SO SÁNH TỰ NHIÊN QUAN CỦA NHO GIA VÀ TỰ NHIÊN QUAN CỦA ĐẠO GIA - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
------***------
TIỂU LUẬN
SO SÁNH TỰ NHIÊN QUAN CỦA NHO GIA
VÀ TỰ NHIÊN QUAN CỦA ĐẠO GIA
Giáo viên : PGS.TS Trần Nho Thìn
Sinh viên : Đinh Vạn Anh Tuấn
Lớp : K47- Văn CLC
Hà Nội - 2006
Nho- Phật- Đạo là ba hệ tư tưởng cấu thành trụ cột của tinh thần văn
hoá truyền thống Trung Quốc, trong đó Nho- Đạo là các hệ tư tưởng nội
sinh, còn Phật giáo là hệ tư tưởng ngoại lai du nhập. Trong lĩnh vực văn
nghệ đây cũng là ba hệ tư tưởng đã đề xuất những quan niệm văn nghệ cốt
yếu và những quan niệm này thống ngự trong hàng mấy nghìn năm ở
Trung Quốc. Tuy nhiên các quan niệm văn nghệ của Nho- Phật- Đạo, do
có cơ sở triết học khác nhau, cách hình dung “thiên văn” và “nhân văn”
khác nhau…nên cũng có nhiều điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau.
Nhưng sự khác nhau này là cần thiết, một sự bổ sung cho nhau không thể
thiếu được, nếu thiếu sự khác nhau này chắc chắn diện mạo văn nghệ
Trung Quốc nói riêng và cả vùng Đông Á nói chung vốn đã rất cằn cỗi
càng trở nên cằn cỗi hơn. Chỉ ra được những nét khác biệt, bổ sung cho
nhau này là một công việc khó khăn, phức tạp. Lí do thì có nhiều, nhưng
một trong những lí do chính đó là do: trong khi tư tưởng văn nghệ của
Nho giáo đã được lí luận hoá, cụ thể hoá từ thời Khổng Tử và nó luôn
được các tín đồ của nó bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với từng thời kì-
mặc dù những nét cơ bản do Khổng Tử đề xuất vẫn được bảo lưu- thì tư
tưởng văn nghệ của Đạo gia và Phật giáo “tuy hàm chứa những tiềm năng
lớn về cảm quan mỹ học, nhưng lại chưa được lí luận hoá thành những
khái niệm thực thụ”

hương ảnh hưởng tự nhiên quan của Đạo gia), để chỉ ra con đương vay
mượn này ta phải đi làm rõ loại hình người ẩn dật của Nho gia và người
ẩn dật của Đạo gia. Như chúng ta đã biết, phương thức sống ẩn dật, là
phương thức ứng xử mà cả Nho giáo và Đạo gia đều có. Với Nho giáo, thì
đây là một trong hai phương thức ứng xử đã được hai nhà sáng lập “kinh
điển” của Nho giáo là Khổng Tử và Mạnh Tử đề xuất cho các môn đệ của
mình, nó được đưa ra xuất phát từ chính cuộc đời “bất đắc ý” của cả hai
người được các môn đồ tôn là Thánh nhân và Á thánh này. Các nhà Nho
hành đạo chân chính, với quan niệm “hữu vi” của Nho giáo, họ luôn quan
niệm phải có tinh thần “hữu trách” và họ tin vào “thiên phận” cao cả của
mình, trên thì khuyên vua: chăm chỉ vì dân vì nước, không ham mê dục
vọng, thực hiện đường lối cai trị Nhân Nghĩa… dưới thì khuyên nhân dân,
hướng Đạo cho nhân dân, để xây dựng một xã hội lí tưởng vua Nghiêu
Thuấn, dân Nghiêu Thuấn. Nhưng thực tế không diễn ra như nhà Nho
mong muốn, trong xã hội chuyên chế phương Đông, rất ít ông vua nếu
không muốn nói là không một ông vua nào thoả mãn được các yêu cầu mà
nhà Nho mong ước, trong lịch sử “nhan nhản “hôn quân bạo chúa”- sản
phẩm tất yếu của chế độ độc tài cực quyền”
(1)
. Không những thế, bộ phận
nhà Nho chân chính, những người luôn có tinh thần “nhân sinh chí
đạo”(hết lòng vì đạo) thì hạn chế, phần lớn nhà Nho là những kẻ ham
công danh, phú quý, tranh giành quyền lực. Thực tế xã hội phương Đông
luôn làm nhà Nho rơi vào mâu thuẫn giữa lí tưởng và hiện thực. Khi rơi
vào mâu thuẫn đó, nhà Nho chọn cuộc sống ẩn dật- đây là phương thức
ứng xử mà Không Tử và Mạnh Tử đã đề xuất như đã nói ở trên. Khổng Tử
viết “nước đang nguy thì không nhập, nước đang loạn thì chớ ở, Thiên hạ
có Đạo thì hãy xuất hiện, không có Đạo thì hãy tránh đi....”, hay: “dụng
tắc hành, sả tắc tàng”. Mạnh Tử thì viết: “cùng, tắc độc thiện kì thân; đạt
tắc kiêm thiên hạ”…

