặt “đạo là khởi nguyên của tất cả vạn vật” (Hàn Phi Tử, Chủ đạo); mặt
khác, đạo thể hiện quy luật chung của chúng. “Đạo” được thể hiện (bộc lộ, hiện ra)
trong các sự vật, hiện tượng cụ thể bằng cái “lý”, vì vậy “lý” đó là sự phân biệt giữa
trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội. Ông cũng dựa trên lý luận rằng
trong xã hội kẻ hiền thì ít, kẻ ác thì nhiều. Trị nước là trị dân khắp thiên hạ, do đó, coi
luật pháp, thưởng phạt là công cụ quan trọng nhất.
6. Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi.
Hàn Phi cho rằng : « pháp », « thế », « thuật » là ba yếu tố thống nhất, không thể tách
rời trong pháp trị, là công của của đế vương.
« Pháp » của Hàn Phi bao gồm những yếu tố cơ bản :
Những điều luật, luật lệ, quy định mang tính nguyên tắc được biên soạn rõ ràng
minh bạch như khuôn mẫu, được chép trong đồ thư và bày ra nơi quan thủ, ban bố
rộng rãi cho dân chúng biết việc gì được làm, việc gì không được làm… ;
Nội dung và các hình thức thưởng, phạt… Mục dích thực hiện pháp, theo Hàn Phi
Tử là « để cứu loạn cho dân chúng, trừ họa cho thiên hạ, kiến cho kẻ mạnh không lấn
kẻ yếu, đám đông không hiếp số ít, người già được hưởng hết tuổi trời, bọn trẻ côi
được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân nhau, cha con bảo vệ nhau,
không lo bị giết hay bị cầm tù, đó cũng là cái công cực lớn vậy » (Hàn Phi Tử, Gian
hiếp thí thần).
Cùng với « pháp », « thế » là yếu tố không thể thiếu trong pháp trị. Muốn có
pháp luật rõ ràng, minh bạch được ban bố rộng rãi khắp nơi và được dân tuyệt đối tôn
trọng thi hành thì cần phải có « thế ». « Thế » trước hết là địa vị, thế lực, quyền uy của
người cầu đầu chính thể (vua). Địa vị, quyền uy này là độc tôn, gọi là « tôn quân
quyền » mà nhất nhất mọi người phải tuân phục. « Thế » có vị trí quan trọng đến mức
12
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TS. BÙI VĂN MƯA
có thể thay thế được hiền nhân. « Chỉ có bậc hiền trí không đủ trị dân, mà địa vị quyền
thế thì lại đủ đóng vai trò của bậc hiền vậy » (Hàn Phi Tử, Nạn thế).
Như thế, nhờ vào cái « thế » mà vua đặt ra và ban bố luật pháp, chọn các bề tôi để
giao nhiệm vụ thực hiện luật pháp. Thế nhưng, làm thế nào để vua chọn đúng người,
giao đúng việc ; và làm sao để vua có thể điều khiển được bộ máy quan lại và dân
khắp nước ? Đó là nhờ « thuật ».
« Thuật » là cách thức, phương pháp mưu lược, thủ đoạn… trong việc tuyển người,
sản và huyền đồng vạn vật. “Đức” là biểu hiện ra hình dáng bên ngoài của vạn vật,
giúp phân biệt cái này với cái khác.
- Pháp gia – Hàn Phi: cơ sở triết lý của Pháp gia là học thuyết về “đạo” và “lý”.
Hàn Phi xem “đạo” là nguyên lý căn bản, là quy luật phổ biến của sự hình thành mọị
hiện tượng, “lý” là quy luật riêng biệt, vốn có của vạn vật, là sự biểu hiện bản chất của
“đạo” trong mỗi vật. Mọi vật đều có cái “lý” của nó. Trong đó, “đạo” là quy luật phổ
biến là bản thể của giới tự nhiên vĩnh viễn tồn tại và không thay đổi, nhưng “lý” là sự
biểu hiện khác nhau của đạo trong mỗi vật thì “bất thường”, luôn luôn biến đổi trong
những điều kiện cụ thể khác nhau.
Nhận xét: ở đây ta thấy có sự tương đồng về tư tưởng triết học giữa Đạo gia và
Pháp gia, đó là Hàn Phi đã kế thừa và phát triển quan điểm duy vật về thế giới của Lão
Tử: cho rằng “đạo” là khởi nguyên của vạn vật. Tuy nhiên, theo Đạo gia thì “đức” là
biểu hiện của “đạo”, “đức” không phải là một vật, không có thực thể, không có hình
tượng, mà nó chính là tinh tuý của mọi vật. Trong khi Hàn Phi lý luận rằng, “lý” (lực
lượng khách quan, thời thế hoàn cảnh…) là biểu hiện của “đạo” và luôn luôn biến đổi.