sự vay mượn này G Trần Đình Hượu khái quát: “xuất hay xử là lí thuyết
của Nho giáo, nhưng với người ẩn dật, lí luận Nho giáo không cung cấp
đủ thức ăn tinh thần. Nho giáo không cho họ triết lí để sống cô độc, không
cho thấy cái đẹp của thiên nhiên để vui thú, nhìn ra cái vô cùng của cuộc
sống để xa lánh, thây kệ yên tâm hưởng cảnh thanh nhàn. Những người ẩn
dật thường tìm chỗ thiếu hụt đó ở Trang Tử”
(2)
, đó là con đường đi “từ
Nho sang Trang”, là quá trình nhà Nho ẩn dật trở thành “chung huyết
thống với Nho gia”. Điều này đã làm cho việc phân định người nào là ẩn
sĩ của Nho giáo, người nào là ẩn sĩ của Đạo gia trở nên khó khăn và phức
tạp. Trên thực tế, việc xác định tiêu chí để phân loại một cách rành mạch
người ẩn dật của Nho giáo và người ẩn dật của Đạo gia là không thể, bởi
nhà Nho ẩn dật có xu hướng vay mượn tư tưởng Lão- Trang, làm cho họ
“không phải Nho thuần tuý mà cũng không phải Trang thuần tuý. Thường
thường họ là loại văn nhân gần với “Đương- Tống bất đại gia” (tám tác
giả lớn đời Đường- Tống) hơn là một nhà tư tưởng, một học giả…kiểu
như Đổng Trọng Thư, Chu Hy hay Trang Chu”
(1)
. Nhưng vì, nhà Nho ẩn
(1)
Trần Đình Hượu. Các b i già ảng về tư tưởng phương Đông (Lại Nguyên Ân biên soạn), NXb Đại học Quốc
gia, H, 2002, tr. 156.
(2)
Trần Đình Hượu, Nho giáo v và ăn học Việt Nam trung cận đại, NXB Giáo dục, H, 1999, tr. 222.
(1)
Trần Đình Hượu, Mấy ý kiến b n và ề nghiên cứu Nho giáo . Tạp chí “Nghiên cứư văn học nghệ thuật”,
1984.
dật vay mượn tư tưởng Lão- Trang (triết lí sống cô độc, nhìn ra vẻ đẹp
của tự nhiên để vui thú…), nên việc so sánh tự nhiên quan của Nho giáo

Những trích dẫn về Kinh Dịch trong b i vià ết chúng tôi đều dẫn theo sách Chu Dịch v mà ĩ học của Lưu
Cương Kỉ – Phạm Minh Hoa (Ho ng Và ăn Lâu dịch), NXB Văn hoá - Thông tin, H, 2002.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status