2.2. Quan niệm biện chứng về thế giới:
- Đạo gia: theo Lão Tử thì toàn thể vũ trụ bị chi phối bởi quy luật phổ biến là luật
“bình quân” và luật “phản phục”. Luật bình quân giữ cho vận động được thăng bằng
không để cho cái gì thái quá, thiên lệch hay bất cập. Luật phản phục nghĩa là vạn vật
biến hóa trao đổi cho nhau theo một vòng tuần hoàn đều đặn, kế tiếp, nhịp nhàng bất
tận.
- Pháp gia: theo Hàn Phi thì mọi sự vật không đứng yên mà luôn luôn biến đổi
cho phù hợp với hoàn cảnh.
Nhận xét: cả hai trường phái đều đưa ra quan điểm là vạn vật trong vũ trụ sẽ
luôn luôn biến đổi, chứ không bất di bất dịch. Tuy nhiên, có thể thấy sự khác biệt là lý
14
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TS. BÙI VĂN MƯA
luận của Lão Tử về sự biến đổi này luôn tuân theo một vòng tuần hoàn không xuất
hiện cái mới. Trong khi đó, theo Hàn Phi để thích ứng với hoàn cảnh (bên ngoài) thì sự
vật sẽ biến đổi, do đó, sự biến đổi sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường khách quan
cực làm việc thì dân đầy tai họa. Ông cho rằng, Thánh nhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ
tự nhiên, xóa bỏ hết pháp luật, luân lý đạo đức, trả lại con người bản tính tự nhiên vốn
có. “Không chuộng hiền khiến dân không tranh, không trọng vật khiến dân không
trộm cướp, không thấy vật đáng ham khiến long dân khỏi loạn. Cho nên lối trị dân của
bậc thánh nhân là làm cho long trống, bụng no, nhược chí, xương cứng cáp, thường
khiến cho dân không biết, không muốn” (Đạo đức kinh, Chương 3). Lão Tử cũng phản
đối chính sách thuế khóa đương thời, lên án giai cấp thống trị và hiện tượng bất bình
đẳng trong xã hội. Ông cũng chủ trương bất bạo động, phản đối việc gây chiến tranh,
bạo lực.
- Pháp gia: Hàn Phi cho rằng, con người có tính “ác”, bản chất “ích kỷ”. Thêm
vào đó, “lợi ích vật chất là cơ sở của mọi quan hệ xã hội và hành vi con người”, mọi
mối quan hệ đều được xây dựng trên cơ sở tính toán lợi hại cá nhân. Vì thế, muốn trị
nước, an dân thì phải dùng luật pháp. Tư tưởng về pháp trị của Hàn Phi kết hợp ba yếu
tố “pháp”, “thế”, “thuật”. Trong đó, “pháp” là nội dung của chính sách cai trị, “thế” là
công cụ, phương tiện, “thuật” là phương pháp, cách thức thực hiện nội dung của chính
sách cai trị (luật). Quá trình thực hiện pháp trị, mọi cấp bậc được phân chia trên dưới
rõ ràng, thưởng phạt phân minh, không màn đến tình thâm, nhân nghĩa mà chỉ tuân
theo pháp luật.
Nhận xét: Qua việc trình bày sơ bộ quan niệm về chính trị (đường lối trị nước
an dân) có thể thấy cả hai trường phái đều hướng đến một mục đích là đem lại cuộc
sống tốt đẹp cho con người nhưng bằng hai phương pháp đối lập nhau. Đạo gia chủ
trương dùng thuyết vô vi, xóa bỏ mọi sự ràng buộc đối với hành vi của con người: luân
lý đạo đức, pháp luật, chủ trương để con người tự do, tự điều chỉnh hành vi của mình.
Bên cạnh đó, Lão Tử cũng cho thấy nỗi niềm cảm thong trước sự đau khổ của con
người đương thời và mong muốn giúp họ thoát khỏi tình trạng thực tại. Ngược lại, Hàn
Phi chủ trương thuyết hữu vi, sử dụng pháp trị để ràng buộc, đưa hành vi con người
vào khuôn khổ pháp luật. Việc áp dụng pháp luật triệt để, nghiêm khắc đã dẫn đến phủ
nhận tình cảm đạo đức, thủ tiêu văn hóa giáo duc… đi ngược lại xu hướng phát triển
của văn minh nhân loại.
16